Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2020

Chứng Đặng
Không riêng gì ông Phan Khôi phần nhiều những nhà trí thức nước Việt cũng nhận cùng số phận .như nhân tài lỗi lạc Nguyễn mạnh Tường hai bằng tiến sỉ lúc 23 tuổi của ĐH Pháp,Trần Đức Thảo triết gia và biết bao nhân tài miền Bắc không đi cư vào nam.Vì muốn độc lập nên các cụ nghĩ rằng tàu cộng sẻ giúp mình không ngờ chúng lợi dụng lòng yêu nước để triệt hạ những nhân tài đất Việt.
SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN” !?
* MINH DIỆN *
Quan tài cha tôi đặt trên chiếc xe song mã màu đen. Đó là loại quan tài xấu nhất được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu. Sáu mảnh gỗ tạp, bào qua loa, vênh vẹo đóng đinh qua loa, không sơn phết,tấm thiên,tấm địa và bốn góc đều hở.Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm. Không nến, không hoa. Không có một vòng hoa, một bông hoa nào trong đám tang cha tôi. Ngoài con ngựa già kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan, còn lại là người trong gia đình. Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng cửa Đông. Người hàng phố đứng nhìn đám tang vội vã quay đi. Không ai dám tới dự và đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ đều sợ liên lụy . Lúc cha tôi còn sống họ sợ đã đành, giờ cha tôi đã chết mà họ vẫn sợ.
Chiều mùa Đông gió mưa hun hút, lạnh tê tái. Chiếc xe ngựa mầu đem và một dúm người mẩu đen vón vào nhau líu rứu ra hướng cửa Đông. Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối. Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy. Tôi nhớ những ngày mới về tiếp quản Thủ Đô, cha tôi thường dẫn chúng tôi đi thăm năm cửa ô và ba sáu phố phường Hà Nội, kể cho chúng tôi nghe về cụ ngoại tôi, Tổng đốc Hoàng Diệu..Ông Phan An vừa lom khom chậm rãi bước đi trong con hẻm phố Thuốc Bắc (Hà Nội) vừa kể về đám tang của cha mình, nhà báo, nhà văn Phan Khôi. Ông cứ nhắc đi nhắc lại, giọng nói như nấc lên:
- Không có đám tang nào ảm đạm như đám tang cha tôi! Không có đám tang nào buồn thảm, thê lương như đám tang cha tôi! Một lần nữa Phan An lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, tìm về căn nhà số 73 hẻm phố này, nơi cha ông đã sống những ngày cuối cùng. Ông tìm về quá khứ, tìm về nỗi đau xót mà gần hết cuộc đời vẫn chưa thể nguôi ngoai được.
Cụ Phan Khôi sinh ngày 6-10-1887 tức 20-8 năm Đinh Hợi, ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Ông nội cụ là Phan Nhu, thân phụ là Phan Trần đều là bậc trí thức nổi tiếng. Mẹ cụ là Hoàng Thị Lê con gái của Tổng đốc Hà Nội, Hoàng Diệu, người đã chỉ huy quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Khi Hà Thành thất thủ, ông tự vẫn ở Võ Miếu ngày 25-4-1882 ,quyết không để rơi vào tay giặc . Chú ruột Phan Khôi là Phan Dinh cha của nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi, tức Huỳnh Hữu Nam ,nguyên Bộ trưởng bộ nội vụ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phan Khôi có người em gái là mẹ vợ cùa nhà văn Vũ Ngọc Phan và tướng Nguyễn Sơn. Với một gia thế như vậy nên Phan Khôi được học hành tử tế, và với bản chất thông minh nên cụ là một người đa tài, và với tài năng vượt trội , cụ là một người mạnh mẽ, bộc trực không chịu cúi luồn. Người thày đầu tiên của Phan Khôi là Trần Qúy Cáp. Chính con người thông minh lỗi lạc, ý chí kiên cường nhất huyện Điện Bàn này đã truyền cho Phan Khôi tri thức và lòng yêu nước nồng nàn. Năm 1906, mười chín tuổi, Phan Khôi tốt nghiệp tú tài, và hai năm sau, 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình. “Lòng căm thù như ngọn lửa đốt cháy trái tim” Phan Khôi quyết nối bước thày, tham gia phong trào Duy Tân,theo các cụ Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng chống thực dân Pháp.Ông bị bắt giam gần một năm rồi được tha. Ông quyết định dùng ngòi bút và nghề báo đề chiến đấu. Phan Khôi kiến thức uyên bác, hiểu biết vô cùng phong phú, tầm hoạt động rộng lớn, đa phương trong sự biến thiên của lịch sử . Chưa ai có thể tổng kết được thân thế sự nghiệp Phan Khôi, nhưng theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, thì : “ Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí, nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề : phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn để của xã hội Trung quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt , một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học .Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất
và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ, ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX ,nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng...ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho trí thức!” Phan Khôi là một trong những nạn nhân của của “ Cuộc đấu tranh chống Nhân Văn- Giai Phẩm” bắt đầu từ năm 1957. Tuy ông không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông đày đọa khổ sở còn hơn tù. Ngày 16-1-1959, ông đã ra đi vĩnh viễn thoát khỏi sự đọa đày đó. Năm 2004, trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Người Hà Nội, lần lượt đăng bài phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh. Theo những bài báo đó, năm 1997, tại 76 Phan Đình Phùng ,một trong những biệt thự đẹp nhất Hà Nội, của Pháp để lại , trị giá 7 triệu đô la nhà nước cấp cho Tố Hữu, ông đã ca ngợi hết lời nhóm “Nhân Văn- Giai Phẩm, trong đó có Phan Khôi. Ông nói : “ Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phan Khôi , Trần Dần, Lê Đạt là những trí thức lớn, những cây bút hạng nặng trong đội ngũ trí thức cách mạng!”
