Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2025

 Giải Nobel (425)

1/ MỸ 192; 2/ ĐỨC 70, 3/ ANH 61; 4/ PHÁP 43; 5/Thụy Điển 27; 6/ Thụy Sĩ 17; 7/ Áo 13; 8/ Hà Lan 12; 9/ Đan Mạch 12; 10/ Ý 11; 11/ Bỉ 10; 12/ Nga 12;13/ Na Uy 9; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 7. 16/ Ba Lan 7; 17/ Nhật Bản 8; 18/ Canada 8; 19/ Úc 5; 20/ Scotland 5; 21/ Argentina 4; 22/ Phần Lan 3; 23/ Ấn Độ 3; 24/ Ireland 3; 25/ NewZealand 2; 26/ Ucraine 1; 27/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 28/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 29/ Liên Xô 4; 30/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1; 31/ Chi lê 2; 32/ Nam Phi 5; 33/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 2; 34/ Iceland 1; 35/ Sec 1; 36/ Hy Lạp 2; 37/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;38/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;39/ Irael 1; 40/ Guatemala 1;41/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 42/ Xứ Wales 1. 43/ Việt Nam 1.44/ Rumani 1; 45/ Croatia 1; 46/ Nam Tư 1; 47/ Tổ chức Ân xá quốc tế 1. 48/ Ai Cập 2; 49/ Israel 3; 50/ Pakistan 1; 51/ Colombia 1; 52/ Mexico 1; 53/ Tiệp Khắc 1; 54/ Hiệp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân 1; 55/ Đài Loan 1; 56/ Nigieria 1; 57/ Costa Rica 1; 58/ Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc 1;59/ Trung Quốc 1; 60/ Mexico 1; 61/Myanmar 1; 62/ Saint Lucia 1; 63/ Guatemala 1; 64/ Palestine 1
Yitzhak Rabin
Yitzhak Rabin (/rəˈbiːn/; tiếng Hebrew: יִצְחָק רַבִּין, IPA: [jitsˈχak ʁaˈbin] ⓘ; 1 tháng 3 năm 1922 – 4 tháng 11 năm 1995) là một chính trị gia và tướng lĩnh Israel. Ông là Thủ tướng thứ năm của Israel, giữ chức vụ này trong hai nhiệm kỳ, 1974–1977 và 1992 tới khi ông bị ám sát năm 1995. Năm 1994, Rabin đã giành Giải Nobel Hoà bình cùng với Shimon Peres và Yasser Arafat. Ông bị Yigal Amir một người cấp tiến cánh hữu Israel, người phản đối việc Rabin ký kết Hiệp định Oslo, ám sát. Rabin là thủ tướng đầu tiên của Israel sinh ra tại nước này, là thủ tướng duy nhất bị ám sát và là người thứ hai chết khi đang tại chức sau Levi Eshkol.
Đời sống cá nhân
Rabin ra đời tại Jerusalem năm 1922 là con của Nehemiah và Rosa, hai nhà hoạt động hàng đầu của Aliyah thứ ba. Nehemiah Rubitzov, sinh ra trong một thị trấn nhỏ tại Ukraina năm 1886, mất cha khi còn là một đứa trẻ và đã làm việc để kiếm tiền cho gia đình từ khi còn rất trẻ. Khi 18 tuổi, ông di cư tới Hoa Kỳ, nơi ông gia nhập đảng Poale Zion và đổi họ thành Rabin. Năm 1917, Nehemiah tới Palestine Ủy trị Anh với một nhóm người tự nguyện thuộc Quân đoàn Do Thái. Mẹ của Yitzhak, Rosa Cohen, sinh năm 1890 tại Mohilev ở Belarus. Cha bà, một giáo sĩ Do Thái, phản đối phong trào Zion, nhưng đã gửi Rora tới một trường trung học Thiên chúa dành cho các cô gái tại Homel, cho phép bà có được trình độ giáo dục rộng hơn. Ngay từ đầu, Rosa đã quan tâm tới các lý tưởng chính trị và xã hội. Năm 1919, bà tới vùng này trên chiếc S.S. Ruslan, người đứng đầu Aliyah Thứ ba. Sau khi làm việc tại một kibbutz (khu định cư ở Israel) trên bờ Biển Galilee, bà tới Jerusalem.
Rabin lớn lên tại Tel Aviv, nơi gia đình họ tới sinh sống khi ông được một tuổi. Năm 1940, ông tốt nghiệp với bằng danh dự tại Trường Cao đẳng Nông nghiệp Kadoori và hy vọng sẽ trở thành một kỹ sư thủy lợi. Tuy nhiên, ngoài nhiều khoá chiến lược quân sự tại Anh Quốc sau này, ông không bao giờ theo đuổi một bằng cấp.
Rabin cưới Leah Rabin (tên khi sinh Schlossberg) trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948. Leah Rabin thời ấy đang là một phóng viên cho tờ Palmach newspaper. Họ có hai con, Dalia và Yuval. Rabin là người vô thần, với Dennis Ross bình luận rằng Ross không bao giờ gặp một người Do Thái thế tục hơn thế tại Israel.
Sự nghiệp quân sự
Palmach
Năm 1941, trong khi được huấn luyện thực tập tại kibbutz Ramat Yohanan, Rabin gia nhập nhánhPalmach của Haganah, dưới ảnh hưởng của Yigal Allon. Chiến dịch đầu tiên ông tham gia là hỗ trợ cuộc xâm lược Liban của Đồng Minh, khi ấy do các lực lượng Vichy Pháp kiểm soát (cũng trong chiến dịch này Moshe Dayan mất một mắt) vào tháng 6 tháng 7 năm 1941. Sau khi chiến tranh chấm dứt mối quan hệ giữa Palmach và chính quyền Anh trở nên căng thẳng, đặc biệt với sự đối xử với cuộc di cư Do Thái. Tháng 10 năm 1945 Rabin chịu trách nhiệm lập kế hoạch và sau này đã thành công trong việc thực hiện một chiến dịch giải phóng những người di cư đang bị giam tại trại giam giữ Atlit cho những người Do Thái di cư bất hợp pháp. Trong Black Shabbat, một chiến dịch lớn của Anh chống lại các lãnh đạo Tổ chức Do Thái tại Vùng đất Israel, Rabin đã bị bắt và giam cầm trong năm tháng. Sau khi được thả ông trở thành chỉ huy của tiểu đoàn Palmach thứ hai và lên nắm chức vụ Sĩ quan Chỉ huy Chiến dịch của Palmach tháng 10 năm 1947.
Các lực lượng phòng vệ Israel (IDF)
Trong cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948 Rabin đã chỉ huy các chiến dịch của Israel tại Jerusalem và chiến đấu với quân đội Ai Cập tại Negev. Trong thời gian khởi đầu cuộc chiến ông là chỉ huy lữ đoàn Harel chiến đấu trên đường tới Jerusalem từ đồng bằng ven biển, gồm cả Israel "Con đường Miến Điện", cũng như nhiều trận đánh tại Jerusalem, như bảo vệ sườn phải của thành phố bằng cách tái chiếm kibbutz Ramat Rachel.
Trong thời gian cuộc ngừng bắn lần thứ nhất ông tham gia vào cuộc tranh luận giữa IDF và Irgun trên bãi biển Tel Aviv như một phần của Vụ việc Altalena. Trong giai đoạn sau đó ông là phó chỉ huy Chiến dịch Danny, trong đó các thành phố Ramle và Lydda đã bị chiếm, cũng như sân bay chính tại Lydda. Sau khi chiếm giữ hai thị trấn đã có một cuộc di cư của người dân Ả Rập tại đó và chỉ còn vài trăm trong số 50,000 tới 70,000 dân còn ở lại.
Chiến dịch Danny là chiến dịch ở tầm vóc lớn nhất cho tới khi đó và nó liên quan tới bốn lữ đoàn IDF. Khi ấy ông là Chỉ huy các Chiến dịch Mặt trận phía Nam và tham gia vào các trận đánh lớn chấm dứt xung đột tại đó, gồm cả Chiến dịch Yoav và Chiến dịch Horev.
Đầu năm 1949 ông là một thành viên của phái đoàn Israel tham gia các cuộc đàm phán hoà bình với Ai Cập được tổ chức trên đảo Rhodes. Kết quả của cuộc đàm phán là Thoả thuận Hoà bình năm 1949 chấm dứt sự thù địch chính thức của cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948. Sau cuộc tổng động viên ở cuối cuộc chiến ông là (cựu) thành viên cao cấp nhất của Palmach còn lại trong IDF.