Không biết Tố Hữu có nói như vậy thật không? Nghe nói khi đã rời quyền lực ông đã sám hối. Nhưng bà Vũ Thị Thanh, nguyên phó ban tuyên huấn trung ương , phu nhân nhà thơ Tố Hữu thì phủ nhận chuyện đó. Nếu đúng thì nó hoàn toàn mâu thuẫn với bốn mươi năm trước, kể từ 1977 , khi Tố Hữu còn trẻ, nắm trọng trách công tác tư tưởng, văn hóa,văn nghệ của đảng . Ngày ấy ông đã “làm bao nhiêu số phận, bao nhiêu cuộc đời bị rạn vỡ, bị lưu đày”(Phùng Cung). Lời Tố Hữu kết tội Trần Đức Thảo, Phan Khôi và nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” sau đây là sự thực, dẫu ma quỷ cũng không thề chối. Tố Hữu đã viết : “ Lật bộ áo “Nhân Văn –Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám , lưu manh ,Trotkit, địa chủ, tư sản ... quần tụ trong những tổ quỷ với gái điếm, bàn đèn, sách báo phản động, đồi trụy và phim ảnh khiêu dâm...” (Qua cuộc đấu tranh chống nhóm “Nhân Văn-Giai Phâm”, tác giả Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, trang 9) Và : “ Trong cái công ty phản động “ Nhân Văn- Giai Phẩm” ấy, thật sự đủ mặt các loại “biệt tính” ,từ bọn Phan Khôi,Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An; từ bọn Trotkit Trương Tửu , Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ, tư sản phản động cố giữ lập trường của giai cấp mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!” (Trang 17sđd)
Theo chỉ đạo của “Anh Lành” bọn cơ hội nhao vào đánh hội đồng nhóm “Nhân Văn- Giai Phẩm” nói chung, Phan Khôi nói riêng. Phê phán tác phẩm văn học, báo chí chán quay suy diễn, bịa đặt ra đủ thứ chuyện, chà đạp lên cả hương hồn cha mẹ, tổ tiên người ta. Có những việc đổi trắng, thay đen, khi sự thật lịch sử vẫn còn đang sờ sờ trước mắt. Phan Khôi với truyền thống yêu nước cùa gia đình,đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, từng bị bắt đi tù mà bảo ông làm mật thám cho Pháp thì trời đất nào chứng? Ông viết hàng ngàn bài báo phê phán chế độ cũ, cổ vũ sự cách tân, bao nhiêu ruộng vườn quê nhà ông hiến hết cho cách mạng, mà bảo ông cố giữ lập trường giai cấp địa chủ , tư sản ?
Sau cách mạng tháng 8-1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ. Phan Khôi đã mang cả gia đình theo cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, nằm gai nếm mật tham gia kháng chiến suốt mười năm trời. Thế mà khi ông tham gia phong trào “Nhân văn – Giai phẩm” , bị Tố Hữu quy là mật thám thì, nhà văn Nguyễn Công Hoan hùa theo, xuyên tạc rằng Phan Khôi cầm đầu tổ chức Việt Nam quốc dân đảng chống phá cách mạng ở Quảng Nam. Nhà văn đáng kính này viết : “ Hắn phụ trách chi bộ Việt Nam quốc dân đảng Quảng Nam chống phá cách mạng điên cuồng. Sau đó hắn bèn ra Hà Nội họp với Trung ương đảng bộ Việt Nam quốc dân đảng của hắn, để đề nghị một chương trình chống chính phủ!”
Nguyễn Công Hoan luôn dùng từ “hắn” để phỉ báng , mạt sát Phan Khôi : “ Hắn xin vào yết kiến cụ
Huỳnh Thúc Kháng lúc đó là Bộ trưởng nội vụ nhưng cụ không tiếp!”. Năm 1957, Phan Khôi thọ 70 tuổi, Nguyễn Công Hoan làm bài thơ “mừng” (!) người bạn văn chương như sau:
Nhà báo Phan Khôi khốn kiếp ơi!
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai,
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!
Tiết thào! Tiên sư cái mẽ ngoài!
Lô-gich trước cam làm kiếp chó,
Nhân văn nay lại hít gì voi!
Sống dai thêm tuồi cho thêm nhục!
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai!
Có thể nào ngờ đó là thơ của tác giả “Bước đường cùng” và “ Kép Tư Bền”? Qủa thật công tác tư tưởng của ông Trường Chinh và công tác tuyên huấn của ôngTố Hữu quá tài tình! Họ đã biến nhà nho Nguyễn Công Hoan thành một kẻ bỗ bã đểu cáng đáng khinh bỉ. Mà đâu chỉ một mình Nguyễn Công Hoan? Đào Vũ, Tế Hanh, Chế Lan đều như vậy. Phan Khôi hai đời vợ, bà trước tám người con bỏ mất một còn 7, bà sau được 3, tổng cộng 10 người con. Ông có bài thơ tức cảnh gia đình mình như sau:
Hai nhà cộng lại có mười con
Năm gái năm trai nhắm cũng tròn
Gả, cưới tạm yên nguyền một nửa
Sữa răng riêng mũi máu ba hòn
Tự trào thôi hẳn còn chia rẽ
Nhân cách vẫn mong được vẹn tròn
Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
Tên này ghi cái nhục sông non
Năm 1956 sang Trung Quốc dự kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn cùng với Tế Hanh, Phan Khôi đọc cho Tế Hanh nghe, và nói: “Tôi đặt tên thằng này là Lang Sa, để nhớ cái hận thực dân Pháp!”. Mà ngay trong bài thơ tác giả đã nói rõ ý đó rồi còn gì. Vậy hai năm sau, khi Phan Khôi bị đánh thì Tế Hanh bịa ra chuyện thế này: “Trong chuyến đi Trung Quốc, Phan Khôi nói với tôi, thằng này sinh ngày 9-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật đổ Pháp biết tay. Pháp sẽ trở lại cho coi”. Và Tế Hanh kết tội Phan Khôi: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi mới mong Pháp quay trở lại!”. Chế Lan Viên thì có lần chỉ thẳng tay vào mặt
Phan Khôi quát: “Đừng cậy già mà láo!”. Còn Đoàn Giỏi thì vu cho Phan Khôi nói xấu đảng, Bác Hồ vì gọi cây cứt lợn là cây “cộng sản”!
Sự xuyên tạc, vu khống, nhục mạ được cất lên từ miệng những người được coi là hiền lành tử tế như thế mới kinh khủng làm sao. Ông Phan Lang Sa tâm sự: “Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe , phải đọc những lời nhục mạ vu khống cha mình!” Không chịu nổi , Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phài đổi tên thành Phan An. “Xin cầu lấy sự bình an!” Cụ Phan Khôi bị đuổi khỏi ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo nơi cụ ở từ năm 1955. Đuổi,tôi dùng đúng nghĩa đen. Trần Duy kể: Một hôm tôi 51 Trần Hưng Đạo thì gặp một quan chức có quyền lực chỉ vào Phan Khôi
quát:
- Tống cổ thằng già này ra khỏi đây!
Phan Khôi lảo đảo bước ra cổng. Vợ ông, bà Huệ ôm chăn mền , sách vở. Gặp tôi ông Phan Khôi bảo :
- Thôi, anh về đi. Buồn không cần thiết!”