Năm 1964 ông được Levi Eshkol, người thay thế David Ben Gurion, chỉ định làm Tham mưu trưởng Các lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), và giống như ông, Levi Eshkol cũng từng giữ chức vụ Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng. Bởi Eshkol không có nhiều kinh nghiệm quân sự, Rabin được tự do hành động khá lớn. Dưới sự chỉ huy của ông, IDF đã giành thắng lợi trước Ai Cập, Syria và Jordan trong cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967. Sau khi Thành cổ Jerusalem bị IDF chiếm, Rabin nằm trong số những người đầu tiên tới thăm, và có một bài phát biểu nổi tiếng trên Núi Scopus, tại Đại học Hebrew. Trong những ngày dẫn tới cuộc chiến, có thông tin rằng Rabin đã bị suy nhược thần kinh và không thể làm việc. Sau giai đoạn ngắt quãng ngắn ngủi này, ông lấy lại toàn quyền chỉ huy IDF.
Đại sứ và Bộ trưởng Lao động
Sau khi nghỉ hưu tại IDF ông trở thành đại sứ tại Hoa Kỳ vào năm 1968, giữ chức vụ này trong 5 năm. Trong giai đoạn này Hoa Kỳ trở thành bên cung cấp vũ khí chính cho Israel và đặc biệt ông đã tìm cách dỡ bỏ được lệnh cấm vận máy bay phản lực chiến đấu F-4 Phantom. Trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur năm 1973 ông không giữ chức vụ nào chính thức và vào cuộc bầu cử được tổ chức cuối năm 1973 ông được bầu vào Knesset với tư cách thành viên của Liên kết. Ông được chỉ định làm Bộ trưởng Lao động Israel tháng 3 năm 1974 trong chính phủ có thời gian tồn tại ngắn ngủi của Golda Meir.
Nhiệm kỳ Thủ tướng đầu tiên
Sau khi Golda Meir từ chức tháng 4 năm 1974, Rabin được bầu làm lãnh đạo đảng, sau khi đánh bại Shimon Peres. Sự đối đầu giữa hai lãnh đạo Công đảng này vẫn giai dẳng và họ đã cạnh tranh nhau nhiều lần trong hai thập kỷ tiếp sau cho vai trò lãnh đạo. Rabin kế nhiệm Golda Meir trở thành Thủ tướng Israel ngày 3 tháng 6 năm 1974. Đây là một chính phủ liên minh, gồm Ratz, những người Tự do Độc lập, Phát triển và Tiến bộ và Danh sách Ả Rập vì Bedouins và Villagers. Sự liên minh này, với một đa số tối thiểu, chỉ giữ được trong vài tháng và là một trong số ít giai đoạn trong lịch sử Israel khi các đảng tôn giáo không tham gia liên minh. Đảng Tôn giáo Quốc gia đã gia nhập liên minh ngày 30 tháng 10 năm 1974 và Ratz rút lui ngày 6 tháng 11.
Về chính sách đối ngoại, sự phát triển chính ở thời điểm đầu nhiệm kỳ của Rabin là Thoả thuận Sơ bộ Sinai giữa Israel và Ai Cập, được ký ngày 1 tháng 9 năm 1975. Cả hai nước đều tuyên bố rằng cuộc xung đột giữa họ và tại Trung Đông sẽ không thể được giải quyết bằng vũ lực mà bằng các biện pháp hoà bình. Thoả thuận này diễn ra sau các chuyến đi ngoại giao con thoi của Henry Kissinger và một lời đe doạ ‘đánh giá lại’ chính sách vùng và quan hệ của Hoa Kỳ với Israel. Rabin nhắc lại rằng đó là "một nhiệm kỳ có vẻ vô hại báo trước một trong những giai đoạn quan hệ tồi tệ nhất giữa Hoa Kỳ và Israel." Thoả thuận là một bước quan trọng hướng tới Hiệp định Trại David năm 1978 và hiệp ước hoà bình với Ai Cập được ký năm 1979.
Chiến dịch Entebbe có lẽ là sự kiện gây ấn tượng nhất trong nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên của Rabin. Theo lệnh của ông, IDR đã tiến hành một chiến dịch bí mật tầm xa để giải cứu một máy bay chở khách bị không tặc bởi các chiến binh thuộc nhóm Wadie Haddad của Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestinevà Các tổ Cách mạng (RZ) Đức, và khi ấy máy bay đang ở Uganda của Idi Amin. Chiến dịch này nói chung được coi là một thành công vĩ đại, và tính chất đặc biệt của nó khiến nó trở thành chủ đề của nhiều cuộc bình luận và nghiên cứu.
Tới cuối năm 1976 chính phủ liên minh của ông với các đảng tôn giáo gặp một cuộc khủng hoảng: một cuộc vận động bất tín nhiệm đã được Agudat Israel đưa ra về một mối bất hoà của Sabbath về một căn cứ của Không quân Israel khi bốn chiếc máy bay phản lực F-15 được giao hàng từ Hoa Kỳ và Đảng Tôn giáo Quốc gia đã bỏ phiếu trắng. Rabin giải tán chính phủ và quyết định một cuộc bầu cử mới, sẽ được tổ chức vào tháng 5 năm 1977. Trong lúc ấy hai sự phát triển không may mắn từ dự tính của ông diễn ra: sau cuộc gặp gỡ tháng 3 năm 1977 giữa Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter và Rabin, Rabin công khai tuyên bố rằng Hoa Kỳ ủng hộ ý tưởng của Israel về các biên giới phòng thủ. Sau đó Carter ra một giải thích. Một sự "đi xuống" trong quan hệ Hoa Kỳ/Israel tiếp nối sau đó. Mọi người cho rằng sự đi xuống này đã góp phần góp vào thất bại của Công đảng Israel trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1977. Sự phát triển thứ hai là phát hiện rằng vợ ông, Leah, tiếp tục giữ một tài khoản dollar Mỹ từ những ngày Rabin còn làm đại sứ tại Hoa Kỳ. Theo các quy định tiền tệ của Israel thời kỳ đó, các công dân không được duy trì tài khoản nước ngoài mà không có sự cho phép từ trước. Trước sự kiện này, đã rút lui khỏi chức vụ lãnh đạo đảng và tư cách ứng viên thủ tướng, một hành động khiến ông được ca ngợi như một người có trách nhiệm và chính trực.
Thành viên Knesset đối lập và Bộ trưởng Quốc phòng
Sau khi ông từ chức và thất bại của Công đảng trong cuộc bầu cử, Menachem Begin thuộc đảng Likud giành thắng lợi năm 1977. Cho tới năm 1984 Rabin là một thành viên của Knesset và tham gia các công việc đối ngoại và Ủy ban Quốc phòng. Từ năm 1984 tới năm 1990, ông làm Bộ trưởng Quốc phòng trong nhiều chính phủ thống nhất quốc gia của các thủ tướng Yitzhak Shamir và Shimon Peres.
Khi Rabin nhậm chức, quân đội Israel vẫn còn ở sâu trong Liban. Ông đã ra lệnh rút quân về một "Vùng An ninh" ở phía Liban của biên giới. Quân đội Nam Liban hoạt động mạnh trong vùng này, cùng với Các lực lượng phòng vệ Israel.
Khi cuộc Intifada lần thứ nhất diễn ra, Rabin đã chấp nhận những biện pháp cứng rắn để ngăn chặn những người biểu tình, thậm chí cho phép sử dụng "Vũ lực, sức mạnh và đánh đập," với người biểu tình. Rabin "kẻ bẻ xương" đã được sử dụng như một hình ảnh quốc tế. Sự thất bại của chính sách "Iron Fist" cộng với hình ảnh đang ngày càng xấu đi của Israel trên trường quốc tế cùng việc Jordan cắt các quan hệ pháp lý và hành chính với Bờ Tây và việc Hoa Kỳ công nhân PLO là đại diện của người Palestine đã buộc Rabin phải tìm kiếm một sự chấm dứt bạo lực thông qua đàm phán và đối thoại với PLO.
Năm 1990 tới 1992, Rabin một lần nữa là một thành viên Knesset và tham gia công việc Đối ngoại và Ủy ban Quốc phòng.