Gia đình Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo , phải dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền. Rồi lại bị đuổi, phải dọn tới 73 phố Thuốc Bắc. Bà Bích Thủy , con gái nhà thơ Yến Lan, tả chỗ ở mới cùa gia đình cụ Phan Khôi như sau : “Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kế vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng.Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng 9 m2, bằng 3/4 căn nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một hẻm nhỏ , to bằng cái bàn cờ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ”
Căn nhà cụ Phan Khôi vắng lặng , xét nét , xa lạ không ai lui tới vì cụ bị coi là cầm đầu nhóm Nhân
văn- Giai phẩm. Cụ vốn gầy yếu, bị hành hạ sức khỏe càng suy sụp. Nhiều lần cụ xin đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy cho đi khám đành phải chịu. Cụ thường ôm ngực ho từng cơn, và chống gậy ra giếng nước công cộng rửa chân lúc xế chiều. Rồi cái buổi chiều mùa đông rét mướt 16-1-1959 đó, người chung nhà không nhìn thấy cụ Phan Khôi. Đó là lúc cụ nằm úp mặt vào tường, ho cơn ho cuối cùng, thổ những giọt máu tươi ra quyển sách đang đọc dở trên tay. Chiếc xe ngựa chở chiếc quan tài phủ bạt lăn bánh nghiêng ngả ra nghĩa địa Hợp Thiện phía Đông Hà Nội. Đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng chỉ có vợ con cụ và nhà thơ Yến Lan tác giả “ Bến Mi Lăng”. Bà Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan kể lại:
“Sáng hôm sau nghe người ta nói, có thằng cha nhà thơ
nào đó dám cả gan đưa đám Phan Khôi. Ba tôi bảo đó là đạo lý của người Việt, nghĩa tử là nghĩa tận!”. Một nấm mồ nông vùi người con Quảng Nam nơi đất Bắc, trên đơn sơ một mảnh ván viết hai chữ Chương Dân.Năm tháng qua đi nấm mộ ấy chìm trong cỏ dại và xương cốt cụ Phan Khôi phiêu bạt nơi nào không biết nữa. Vừa qua con cháu cụ đành gói một nắm đất về đặt trong lòng ngôi “mộ gió” ở quê nhà. Hơn nửa thế kỷ qua,bây giờ người ta đã nhìn nhận, đánh giá một cách công bằng, trả lại danh dự cho những trí thức, nhà văn, nhà thơ trong phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Hầu hết những nhà văn, nhà thơ, và trí
thức trong nhóm Nhân văn –Giai phẩm đã được nhận giải thưởng, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hảo, là để tạ
lỗi. Nhưng cụ Phan Khôi vẫn bị lãng quên. Tôi không hiểu đàng sau đó có những lý do gì, mà đồng hương xứ Quàng (ông Tế hanh ở Quảng Ngãi), cùng tập kết ra Bắc, nhưng "Nhớ con sông quê hương" đến mức nào, nhớ kiểu gì, mà lại cố tình nói điêu, 'nâng quan điểm', ám hại ông Phan Khôi (Quáng Nam) 'báo cáo cấp trên' quy chụp, bịa chuyện: "Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi...". Nay, người ta thương tiếc, cảm phục Phan Khôi, ít ai nhắc tới Tế Hanh! Với thân thế và sự nghiệp của cụ, với những tác phẩm báo chí và văn học đã tái xuất bản trong những năm gần đấy, cụ xứng đáng nhận giải thưởng hơn rất xã hội minh bạch đã ghi nhận.
M.D

Bình luận
Viết bình luận...

Sáng kiến mùa Covid Vũ Hán .
CUOI.TUOITRE.VN|BỞI TUỔI TRẺ CƯỜI
Trong cái khó lại ló cái... hay mọi người ạ! Và đám cưới mùa Covid cũng chẳng thể nào là trường hợp ngoại lệ - vẫn tìm ra hướng giải quyết dẫu lệnh giãn cách xã hội đã bắt đầu được áp dụng.
Có nhiều thứ chứ không phải 2 thứ.
-3:12
51.469 lượt xem
Mai Vũ
🌻Có 2 thứ bạn nên tiết kiệm, đó chính là sức khỏe và lời hứa.
🌻Có 2 thứ bạn phải cho đi, đó là tri thức và lòng tốt.
🌻Có 2 thứ bạn phải thay đổi, đó là bản thân và nhận thức.
🌻Có 2 thứ bạn phải luôn gìn giữ, đó là niềm tin và nhân cách.
🌻Có 2 thứ bạn phải trân trọng, đó là gia đình và hiện tại.
🌻Có 2 thứ bạn phải tự mình thực hiện, đó là lao động và chịu trách nhiệm với việc mình làm.
🌻Có 2 thứ bạn phải lãng quên, đó là đau thương và hận thù.
🌻 Có 2 thứ bạn phải khắc ghi, là công ơn Mẹ Cha và sự giúp đỡ của người khác.
🌻Có 2 thứ bạn buộc phải có để là một người thành công, đó là đam mê và lòng kiên trì.
🌻Có 2 thứ bạn không được làm, đó chính là hãm hại người khác và phản bội lòng tin.
🌻Có 2 thứ bạn phải bảo vệ, đó là danh tín và lẽ phải.
🌻Có 2 thứ bạn phải biết chấp nhận,là cái chết và sự khác biệt.
🌻Có 2 thứ bạn phải kiểm soát chặt chẽ, đó là bản năng và cảm xúc.
🌻Có 2 thứ bạn phải tránh thật xa, đó là cám dỗ và sự ích kỷ.
🌻Có 2 thứ bạn luôn phải sử dụng mà đừng hà tiện, ki bo là tiền bạc và kinh nghiệm.
🌻Có 2 thứ bạn không được sợ sệt, đó chính là cái ác và sống thật.
🌻Có 2 thứ bạn luôn phải nuôi dưỡng, là tình yêu và sự bao dung.
🌻Có 2 thứ mà bạn cần phải đạt được trong cuộc sống, đó là sự thành đạt và hạnh phúc.
🌻Có 2 thứ bạn phải luôn luôn sẵn sàng, đó là khó khăn và ngày mai.
Bài giảng của cha Phạm Quang Hồng
THEO BẠN:
Những nước nào bị Tàu + đã đánh bả?
Những nước bị Tàu + đánh bả nay đã tỉnh?
Những nước tự đến Tàu + xin bả để ăn?
Những nước Tàu cộng không thể đánh bả?
Tôi xin điền tên trước và còn tiếp tục bổ xung. Cụ thể như sau:
1/ Mỹ bị đánh bả khoảng hai chục năm, nay đã tỉnh.
2/ Pháp bị đánh bả, nay hơi tỉnh
3/ Anh bị đánh bả nay đã tỉnh.
4/ Đức bị đánh bả, nay chưa tỉnh.
5/ Ý bị đánh bả, nay hơi tỉnh.
6/ Hà Lan bị đánh bả, nay hơi tỉnh
7/ Ba Lan bị đánh bả, nay hơi tỉnh
8/ Canada bị đánh bả, nay đã tỉnh
9/ Úc bị đánh bả, nay đã tỉnh.
10/ New Zi land bị đánh bả, nay đã tỉnh
11/ Iran bị đánh bả, nay còn mê man.
12/ Sri lanka bị đánh bả cực nặng, vẫn còn mê man.
13/ Cambodia bị đánh bả nặng ở nhiều thời kỳ khác nhau.
14/ Lào bị đánh bả. Nhiều làng Tàu + đã mọc lên ở xứ Triệu voi.
15/ Bắc Hàn bị đánh bả nặng. Nằm gọn trong rọ của khựa.
16/ Tàu + đánh bả được hàng loạt nước ở châu Phi.
17/ Venezuela bị đánh bả.
18/ Pakistan bị bả nặng.
19/ Srilanka bị bả nặng.
20/ Nepal bị bả nặng.
21/ Myanmar bị bả đã hơi tỉnh.
22/ VN tự đến xin bả ăn và phấn khởi chui vào rọ của Tàu +. Tự cho đây là hành động rất khôn ngoan.
23/ Tàu + không thể đánh bả được Nhật, Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc...
Mời các bạn am hiểu tình hình quốc tế điền tiếp các danh sách cụ thể.
Còn tiếp
1.8.20-NBD
Di tích Quốc gia Đình Bình Mỹ (31)
Đình thần Bình Mỹ nằm cạnh rạch Hóa Cù, thuộc ấp Bình Trung, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Ngôi đình được công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2000 và trở thành Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2015.
Theo tài liệu của Ban Quý tế đình Bình Mỹ ghi lại, thôn Long Mỹ và ngôi đình ra đời năm 1786. Ðến năm 1816, thôn Long Mỹ tách thành hai thôn Bình Long và Bình Mỹ, đình được xây dựng lại và đặt tên là đình Bình Mỹ. Chi tiết này không chính xác.
Nếu tính theo địa bàn Châu Phú ngày nay, thời Gia Long ở vùng đất này có ba thôn là Bình Thạnh Tây, Bình Trung, Bình Lâm. Ðến thời Minh Mạng, thôn Bình Thạnh Tây trở thành Vĩnh Thạnh Trung, Bình Trung trở thành Bình Mỹ và có thêm thôn mới là Mỹ Ðức. Ðịa danh Bình Long xuất hiện từ khoảng năm 1876, vậy không hề có thôn Long Mỹ như tài liệu của Ban Quý tế Ðình Bình Mỹ đã lưu truyền.
Ngôi đình Bình Mỹ như kiến trúc hiện nay được xây dựng vào năm 1890, đến năm 1928 được trùng tu lại theo mẫu kiến trúc của đình Châu Phú (TP. Châu Ðốc). Nóc đình dạng cổ lầu gồm bốn bộ chính và sáu bộ phụ, mái tam cấp lợp ngói ống, trang trí nhiều hình tượng bát tiên, linh thú, hoa văn… Mặt tiền trang nhã với các đường cong mềm mại của dạng cửa vòm, nền vàng viền chỉ trắng, xen lẫn liễn đối và hoa văn trang trí.
Ngôi đình Bình Mỹ như kiến trúc hiện nay được xây dựng vào năm 1890, đến năm 1928 được trùng tu lại theo mẫu kiến trúc của đình Châu Phú (TP. Châu Ðốc).
Nội thất đình kết cấu bởi cột gỗ tròn làm từ danh mộc. Chánh điện được trang trí nổi bật bởi các hoành phi, liễn đối chạm khắc cầu kỳ, sơn son thếp vàng sống động. Về bày trí thờ tự, đi từ ngoài vào có hai bàn thờ đối xứng hai bên là Hữu văn ban và Tả võ bá, khoảng giữa là bàn thờ Hội đồng, trên cao nhất phía trong cùng là bàn thờ Thành hoàng Bổn Cảnh, thờ vọng chân dung Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Hai cặp vách là hai dãy bàn thờ đối xứng gồm: Tả ban - Hữu ban, Tiền hiền - Hậu hiền, Tiền cố hương lão - Chúa xứ sơn quân.