Nhiệm kỳ Thủ tướng thứ hai
Năm 1992 Rabin được bầu làm chủ tịch Công đảng, một lần nữa giành thắng lợi trước Shimon Peres. Trong cuộc bầu cử năm đó đảng của ông, tập trung mạnh vào sự nổi tiếng của người lãnh đạo, đã giành một thắng lợi lớn trước đảng Likud của đương kim Thủ tướng Yitzhak Shamir. Tuy nhiên phe cánh tả trong Knesset chỉ giành một đa số nhỏ, với sự loại bỏ các đảng quốc gia nhỏ không vượt qua được giới hạn bầu cử. Rabin thành lập chính phủ đầu tiên của Công đảng trong vòng 15 năm, được ủng hộ bởi một liên minh với Meretz, một đảng cánh tả, và Shas, một đảng tôn giáo chính thống-quá khích Mizrahi.
Rabin đã đóng vai trò lãnh đạo trong việc ký kết Hiệp định Oslo, tạo lập Chính quyền Palestine và trao một phần quyền kiểm soát các vùng Dải Gaza và Bờ Tây. Trước khi ký hiệp định, Rabin đã nhận được một bức thư từ Chủ tịch PLO Yasser Arafat bác bỏ bạo lực và chính thức công nhận Israel, và cũng trong ngày hôm đó, 9 tháng 9 năm 1993, Rabin gửi cho Arafat một bức thư chính thức công nhận PLO. Trong nhiệm kỳ thủ tướng này, Rabin cũng giám sát việc ký kết Hiệp định Hoà bình Israel-Jordan năm 1994.
Vì vai trò của ông trong việc tạo lập Hiệp định Oslo, Rabin đã được trao Giải Nobel Hoà bình năm 1994, cùng với Yasser Arafat và Shimon Peres. Hiệp định đã làm chia rẽ mạnh mẽ xã hội Israel, với một số người coi ông là anh hùng vì đã thúc đẩy nền hoà bình và một số người coi ông là kẻ phản bội khi trao đi đất đai mà họ coi là thuộc về Israel một cách chính đáng. Nhiều người Israel cánh hữu thường buộc tội ông về nhiều cái chết của người Do Thái trong các vụ tấn công, coi chúng là những hậu quả của thoả thuận Oslo.
Rabin cũng đã được trao Giải Tự do Ronald Reagan năm 1994 bởi cựu Đệ Nhất Phu nhân Nancy Reagan. Giải này chỉ được trao cho "những người đã có những đóng góp nền tảng và dài lâu vào sự nghiệp tự do toàn cầu," và những người "hiện thâm cho niềm tin cả cuộc đời Tổng thống Reagan rằng một người đàn ông hay phụ nữ thật sự có thể tạo ra một sự khác biệt."
Vụ ám sát và hậu quả
Bài chi tiết: Vụ ám sát Yitzhak Rabin
Ngày 4 tháng 11 năm 1995 (thứ 11 của Heshvan theo Lịch Hebrew) Thủ tướng Rabin đã bị Yigal Amir, một người Do Thái Chính thống cực đoan cánh hữu phản đối việc ký kết Hiệp định Oslo ám sát, anh ta tin rằng mình đang phục vụ quốc gia với một số phận thảm khốc. Vụ ám sát diễn ra vào buổi tối khi Rabin đang rời một cuộc vận động quần chúng ở Tel Aviv kêu gọi ủng hộ Hiệp định Oslo. Rabin được nhanh chóng đưa tới Bệnh viện Ichilov ở gần đó, nơi ông đã chết trên bàn mổ vì mất máu và thủng phổi trong vòng 40 phút. Amir lập tức bị các vệ sĩ của Rabin bắt giữ. Anh ta bị đem ra xét xử và bị kết án chung thân.
Sau một cuộc họp khẩn cấp của nội các, Bộ trưởng Ngoại giao Israel, Shimon Peres được chỉ định làm Thủ tướng Israel.
Vụ ám sát Rabin là một chấn động lớn với công chúng Israel và hầu hết phần còn lại của thế giới. Hàng trăm nghìn người Israel buồn bã tụ tập tại quảng trường nơi Rabin bị ám sát để tưởng niệm ông. Rất đông thanh niên, thắp lên những ngọn nến tưởng niệm và hát những bài hát hoà bình. Lễ tang của Rabin có sự tham dự của nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới, trong số đó có tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak và Vua Hussein của Jordan. Bill Clinton đã đọc bài điếu văn với những lời đáng nhớ trong tiếng Hebrew — "Shalom, Haver" (tiếng Hebrew: שלום חבר, dịch nghĩa Tạm biệt, Bạn).
Trước khi rời sân khấu vào đêm diễn ra vụ ám sát, Rabin đã hát Shir LaShalom (dịch nghĩa Bài hát vì Hoà bình), cùng với ca sĩ người Israel Miri Aloni. Sau khi ông chết, một tờ giấy với lời bài hát đã được tìm thấy trong túi ông, nhuốm máu.
Quảng trường nơi ông bị ám sát, Kikar Malkhei Yisrael (Những vị vua của Quảng trường Israel), đã được đổi tên thành Quảng trường Rabin. Những đường phố và cơ quan công cộng đã được đặt tên theo tên ông trên khắp nước. Sau vụ ám sát ông, Rabin được coi như một biểu tượng quốc gia và là người đại diện của phe hoà bình Israel, dù ông đã có một sự nghiệp quân sự và những quan điểm diều hâu trước đó. Ông được chôn cất tại Núi Herzl. Tháng 11 năm 2000, vợ ông Leah qua đời và được chôn cất bên cạnh ông.
Như với nhiều vụ ám sát chính trị, có nhiều cuộc tranh luận liên quan tới buối cảnh vụ ám sát Rabin. Có một số giả thuyết âm mưu liên quan tới vụ ám sát Rabin.
Sau vụ ám sát Rabin, con gái ông Dalia Rabin-Pelossof đã tham gia chính trường và được bầu vào Knesset năm 1999 như một thành viên của Đảng Trung dung. Năm 2001, bà là Người đại diện của Bộ trưởng Quốc phòng.
Tưởng niệm
Knesset đã coi thứ 12 của Heshvan, ngày ám sát theo lịch Hebrew, là ngày tưởng niệm chính thức dành cho Rabin. Một ngày tưởng niệm không chính thức nhưng được nhiều người thực hiện là ngày 4 tháng 11, ngày theo lịch Gregory.
Năm 1995 Cơ quan Bưu chính Israel đã xuất bản một con tem tưởng niệm Rabin.
Trung tâm Yitzhak Rabin Lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010 tại Wayback Machine được thành lập năm 1997 theo một đạo luật của Knesset, để tạo ra "[a] Trung tâm Tưởng niệm cho sự Duy trì Tưởng nhớ Yitzhak Rabin." Trung tâm này đã thực hiện nhiều hành động giáo dục và tưởng niệm nhấn mạnh đến những cách thức và phương tiện của dân chủ và hoà bình.
Mechinat Rabin, một chương trình huấn luyện tiền quân sự của Israel để huấn luyện những người mới tốt nghiệp cao học môn lãnh đạo trước khi phục vụ trong IDF, đã được thành lập năm 1998.
Nhiều thành phố và thị trấn ở Israel đã đặt tên các con phố, khu lân cận, trường học, cầu và vườn hoa theo tên Rabin. Tương tự hai khu phức hợp văn phòng chính phủ và hai hội đạo Do Thái đã được đặt theo tên Yitzhak Rabin. Bên ngoài Israel, có những con phố được đặt theo tên ông tại Bonn, Berlin và New York và các vườn hoa tại Montréal, Roma và Lima.
Ca sĩ Reggae Alpha Blondy đã ghi một đĩa đơn tên là 'Yitzhak Rabin' để tưởng nhớ vị Thủ tướng Israel.
101125-st



 CÁC SỰ KIỆN 10/11

Sự kiện 10/11
4175. 621 – Tùy mạt Đường sơ: Lương Đế Tiêu Tiển hạ lệnh mở cổng thành Giang Lăng đầu hàng quân Đường.
4176. 1038 – Thủ lĩnh tộc Đảng Hạng Lý Nguyên Hạo thoát ly triều Tống, lên ngôi hoàng đế, lập quốc "Đại Hạ", sử gọi là Tây Hạ.