Ðình tổ chức Lễ Kỳ Yên ngày 18-19-20 tháng 4 Âm lịch, Lễ Lạp Miếu ngày 19-20 tháng 12 Âm lịch. Ðình có Sắc phong cho Thành hoàng Bổn cảnh vào năm Khải Ðịnh thứ 9 (1924) với nội dung:
“Sắc Châu Ðốc tỉnh, An Lương tổng, Bình Mỹ thôn phụng sự Bổn cảnh Thành hoàng tôn thần hộ quốc tý dân. Nẫm trứ linh ứng, tứ kim chánh trực, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bửu chiếu đàm ân lễ long đăng trật trứ phong vi Ðôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Chuẩn kỳ phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai! Khải Ðịnh cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhựt”.
Dịch nghĩa:
“Sắc cho thôn Bình Mỹ, tổng An Lương, tỉnh Châu Ðốc, được thờ phụng vị thần sở tại đã từng giữ nước giúp dân. Xưa từng linh ứng, nay nhân dịp Trẫm tứ tuần đại khánh, ban chiếu báo mở rộng ân đức, phong là Ðôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Cho phép thờ phụng để thần che chở dân ta. Kính nghe! Khải Ðịnh năm thứ chín ngày hai mươi lăm tháng bảy.”
31720-st

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

TẦU CỘNG ÂM THẦM ĐẨY MẠNH CUỘC CHIẾN SINH HỌC TẠI CÁC NƯỚC THÙ ĐỊCH
ở quê hương Cách mạng
Lộc Trần

THÁO ĐINH ỐC ĐƯỜNG RAY XE LỬA BÁN LẤY TIỀN CHƠI GAME
Ngày 30/7, Trần Đình Thắng và Hoàng Duy Thành cùng 23 tuổi bị công an huyện Nghi Lộc, Nghệ An tạm giữ hình sự về hành vi Trộm cắp tài sản.
Qua hồ sơ cơ quan công an, để có tiền chơi game, Thành và Thắng rủ nhau đi trộm. Từ ngày 25 đến 27/7, bộ đôi tới đường sắt Bắc - Nam đoạn qua huyện Nghi Lộc vào lúc trời sẩm tối dùng mỏ lết tháo hơn 80 bộ thiết bị đường sắt như đinh ốc, bu lông... kết nối giữa đường ray với tà vẹt, đem bán được 500.000đ, để tiếp tục có tiền chơi game.
Dương Đình Tường đến VIỆT NAM NGÀY NAY
NGÔI NHÀ CÓ 9 CẶP VỢ CHỒNG SINH SỐNG
Phóng sự của Thái Sinh
Gia đình ấy có 46 người, mỗi tháng ăn hết gần 1 tấn gạo, mổ con lợn 25-30 kg cũng chỉ đủ ăn một bữa. Ngày Tết phải mổ 5-6 con lợn, mỗi con 80-90kg mới đủ ăn. Ngôi nhà giống như tổ ong òa ra mỗi sớm, thế nhưng cả 9 cặp vợ chồng đều răm rắp tuân theo sự phân công của vợ chồng người anh cả.
Chế Cu Nha, tiếng Mông nghĩa là bản nhà cháy. Trên bản Trống Tông của xã Chế Cu Nha có một ngôi nhà có 9 cặp vợ chồng cùng chung sống, với 46 con người, gồm ông bà, con cái và cháu chắt. Mỗi Tết họ phải mổ 5-6 con lợn từ 90kg trở lên. Người ta gọi đó là ngôi nhà tổ ong…
I. Bản Trống Tông nằm trên cao, giữa lưng trời chỉ khi trời nắng to mới nhìn thấy bản, thường thì bản ẩn khuất giữa bạt ngàn mây trắng và rừng cây. Tôi hỏi Vàng A Lử- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mù Cang Chải về ngôi nhà “tổ ong” đó, anh bảo tôi: Tôi có biết nhà cụ Hờ Vàng Phử, đúng là nhà cụ rất đông con cháu cùng ở trong một ngôi nhà, nhưng không dám chắc nhà có 46 hay 48 người, nếu anh muốn đến thăm thì đi ngay tối nay, đường không xa lắm đâu chỉ dăm sáu con dao quăng thôi, ban ngày đến chẳng gặp mấy ai ở nhà, vì họ đều đi làm cả.