4177. 1293 – Sau khi đẩy lui quân Nguyên, Raden Wijaya trở thành quân chủ đầu tiên của Majapahit trên đảo Java.
4178. 1444 – Trong Trận Varna, Thập tự quân dưới quyền Quốc vương Władysław III chiến bại trước quân Ottoman của Sultan Murad II, quốc vương Władysław III cũng tử chiến.
4179. N10/11/ (1494) Ngày Quốc tế kế toán.
4180. 1775 – Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bắt đầu hình thành khi Đệ nhị Quốc hội Lục địa quyết định thành lập các tiểu đoàn Thủy quân lục chiến Lục địa trong Cách mạng Mỹ.
4181. 1871 – Henry Morton Stanley tìm được nhà truyền giáo và nhà thám hiểm bị mất tích David Livingstone gần hồ Tanganyika thuộc Tanzania hiện nay.
4182. 1945 – Cách mạng Dân tộc Indonesia: Quân Anh mở cuộc tấn công lực lượng Cộng hòa Indonesia tại thành phố Surabaya.
4183. 1983 – Microsoft lần đầu phát hành hệ điều hành Windows 1.0, là phiên bản đầu tiên của dòng Microsoft Windows.
4184. 1989 – Nhà lãnh đạo lâu năm của Cộng hòa Nhân dân Bulgaria Todor Hristov Zhivkov từ chức do áp lực từ các thành viên cấp cao khác trong Đảng.
4185. N10/11/ (2001): Ngày Khoa học Thế giới vì Hòa bình và Phát triển.
4186. 2010 – Đặng Nhật Minh trở thành đạo diễn Việt Nam đầu tiên được Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ vinh danh vì những cống hiến cho sự nghiệp điện ảnh.
Sinh 10/11
4187. 1790 – Jean René Constant Quoy, nhà động vật học và giải phẫu học người Pháp (m. 1869).
4188. 1965 – Jonas Åkerlund, đạo diễn người Thụy Điển
4189. 1978 – Nadine Angerer, cầu thủ bóng đá người Đức
4190. 1983 - Văn Công Viễn, đạo diễn, nhà biên kịch, sản xuất phim người Việt Nam
4191. 1985 - Lã Thanh Huyền, diễn viên, người dẫn chương trình, người mẫu và doanh nhân Việt Nam
4192. 1997 – Daniel James, cầu thủ bóng đá người xứ Wales
4193. 1999 – João Félix, cầu thủ bóng đá người Bồ Đào Nha
Mất 10/11
4194. 1946 – Nguyễn Văn Thinh, Thủ tướng Nam Kỳ quốc tự sát.
4195. 1971 – Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh bị đặc công Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ném bom ám sát ở Sài Gòn.
TTT st&tc

 Giải Nobel (425)

1/ MỸ 192; 2/ ĐỨC 70, 3/ ANH 61; 4/ PHÁP 43; 5/Thụy Điển 27; 6/ Thụy Sĩ 17; 7/ Áo 13; 8/ Hà Lan 12; 9/ Đan Mạch 12; 10/ Ý 11; 11/ Bỉ 10; 12/ Nga 12;13/ Na Uy 9; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 7. 16/ Ba Lan 7; 17/ Nhật Bản 8; 18/ Canada 8; 19/ Úc 5; 20/ Scotland 5; 21/ Argentina 4; 22/ Phần Lan 3; 23/ Ấn Độ 3; 24/ Ireland 3; 25/ NewZealand 2; 26/ Ucraine 1; 27/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 28/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 29/ Liên Xô 4; 30/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1; 31/ Chi lê 2; 32/ Nam Phi 5; 33/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 2; 34/ Iceland 1; 35/ Sec 1; 36/ Hy Lạp 2; 37/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;38/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;39/ Irael 1; 40/ Guatemala 1;41/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 42/ Xứ Wales 1. 43/ Việt Nam 1.44/ Rumani 1; 45/ Croatia 1; 46/ Nam Tư 1; 47/ Tổ chức Ân xá quốc tế 1. 48/ Ai Cập 2; 49/ Israel 2; 50/ Pakistan 1; 51/ Colombia 1; 52/ Mexico 1; 53/ Tiệp Khắc 1; 54/ Hiệp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân 1; 55/ Đài Loan 1; 56/ Nigieria 1; 57/ Costa Rica 1; 58/ Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc 1;59/ Trung Quốc 1; 60/ Mexico 1; 61/Myanmar 1; 62/ Saint Lucia 1; 63/ Guatemala 1; 64/ Palestine 1
Shimon Peres
Shimon Peres (ngheⓘ; tiếng Hebrew: שמעון פרס; tên khai sinh Szymon Perski; 2 tháng 8 năm 1923 – 28 tháng 9 năm 2016) là Tổng thống thứ 9 của Nhà nước Israel (2007 – 2014). Peres từng hai lần giữ chức Thủ tướng Israel và một lần là Quyền Thủ tướng, suốt thập niên 70 đến thập niên 90, và từng là thành viên của 12 nội các trong sự nghiệp chính trị kéo dài hơn 66 năm. Peres được bầu vào Knesset tháng 11 năm 1959 và, ngoại trừ một thời gian gián đoạn ba tháng đầu năm 2006, phục vụ liên tục cho tới năm 2007, khi ông trở thành Tổng thống. Tháng 11 năm 2008 ông đã được Nữ hoàng Elizabeth II tặng danh hiệu Hiệp sĩ danh dự.
Ra đời tại Wiszniewo, ở Ba Lan (hiện ở Belarus) năm 1923, Peres đã cùng gia đình chuyển tới lãnh thổ Palestine Ủy trị năm 1934. Ông đã giữ nhiều chức vụ ngoại giao và quân sự trong và trực tiếp sau cuộc chiến tranh giành độc lập của Israel. Chức vụ cao cấp đầu tiên trong chính phủ của ông là Thứ trưởng Quốc phòng năm 1952, và Bộ trưởng Quốc phòng năm 1953 tới năm 1959. Trong sự nghiệp của mình, ông đã đại diện cho năm đảng chính trị trong Knesset: Mapai, Rafi, Liên kết, Công Đảng và Kadima, và đã từng lãnh đạo Liên kết và Công Đảng. Peres đã giành Giải Nobel Hoà bình năm 1994 cùng với Yitzhak Rabin và Yasser Arafat vì những cuộc đàm phán hoà bình ông tham gia với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao Israel, dẫn tới Hiệp định Oslo. Đầu năm 2007 Peres được Kadima đề cử chạy đua trong cuộc bầu cử tổng thống, và được Knesset bầu làm tổng thống ngày 13 tháng 6 năm 2007 và đã tuyên thệ trở thành cựu Thủ tướng đầu tiên được bầu làm Tổng thống Israel ngày 15 tháng 7 năm 2007 với nhiệm kỳ bảy năm.
Những năm đầu tiên
Peres sinh ngày 2 tháng 8 năm 1923 tại Wiszniewo, Ba Lan (nay là Višnieva, Belarus), con của Yitzhak (1896-1962) và Sara (sinh năm 1905 tên khi sinh Meltzer) Perski. Gia đình này nói tiếng Hebrew, Yiddish và tiếng Nga ở nhà, và Peres đã học tiếng Ba Lan ở trường. Hiện ông nói tiếng Anh và tiếng Pháp ngoài tiếng Hebrew. Cha ông là một nhà buôn gỗ, sau này mở rộng sang cả các mặt hàng khác còn mẹ ông là một nhân viên thư viện. Peres có một người em trai, Gershon.
Ông của Peres, Rabbi Zvi Meltzer, một người cháu của Rabbi Chaim Volozhin, có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời ông. Trong một cuộc phỏng vấn, Peres đã nói: "Khi còn trẻ, tôi lớn lên trong ngôi nhà của ông tôi… chính ông đã dạy dỗ tôi… ông tôi đã dạy tôi Talmud. Nó không dễ dàng như vẻ ngoài của nó đâu. Chúng tôi không phải là một gia đình theo đạo. Cha mẹ tôi không phải là tín đồ Chính thống nhưng tôi là Haredi. Ở một thời điểm, tôi đã nghe cha mẹ mình nghe đài về Sabbath và tôi đã phá huỷ nó."
Ông học tại The New School ở Greenwich Village, Thành phố New York.
Ủy trị Anh
Năm 1932, cha Peres di cư tới Palestine và định cư tại Tel Aviv. Gia đình đi theo ông năm 1934. Ông theo học Trường Tiểu học Balfour và Trường Trung học, và Geula Gymnasium (Trường Cao đẳng Thương mại) tại Tel Aviv. Khi lên 15, ông chuyển sang trường nông nghiệp Ben Shemen và sống tại Kibbutz Geva trong nhiều năm. Peres là một trong những người sáng lập Kibbutz Alumot. Năm 1941 ông được bầu làm thư ký của Hanoar Haoved Vehalomed, một phong trào thanh niên Lao động Zionist, và vào năm 1944 quay trở về Alumot, nơi ông làm việc như một người nông dân chăn nuôi bò sữa, cừu và thư ký của kibbutz (khu định cư Do Thái).
Đời sống cá nhân
Năm 1945, Peres cưới Sonya (tên khi sinh Gelman), người luôn muốn sống bên ngoài con mắt của công chúng trong suốt sự nghiệp chính trị của ông. Họ có ba con: một con gái, Zvia Valdan, một nhà ngôn ngữ học và giáo sư tại Trường Sư phạm Beit Berl; và hai con trai, Yoni (sinh năm 1952), giám đốc một Trung tâm Thú y Làng, một bệnh viện thú y tại campus của Trường Nông nghiệp Kfar Hayarok gần Tel Aviv, và Hemi, chủ tịch Pitango Venture Capital, một trong những quỹ đầu tư mạo hiểm lớn nhất Israel. Peres có 8 cháu và hai chắt. Sonya Peres không thể tham gia lễ nhậm chức của Shimon vì sức khoẻ kém. Peres là một người cháu của nữ diễn viên Lauren Bacall (tên khi sinh Betty Joan Perski).
Quân đội và Quốc phòng
Năm 1947, Peres gia nhập Haganah, tiền thân của Các lực lượng phòng vệ Israel. David Ben-Gurion phân công ông chịu trách nhiệm về nhân sự và mua bán vũ khí. Năm 1952, ông được chỉ định làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, và vào năm 1953, ở độ tuổi 29, trở thành Bộ trưởng trẻ nhất của Bộ Quốc phòng. Ông đã tham gia vào những vụ mua bán vũ khí và thành lập các liên minh chiến lược có vai trò quan trọng với Nhà nước Israel. Nhờ sự trung gian của Peres, Israel đã mua được loại máy bay phản lực chiến đấu Dassault Mirage III hiện đại của Pháp, thành lập lò phản ứng hạt nhân Dimona và tham gia một thoả thuận ba bên với Pháp và Anh Quốc để dẫn tới cuộc Khủng hoảng Suez năm 1956.
Sự nghiệp chính trị
Những bước đầu tiên trong chính trị
Peres lần đầu được bầu vào Knesset trong cuộc bầu cử năm 1959, như một thành viên của đảng Mapai. Ông được trao vai trò Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, chức vụ ông đảm nhiệm tới năm 1965. Peres và Dayan đã rời Mapai với David Ben-Gurion để thành lập một đảng mới, Rafi giải hoà với Mapai và gia nhập Liên kết (một liên minh cánh tả) năm 1968.
Các cột mốc chính trị trong thập niên 1970
Năm 1969, Peres được chỉ định làm Bộ trưởng Thu hút Người nhập cư và vào năm 1970 trở thành Bộ trưởng Giao thông và Viễn thông. Năm 1974, sau một giai đoạn làm Bộ trưởng Thông tin, ông được chỉ định làm Bộ trưởng Quốc phòng trong chính phủ của Yitzhak Rabin, và trở thành đối thủ hàng đầu của Rabin cho chức vụ thủ tướng sau khi Golda Meir từ chức sau cuộc Chiến tranh Yom Kippur. Trong thời gian này, Peres tiếp tục đối đầu với Rabin để giành chức chủ tịch đảng, nhưng vào năm 1977, ông một lần nữa thua cuộc trước Rabin trong cuộc bầu cử của đảng.
Peres kế vị Rabin trở thành lãnh đạo đảng trước cuộc bầu cử năm 1977 khi Rabin rút lui trước một vụ scandal ngoại tệ liên quan tới vợ ông. Bởi Rabin không thể từ chức một cách hợp pháp khỏi chính phủ chuyển tiếp, ông vẫn chính thức là Thủ tướng, trong khi Peres một cách không chính thức trở thành Quyền Thủ tướng. Peres đã lãnh đạo Liên kết tới thất bại bầu cử đầu tiên của họ, khi đảng Likud dưới sự lãnh đạo của Menachem Begin giành đủ số ghế để thành lập một liên minh trục xuất cánh tả. Sau chỉ một tháng cầm quyền, Peres nắm vai trò lãnh đạo đảng đối lập.
Các cột mốc chính trị thập niên 1980
Sau một kế hoạch quay trở lại của Rabin năm 1980 Peres đã lãnh đạo đảng tới một thất bại bầu cử sít sao khác trong cuộc bầu cử năm 1981.
Năm 1984, Liên kết giành nhiều ghế hơn bất kỳ đảng nào khác nhưng không tập hợp được đa số 61 ghế cần thiết để thành lập một liên minh cánh tả. Vì thế, Liên kết và Likud đồng ý với một sự sắp xếp "thay đổi" bất thường theo đó Peres sẽ là Thủ tướng và lãnh đạo Likud Yitzhak Shamir sẽ là Bộ trưởng Ngoại giao.
Một điểm nhấn ở thời kỳ làm thủ tướng này là chuyến đi tới Maroc để bàn bạc với Vua Hassan II.
Luân phiên với Shamir
Sau hai năm, Peres và Shamir thay đổi vị trí. Năm 1986 ông trở thành Bộ trưởng Ngoại giao. Năm 1988, Liên kết dưới sự lãnh đạo của Peres chịu một thất bại sít sao khác. Ông đã đồng ý tái lập liên minh với Likud, lần này nhường chức thủ tướng cả nhiệm kỳ cho Shamir. Trong chính phủ thống nhất quốc gia giai đoạn 1988-1990, Peres làm Phó thủ tướng và Bộ trưởng Tài chính. Ông và Liên kết cuối cùng rời chính phủ năm 1990, sau "trò bịp bợm bẩn thỉu" – Một âm mưu bất thành để hình thành một chính phủ suýt soát dựa trên một liên minh của Liên kết, các phái cánh tả nhỏ và các đảng chính thống cực đoan.
Các cột mốc chính trị thập niên 1990
Từ năm 1990, Peres lãnh đạo phe đối lập trong Knesset, cho tới đầu năm 1992, ông bị đánh bại trong cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên của Công Đảng mới của Israel (đã được thành lập sau khi củng cố Liên kết vào một đảng thống nhất duy nhất) bởi Yitzhak Rabin, người ông đã thay thế mười lăm năm trước đó.
Tuy nhiên, Peres vẫn hoạt động chính trị tích cực, làm Bộ trưởng Ngoại giao của Rabin từ năm 1992 và không có sự giám sát của Rabin, bắt đầu những cuộc đàm phán bất hợp pháp bí mật với tổ chức PLO của Yasser Arafat. Khi Rabin phát hiện, ông để các cuộc đàm phán tiếp tục. Các cuộc đàm phán đã dẫn tới Hiệp định Oslo, sẽ mang lại cho Peres, Rabin và Arafat Giải Nobel Hoà bình.
Sau vụ ám sát Rabin năm 1995, Peres một lần nữa trở thành Thủ tướng. Trong nhiệm kỳ này, Peres đã khuyến khích sử dụng Internet tại Israel và tạo lập website đầu tiên của thủ tướng Israel. Tuy nhiên, ông lại bị đánh bại sít sao bởi Benjamin Netanyahu trong cuộc bầu cử thủ tướng trực tiếp đầu tiên năm 1996.
Năm 1997 ông không tìm cách tái tranh cử chức lãnh đạo Công Đảng và bị thay thế bởi Ehud Barak. Barak cự tuyệt nỗ lực của Peres nhằm lấy lại chức vụ chủ tịch đảng và ngay khi thành lập một chính phủ năm 1999 đã chỉ định Peres giữ một chức nhỏ là Bộ trưởng Hợp tác Vùng. Peres ít đóng vai trò trong chính phủ của Barak.