Thế là tôi cùng Vàng A Lử leo lên bản Trống Tông. Nhà cụ Phử ở tít trên cao, theo tay Lử chỉ thì ngôi nhà của cụ khuất sau lùm cây xanh thẫm bên cạnh là vô vàn những ngôi sao chi chít. Tiếng Mông, Trống Tông có nghĩa là bản có nhiều gỗ. Ngày xưa ở Mù Cang Chải rừng nhiều lắm, bản Trống Tông nơi có rừng cây rất lớn, nhiều cây to dăm sáu người ôm mới kín gốc. Nhưng do tệ đốt phá rừng làm nương rẫy, năm này qua năm khác, mùa khô rừng cháy liên miên khiến cho hàng ngàn ha rừng ở đây biến khỏi mặt đất. Đường càng lên cao dốc lại thêm dựng, tôi phải chống gậy và bám vào cây hai bên đường, thế nhưng đi một lúc lại phải nghỉ, thỉnh thoảng lại hỏi: Sắp đến chưa Lử ơi, Lử bảo: Còn một con dao quăng nữa…Chợt Lử reo lên: Nhà cụ Hờ Vàng Phử đây rồi.
Bước qua cánh cửa vừa hé, tôi đã nhìn thấy có khoảng hơn chục người đang ngồi quanh đống lửa vừa tước lanh vừa xem tivi, ở trên núi quanh năm đốt lửa, mặc dù đang là giữa mùa hè. Cụ Hờ Vàng Phử đang nằm trên chiếc giường kê cạnh bếp lửa nơi tiếp khách vội nhỏm dậy, cụ gật đầu chào chúng tôi rồi vớ chiếc điếu làm một mồi thuốc. Người con trai thứ 5 là Hờ Chờ Mang năm nay 45 tuổi đang đóng thùng làm tổ ong kéo ghế mời chúng tôi ngồi, anh là người nói tiếng Kinh sõi nhất lên đứng ra làm...phiên dịch. Anh bảo: Bố mình già quá không nhớ năm nay bao nhiêu tuổi đâu, tám mươi sáu rồi á? Tôi nhìn cụ tóc đã rụng lên đến đỉnh đầu, chỉ còn một lọn tóc nhỏ phía sau gáy, các sợi cũng mảnh như tơ chuối được bện lại vòng qua trán. Răng đã rụng gần hết nên đôi má hóp lại, da nhăn nheo tựa vỏ thông, đôi mắt đục mờ như phủ một lớp khói sương.
II. Cụ bà Lý Thị Dinh đang nằm trong căn buồng gần bếp lò nghe tiếng người lạ cũng trở dậy ra ngồi cạnh bếp lửa, thân hình cụ nhỏ thó, gương mặt nhàu nát vì muôn ngàn nếp nhăn, lưng gù xuống bởi gần tám mươi năm qua cụ đã thồ không biết bao nhiêu ngô lúa, sắn, khoai…và đôi bàn chân cụ đạp mòn bao nhiêu đỉnh núi. Hai cụ sinh được 7 người con trai, người con trai thứ hai tên là Hờ A Chư đi bộ đội năm 1971 đến năm 1972 thì hy sinh, năm 1973 gia đình nhận được giấy báo tử. Nghe nhắc đến tên Hờ A Chư cụ Lý Thị Dinh chớp chớp đôi mắt đục như nước vo gạo nhìn tôi, cụ nói câu gì đó tôi không hiểu nổi, Hờ Chờ Mang vội vào buồng lấy ra chiếc túi sách đen kịt khói bếp anh rút ra một tấm ảnh đen trắng to bằng cuốn sổ tay đưa cho mẹ, trong ảnh là một người lính đầu đội mũ lưỡi trai một tay đặt lên nòng khẩu AK mắt nhìn thẳng.
Cụ Dinh rờ bàn tay khô như cành củi lên mặt người con trai trong ảnh hỏi tôi: Cán bộ có biết thằng này nằm ở đâu không? Tôi lắc đầu, cụ thở dài nhìn lũ cháu con một lượt. Tôi đoán cụ muốn bảo tôi: Nếu Hờ A Chư còn sống nó lấy vợ sẽ về đây ở cùng trong ngôi nhà này. Trong 7 người con trai của vợ chồng cụ Hờ Vàng Phử, Hờ A Chư đi bộ đội đã hy sinh, người con trai cả là Hờ Seo Páo lấy vợ đã ở riêng còn lại 5 người con trai sau khi lấy vợ đều ở lại trong ngôi nhà của bố mẹ. Ba đứa cháu trai là Hờ A Hú, Hờ A Dình con của Hờ Nhà Dì và Hờ A Câu con của Hờ Chờ Mang đều đã lấy vợ, mỗi cặp vợ chồng cháu đều sinh được 2 chắt. Như vậy bây giờ trong nhà của cụ Phử có 9 cặp vợ chồng với 46 nhân khẩu. Năm ngoái 3 đứa cháu gái của cụ đã đi lấy chồng, chứ không gia đình cụ bây giờ đã là 49 người.