Các cột mốc chính trị thập niên 2000
Năm 2000 Peres chạy đua cho một nhiệm kỳ 7 năm vào chức vụ Tổng thống, một chức vụ nguyên thủ quốc gia mang tính nghi lễ, thường cho phép lựa chọn Thủ tướng. Nếu ông thắng, như mọi người dự đoán, ông sẽ trở thành cựu thủ tướng đầu tiên được bầu làm Tổng thống. Tuy nhiên, ông thua cuộc trước ứng cử viên đảng Likud Moshe Katsav.
Sau thất bại của Ehud Barak trước Ariel Sharon trong cuộc bầu cử thủ tướng trực tiếp năm 2001, Peres một lần nữa quay trở lại. Ông lãnh đạo Công Đảng tham gia một chính phủ thống nhất với đảng Likud của Sharon và giành được ghế Bộ trưởng Ngoại giao. Chức vụ lãnh đạo đảng chính thức được chuyển cho Binyamin Ben-Eliezer, và vào năm 2002 cho thị trưởng Haifa, Amram Mitzna. Peres đã bị cánh tả chỉ trích nhiều vì bám riết lấy chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao của mình trong một chính phủ không được coi là thúc đẩy tiến trình hoà bình, dù ông có lập trường ủng hộ hoà bình. Ông chỉ rời chức vụ khi Công Đảng rút lui trước cuộc bầu cử năm 2003. Sau khi đảng dưới sự lãnh đạo của Mitzna chịu một thất bại bầu cử nặng nề, Peres một lần nữa nổi lên như một nhà lãnh đạo lâm thời. Ông lãnh đạo đảng vào một liên minh với Sharon một lần nữa vào cuối năm 2004 khi ông này ủng hộ việc "rút lui" khỏi Gaza đệ trình một chương trình ngoại giao mà Công Đảng có thể ủng hộ.
Peres giành chức chủ tịch Công Đảng năm 2005, trước cuộc bầu cử năm 2006. Với tư cách lãnh đạo đảng, Peres muốn hoãn cuộc bầu cử càng lâu càng tốt. Ông tuyên bố rằng một cuộc bầu cử sớm sẽ huỷ hoại cả kế hoạch rút quân khỏi Gaza vào tháng 9 năm 2005 và vị thế của Công Đảng trong một chính phủ đoàn kết quốc gia với Sharon. Tuy nhiên, đa số đòi một ngày sớm hơn, bởi các thành viên trẻ trong đảng, trong số đó có Ophir Pines-Paz và Isaac Herzog, đã vượt qua các nhà lãnh đạo cũ như Binyamin Ben-Eliezer và Haim Ramon, trong cuộc bỏ phiếu trong đảng để phân chia các chức vụ trong chính phủ. Cuối cùng hoá ra cuộc bầu cử không thể được tổ chức vào tháng 6, như đã lập kế hoạch, khi một scandal nổ ra về sự gian lận có thể có trong việc đăng ký thành viên. Cuộc điều tra vụ việc này đã làm trì hoãn cuộc bầu cử tới tận ngày 9 tháng 11 năm 2005.
Trước và sau sự chậm trễ, Peres liên tục dẫn đầu trong các cuộc thăm dò, bác bỏ những dự đoán rằng những đối thủ sẽ vượt qua ông. Những trao đổi nhỏ của ông với các đối thủ bắt đầu khi cựu thủ tướng Barak bắt đầu ủng hỗ việc tổ chức những cuộc bầu cử sơ bộ đầu năm đó, bởi Amir Peretz và Haim Ramon, hai thành viên nghị viện kiên quyết chống Barak, muốn ủng hộ Peres với bất kỳ giá nào để đánh bại Barak. Trong một sự thay đổi kỳ cục của các sự kiện, Peretz nhanh chóng tuyên bố tư cách ứng viên của mình, một hành động bị Peres coi là sự phản bội lớn nhất.
Dù Peres tiếp tục có những lời tranh cãi bẩn thỉu với Barak trên báo chí, mối thù địch của ông với Peretz nhanh chóng vượt qua nó, đặc biệt khi Barak rút lui khỏi cuộc đua đầu tháng 10. Một trong những cáo buộc chính của Peretz chống lại Peres là ông đã không chú trọng các vấn đề kinh tế xã hội khi còn ở trong chính phủ Sharon, và đã không hoàn thành cam kết của mình rằng Công ĐẢng đã gia nhập liên minh với ý định duy nhất là giám sát sự rút quân khỏi Gaza. Peres thua trong cuộc bầu cử lãnh đạo đảng với 40% so với 42.4% của Peretz.
Gia nhập Kadima
Ngày 30 tháng 11 năm 2005 Peres thông báo rằng ông đã rời Công Đảng để ủng hộ Ariel Sharon và đảng Kadima mới của ông này. Ngay sau cơn đột quỵ của Sharon đã có dự đoán rằng Peres có thể sẽ lãnh vai trò lãnh đạo đảng, nhưng hầu hết các lãnh đạo cao cấp của Kadima, từng là các thành viên cũ của Likud và tuyên bố ủng hộ Ehud Olmert làm người kế vị Sharon.
Công Đảng được thông báo là đã tìm cách lôi kéo Peres trở lại. Tuy nhiên, Peres đã thông báo rằng ông ủng hộ Olmert và sẽ ở lại với Kadima. Các thông báo truyền thông cho rằng Ehud Olmert đã đề nghị trao vị trí thứ hai trong Kadima cho Peres, nhưng các vị trí không quan trọng trong nội các cho những người được cho là đã được cho là đề nghị với Tzipi Livni. Peres trước đó đã thông báo ý định không tham gia cuộc bầu cử tháng 3. Sau thắng lợi của Kadima trong cuộc bầu cử này, Peres được trao vai trò Phó thủ tướng và Bộ trưởng Phát triển Negev, Galilee và Kinh tế Vùng.
Tổng thống Israel
Ngày 13 tháng 6 năm 2007, Peres được Knesset bầu làm Tổng thống Nhà nước Israel. 58 trong 120 thành viên Knesset bỏ phiếu cho ông ở vòng một (trong khi 38 bỏ phiếu cho Reuven Rivlin, và 21 cho Colette Avital). Các đối thủ của ông sau đó ủng hộ Peres ở vòng hai và 86 thành viên Knesset bỏ phiếu cho ông, trong khi 23 phản đối. Ông đã từ chức thành viên Knesset cùng trong ngày hôm ấy, nơi ông đã là một thành viên từ năm 1959 (ngoại trừ trong một giai đoạn ba tháng đầu năm 2006), thời gian phục vụ lâu nhất trong lịch sử chính trị Israel. Peres tuyên thệ nhậm chức Tổng thống ngày 15 tháng 7 năm 2007.
Tháng 11 năm 2008 Peres nhận được danh hiệu hiệp sĩ danh dự của Order of St. Michael and St. George từ Nữ hoàng Elizabeth II tại Điện Buckingham ở London.
Các quan điểm chính trị
Peres một thời từng bị coi là một chính trị gia diều hâu. Ông là một người được bảo trợ của Ben-Gurion và Dayan và từng là một người ủng hộ những người định cư ở Bờ Tây ngay từ thập kỷ 1970. Tuy nhiên, sau khi trở thành lãnh đạo đảng quan điểm của ông đã phát triển. Gần đây hơn ông đã được coi là một chính khách bồ câu, và là một người ủng hộ mạnh mẽ cho quan điểm hoà bình thông qua hợp tác kinh tế. Tuy vẫn phản đối, như nhiều lãnh đạo Israel chính thống trong thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, việc đàm phán với PLO, ông đã tách biệt khỏi những người định cư và nói về sự cần thiết của "thoả hiệp lãnh thổ" với Bờ Tây và Dải Gaza. Trong một thời gian ông đã hy vọng rằng Vua Hussein của Jordan có thể trở thành đối tác đàm phán Ả Rập của Israel chứ không phải là Yasser Arafat. Peres đã bí mật gặp gỡ với Hussein tại London năm 1987 và đạt tới một thoả thuận khung với ông này, nhưng nó đã bị Thủ tướng Israel khi đó là Yitzhak Shamir bác bỏ. Ngay sau khi cuộc Intifada lần thứ nhất diễn ra, và bất kỳ khả năng nào Vua Hussein có như một đối tác tiềm năng của Israel trong việc giải quyết số phận của Bờ Tây đã tan biến. Sau đó, Peres dần chuyển sang ủng hộ những cuộc đàm phán với PLO, dù ông tránh đưa ra cam kết dứt khoát với chính sách này cho tới tận năm 1993.
Peres có lẽ liên kết chặt chẽ nhất với Hiệp định Oslo hơn bất kỳ một chính trị gia nào khác của Israel (gồm cả Rabin) có lẽ chỉ ngoại trừ người được ông bảo trợ, Yossi Beilin. Ông vẫn là một người kiên quyết ủng hộ Hiệp định Oslo và Chính quyền Palestine bởi sự khởi đầu của chúng dù có cuộc Intifada lần thứ nhất và al-Aqsa Intifada (Intifada lần thứ hai). Tuy nhiên, Peres đã ủng hộ chính sách quân sự của Ariel Sharon sử dụng Các lực lượng phòng vệ Israel để ngăn cản các vụ đánh bom tự sát.
Thông thường, Peres hành động như một "người phát ngôn" không chính thức của Israel (thậm chí khi ông đang đứng đối lập) bởi ông có uy tín cao và được cộng đồng ngoại giao và công chúng thế giới tôn trọng. Peres ủng hộ chính sách an ninh của Israel (các chiến dịch quân sự chống khủng bố và hàng rào Bờ Tây của Israel) chống lại những chỉ trích quốc tế và những nỗ lực lên án nó của những người ủng hộ Palestine.
Chính sách ngoại giao của Peres là duy thực. Ví dụ, để xoa dịu Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia Hồi giáo trong vùng với lịch sử thân thiện với Israel, Peres được cho là đã công khai bác bỏ vụ diệt chủng Armenia. Gọi những cáo buộc diệt chủng của người Armenia là "vô nghĩa," Peres còn nói thêm, "Chúng tôi bác bỏ những nỗ lực tạo lập một sự tương tự giữa Holocaust và những cáo buộc của Armenia. Không có gì giống với Holocaust từng diễn ra. Đó là một bi kịch mà người Armenia đã phải trải qua nhưng nó không phải là một vụ diệt chủng." Bộ Ngoại giao Israel, khi đề cập tới những tranh cãi do những phát biểu đó gây ra, sau này cho rằng Peres đã bị trích dẫn sai, và rằng ông "hoàn toàn không nói, như các cơ quan truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ cho là như vậy, 'Cái người Armenia đã trải qua là một thảm kịch, không phải là một vụ diệt chủng.'"
Peres và Iran
Về vấn đề chương trình hạt nhân của Iran và mối đe doạ hiện hữu đặt ra với Israel, Peres nói, "Tôi không ủng hộ một cuộc tấn công quân sự vào Iran, nhưng chúng ta phải nhanh chóng và kiên quyết tạo lập một liên minh các quốc gia mạnh và sẵn sàng để áp đặt những biện pháp cấm vận kinh tế mạnh với Iran." Ông thêm, "Các nỗ lực của Iran nhằm hoàn thành các vũ khí hạt nhân sẽ khiến cả thế giới không thể ngủ yên." Cũng trong bài phát biểu đó, Peres đã so sánh Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad và lời kêu gọi "xoá bỏ Israel khỏi bản đồ" với những lời đe doạ diẹt chủng với người Do Thái ở châu Âu của Adolf Hitler trong những năm trước cuộc Holocaust. Trong một bài phỏng vấn với Đài phát thanh Quân đội ngày 8 tháng 5 năm 2006 ông lưu ý rằng "tổng thống Iran phải nhớ rằng Iran cũng có thể bị xoá khỏi bản đồ". Với lời lưu ý này, Peres đã tạo ra những chỉ trích cứng rắn bất thường từ một nhà phân tích trên truyền hình nhà nước Israel, Yoav Limor, về việc đề cập tới việc tiêu diệt một quốc gia khác. "Có một sự đồng thuận lớn rằng sẽ là tốt hơn nếu Peres không nói điều này, đặc biệt ở thời điểm hiện tại," Limor nói. "Tôi khá chắc chắn rằng Israel không muốn thấy mình ở trong cùng hoàn cảnh điên cuồng như (Tổng thống Iran Mahmoud) Ahmadinejad)
Sách
Shimon Peres là tác giả mười một cuốn sách, gồm:
The Next Step (1965)
David's Sling (1970) (ISBN 0-297-00083-7)
And Now Tomorrow (1978)
From These Men: seven founders of the State of Israel (1979) (ISBN 0-671-61016-3)
Entebbe Diary (1991) (ISBN 965-248-111-4)
The New Middle East (1993) (ISBN 0-8050-3323-8)
Battling for Peace: a memoir (1995) (ISBN 0-679-43617-0)
For the Future of Israel (1998) (ISBN 0-8018-5928-X)
The Imaginary Voyage: With Theodor Herzl in Israel (1999) (ISBN 1-55970-468-3)

91125-st



 CÁC SỰ KIỆN 9/11

Sự kiện 9/11
4149. 1330 – Trận Posada giữa Basarab I của Walachia và Károly I Róbert của Hungary bắt đầu gần biên giới Oltenia–Severin ngày nay ở România.
• 1372 – Vua Trần Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Kính (vua Trần Duệ Tông sau này), lui về làm Thái thượng hoàng.
1799 – Emmanuel Joseph Sieyès và Napoléon Bonaparte dẫn đầu đảo chính 18 Brumaire để thay thế Chế độ đốc chính bằng Chế độ tổng tài là chính phủ Pháp.
• 1867 – Mạc phủ Tokugawa trao trả lại quyền lực cho Thiên hoàng bằng tuyên ngôn "Đại chính phụng hoàn", giúp khởi đầu Minh Trị Duy tân tại Nhật Bản.
• 1888 – Mary Jane Kelly bị giết tại Luân Đôn, bà được coi là nạn nhân thứ 5 và cuối cùng của kẻ giết người hàng loạt không tên "Jack the Ripper".
4154. 1918 – Hoàng đế William II của Đế chế Đức thoái vị, Hoàng tử Maximilian của Baden từ chức Thủ tướng, và Philipp Scheidemann công bố Cộng hòa Weimar.
• 1921 – Đảng Phát xít quốc gia tại Ý được thành lập.
• 1938 – Đêm Kristallnacht, hơn 90 người Do Thái bị giết và hơn 25.000 người khác bị đưa vào các trại tập trung, theo chính sách bài Do Thái của Adolf Hitler tại Đức Quốc xã.
• 1946 _ Bản hiến pháp đầu tiền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
• 1953 – Chiến tranh Đông Dương: Pháp trao trả lại chủ quyền cho Campuchia, Quốc vương Norodom Sihanouk hồi hương sau một thời gian lưu vong tại Thái Lan.
4159. N9/11/1953: Ngày Quốc khánh Vương quốc Campuchia.
4160. 1964 – Đài thiên văn Tử Kim Sơn ở Nam Kinh phát hiện tiểu hành tinh vành đai chính 1888 Zu Chong-Zhi (1964 VO1)
4161. 1989 – Cộng hòa Dân chủ Đức tuyên bố mở cửa biên giới nội bộ Đức và Bức tường Berlin, tượng trưng cho sự kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Khối Warszawa.
4162. 1994 – Nguyên tố hóa học Darmstadti được tạo thành lần đầu trong Trung tâm Nghiên cứu Ion nặng GSI Helmholtz tại thành phố Darmstadt, Đức.
4163. 2000 – Hạ Thương Chu đoạn đại công trình chính thức công bố kết quả của dự án là "Hạ Thương Chu niên biểu".
4164. N9/11/ (2013): Ngày Pháp luật VN
Sinh 9/11
4165. 1818 – Ivan Sergeyevich Turgenev, Đại văn hào Nga
4166. 1914 – Hedy Lamarr, diễn viên, nhà phát minh người Mỹ gốc Áo, đã phát triển công nghệ trải phổ nhảy tần, là tiền thân của Wi-Fi, Bluetooth, và GPS
4167. 1984 – Goo Hye-sun, diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn và hoạ sĩ người Hàn Quốc
4168. 1996 – Hirai Momo, thành viên nhóm nhạc người Nhật Bản
4169. 1996 – Nguyễn Thị Ánh Viên, cựu vận động viên bơi lội người Việt Nam
4170. 1998 – Triệu Lộ Tư, diễn viên người Trung Quốc
Mất 9/11
4171. 1935 – Nguyễn Hữu Thị Nhàn, tôn hiệu Khôn Nguyên Hoàng thái hậu, chính thất của vua Đồng Khánh (s. 1870).