III. Ngôi nhà chẳng khác gì cái tổ ong, mỗi cặp vợ chồng có một gian buồng nhỏ, chiều rộng chừng 2m, một dãy buồng liền tù tỳ kể từ buồng của vợ chồng cụ Hờ Vàng Phử từ chỗ bếp lò đến chỗ bếp tiếp khách. Cửa buồng rộng hơn hai gang tay đủ để một người đi lọt, tất cả các cánh cửa đều làm bằng ván thông khói bếp và mồ hôi làm cho đen nhánh. Ngôi nhà này gia đình cụ dựng năm 1995, trước đó dựng ba bốn cái rồi, nhưng bé quá người mỗi ngày một đông nên phải dựng to ra để ở. Ngôi nhà lịa ván và lợp mái đều bằng gỗ pơmu, có chiếc cột cụ Phử lấy từ khi mới lấy vợ, như chiếc cột cạnh lò nấu cám lợn kia đen nhánh và nhẵn như sừng, bởi hàng ngày cụ và các con cháu vịn vào đó để đảo cám. Mái nhà cũng vậy, lớp ngói phía dưới cụ chẻ từ cây pơmu cỡ hai người ôm, mỗi năm lợp vài chục tấm, rồi khi các con cháu cụ lớn lên chúng tiếp tục chẻ gỗ làm ngói lợp nhà. Ngôi nhà dài hun hút lúc nào cũng khói nghi ngút.
Đây là ngôi nhà chính, nơi thờ tổ tiên, Tết đến tất cả con cháu về ăn Tết. Cụ còn hai ngôi nhà nữa, một dựng ở bãi chăn trâu bò, một dựng ở ruộng, ngoài ra mỗi khu ruộng đều có một lều nương, ở đó cũng có mọi thứ như: Chăn màn, xoong nồi, bát đĩa…người ta có thể sống hàng tháng trời ở lều nương để làm ruộng, chăn nuôi lợn gà. Nhà cụ có một trại nuôi trâu bò riêng cách nhà khoảng gần hai giờ leo núi, trại có 35 con bò, 17 con trâu và một đàn lợn hơn 20 con, gà thì nhiều lắm không tính được.
IV. Hàng ngày, những người phụ nữ trong nhà đều dậy từ lúc 4 giờ sáng, người thì nấu cơm, người chẻ củi, người băm rau lợn, người sàng gạo, người tước lanh…tất cả đều lặng lẽ mỗi người một việc. Sau bữa cơm buổi sáng khi trời còn nhập nhoạng tối, Hờ Nhà Dì - người anh lớn tuổi nhất phân công cho từng cặp vợ chồng và các con cháu những công việc phải làm trong ngày. Đôi vợ chồng nào phải lên trại chăn thả đàn trâu bò, đôi nào phải đi kiếm củi, đôi nào làm ruộng, còn đôi nào ở nhà thì phải đánh thức lũ trẻ con dậy cho chúng ăn và nấu cám cho lợn gà… sau đó chuẩn bị bữa cơm tối. Từng đôi vợ chồng luân phiên nhau ở nhà luân phiên nhau ra ruộng lên nương. Vợ chồng cụ chẳng mấy khi ở nhà cũng ra đồng, lên nương làm với lũ con cháu.
Mỗi năm gia đình cụ Phử thu chừng 15 tấn lúa, 10 tấn ngô còn khoai sắn không kể. Đã hơn chục năm rồi nhà cụ Phử chưa phải đói, mặc dù mỗi ngày nấu 30- 35kg gạo. Không mấy khi nhà cụ đủ người, bởi lúc nào cũng có hai cặp vợ chồng ngủ ở 2 nhà nương, tuy thế bữa cơm hàng ngày cũng phải dọn 3-4 mâm, ngày Tết thì phải dọn 6 mâm mới đủ chỗ ngồi. Tôi hỏi Tết thì mổ mấy con lợn mới đủ ăn. Cụ cười móm mém, Mang dịch lại lời cụ: Năm nào cũng phải mổ 5- 6 con lợn, con bé thì chín mươi cân, con to thì tạ hai, tạ ba. Không tính đâu nhưng cũng phải hơn 5 tạ đấy. Thỉnh thoảng lại phải mổ một con lợn chừng 20-25kg mới đủ ăn một bữa.
Tết đến cụ phải bán đôi bò, tiền bán bò chia cho từng cặp vợ chồng để mua quần áo mới và giày dép cho lũ trẻ. Tất cả mọi chi tiêu lớn trong nhà vợ chồng cụ Phử giao cho Hờ Nhà Dì lo lắng và bàn với các em. Tôi hỏi cụ Phử: Cho đến bây giờ có đứa con cháu nào của cụ muốn ra ở riêng không? Mang dịch lại lời cụ: Rồi cũng phải cho các con cháu ra ở riêng thôi…Tôi nhìn cụ qua đống lửa đang rừng rực cháy, đã bao nhiêu năm nay cụ như một gốc cây lớn để lũ cháu con tựa vào. /.