4172. 1980 – Hoàng Thị Cúc, được gọi là Đức Từ Cung, thứ phi của vua Khải Định, mẹ vua Bảo Đại (s. 1890).
4173. 1997
a. Nguyễn Xiển, nhà khoa học, chính khách Việt Nam (s. 27/7/1907)
b. Trần Hiệu, nhà hoạt động và chính trị gia người Việt Nam, Cục trưởng Tình báo đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. (s. 30/4/1914)
4174. 2020 – Lê Dinh, nhạc sĩ người Việt Nam (s. 1934).
TTT st&tc

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

 Giải Nobel (425)

1/ MỸ 192; 2/ ĐỨC 70, 3/ ANH 61; 4/ PHÁP 43; 5/Thụy Điển 27; 6/ Thụy Sĩ 17; 7/ Áo 13; 8/ Hà Lan 12; 9/ Đan Mạch 12; 10/ Ý 11; 11/ Bỉ 10; 12/ Nga 12;13/ Na Uy 9; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 7. 16/ Ba Lan 7; 17/ Nhật Bản 8; 18/ Canada 8; 19/ Úc 5; 20/ Scotland 5; 21/ Argentina 4; 22/ Phần Lan 3; 23/ Ấn Độ 3; 24/ Ireland 3; 25/ NewZealand 2; 26/ Ucraine 1; 27/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 28/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 29/ Liên Xô 4; 30/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1; 31/ Chi lê 2; 32/ Nam Phi 5; 33/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 2; 34/ Iceland 1; 35/ Sec 1; 36/ Hy Lạp 2; 37/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;38/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;39/ Irael 1; 40/ Guatemala 1;41/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 42/ Xứ Wales 1. 43/ Việt Nam 1.44/ Rumani 1; 45/ Croatia 1; 46/ Nam Tư 1; 47/ Tổ chức Ân xá quốc tế 1. 48/ Ai Cập 2; 49/ Israel 1; 50/ Pakistan 1; 51/ Colombia 1; 52/ Mexico 1; 53/ Tiệp Khắc 1; 54/ Hiệp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân 1; 55/ Đài Loan 1; 56/ Nigieria 1; 57/ Costa Rica 1; 58/ Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc 1;59/ Trung Quốc 1; 60/ Mexico 1; 61/Myanmar 1; 62/ Saint Lucia 1; 63/ Guatemala 1; 64/ Palestine 1
Yasser Arafat
(Tiếp theo và hết)
Chính quyền Palestine và các cuộc đàm phán hoà bình
Hiệp định Oslo
Đầu thập niên 1990, Arafat và các lãnh đạo hàng đầu khác của Fatah tham gia vào một loạt các cuộc đàm phán bí mật với chính phủ Israel dẫn tới Hiệp định Oslo năm 1993. Thoả thuận kêu gọi việc áp dụng sự tự quản của người Palestine tại một số phần ở Bờ Tây và Dải Gaza trong giai đoạn năm năm, cùng với một sự ngừng ngay lập tức và dần loại bỏ những khu định cư của Israel tại các khu vực đó. Hiệp định kêu gọi việc thành lập một lực lượng cảnh sát Palestine được tuyển mộ từ người dân địa phương và người Palestine ở nước ngoài, để kiểm soát các vùng tự quản. Quyền lực với nhiều lĩnh vực quản lý, gồm cả giáo dục và văn hoá an sinh xã hội, thuế trực tiếp và du lịch, sẽ được trao cho chính phủ lâm thời Palestine. Cả hai bên đồng ý về việc hình thành một uỷ ban sẽ thiết lập sự hợp tác và phối hợp với các vấn đề kinh tế riêng biệt, gồm cả các cơ sở, công nghiệp, thương mại và viễn thông.
Trước khi ký hiệp định, Arafat —với tư cách chủ tịch PLO và là đại diện chính thức của nó- đã ký hai lá thư từ bỏ bạo lực và chính thức công nhận Israel. Đổi lại, Thủ tướng Yitzhak Rabin, thay mặt cho Israel, chính thức công nhận PLO.
Năm sau đó, Arafat và Rabin đã được trao Giải Nobel Hoà bình, cùng với Shimon Peres. Phản ứng của người Palestine khá khác biệt. Mặt trận Cự tuyệt của PLO liên kết mình với những người Hồi giáo trong một mặt trận đối lập chung chống lại các thoả thuận. Hiệp định cũng bị người tị nạn Palestine tại Liban, Syria, và Jordan cũng như nhiều trí thức Palestine khác và giới lãnh đạo chính quyền địa phương Palestine phản đối. Tuy nhiên, những người dân tại các vùng lãnh thổ nói chung chấp nhận thoả thuận và lời hứa của Arafat về hoà bình và thịnh vượng kinh tế.
Thành lập chính quyền tại các vùng lãnh thổ
Theo các điều khoản của Hiệp định Oslo, Arafat được yêu cầu thiết lập chính quyền PLO tại Bờ Tây và Dải Gaza. Ông nhấn mạnh rằng sự hỗ trợ tài chính là tối cần thiết cho việc thành lập chính quyền này và là cần thiết để đảm bảo sự chấp nhận các thoả thuận của người Palestine sinh sống tại những vùng đất đó. Tuy nhiên, các quốc gia Ả Rập Vùng Vịnh Péc xích vốn thường là những nhà tài trợ của Arafat đã từ chối cung cấp cho PLO và ông ta bất kỳ khoản tiền lớn nào bởi tình cảm của ông với Iraq trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991. Ahmed Qurei —một nhà thương thuyết hàng đầu của Fatah trong những cuộc đàm phán tại Oslo— đã công khai thông báo rằng PLO đang ở tình trạng phá sản.
Năm 1994, Arafat rời tới Thành phố Gaza, một trong những vùng đất do Chính quyền Quốc gia Palestine (PNA) —thực thể lâm thời được tạo lập theo hiệp định Oslo- quản lý. Arafat trở thành Tổng thống và Thủ tướng của PNA, Tổng tư lệnh Quân đội Giải phóng Palestine (PLA) và Người phát ngôn của Hội đồng Lập pháp Palestin (PLC). Tháng 7, sau khi PNA được tuyên bố là chính phủ chính thức của người Palestine, Luật Căn bản của Chính quyền Quốc gia Palestine được PLO công bố, trong ba phiên bản khác nhau. Arafat bắt đầu xây dựng một cơ cấu cho PNA. Ông thành lập một hội đồng hành pháp hay nội các gồm hai mươi thành viên. Arafat cũng có quyền tự do thay thế và chỉ định các thị trưởng và các hội đồng thành phố tại các thành phố lớn như Gaza và Nablus. Ông bắt đầu sáp nhập các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, và an sinh xã hội dưới chính quyền mình bằng cách thay thế các lãnh đạo và giám đốc được bầu ra bằng các quan chức Chính quyền Quốc gia Palestine trung thành với mình. Sau đó ông tự chỉ định mình là chủ tịch tổ chức tài chính Palestine đã được Ngân hàng Thế giới thành lập để kiểm soát hầu hết các khoản viện trợ tài chính cho thực thể Palestine mới.
Arafat đã thành lập một lực lượng cảnh sát Palestine, với tên gọi Lực lượng An ninh Ngăn chặn (PSS), bắt đầu hoạt động ngày 13 tháng 5. Nó chủ yếu gồm các binh sĩ PLA và những người Palestine tình nguyện ở nước ngoài. Arafat chỉ định Mohammed Dahlan và Jibril Rajoub lãnh đạo tổ chức này. Ân xá Quốc tế đã cáo buộc Arafat và giới lãnh đạo PNA vì đã không điều tra một cách thích đáng các vụ lạm dụng do PSS gây ra (gồm cả tra tấn và giết hại trái pháp luật) các đối thủ chính trị và những người bất đồng cũng như những vụ bắt giữ các nhà hoạt động nhân quyền.
Ngày 24 tháng 7 năm 1995, vợ của Arafat là Suha đã sinh một bé gái tại Sorbonne, Pháp. Cô bé được đặt tên là Zahwa theo tên người mẹ đã mất của Arafat.
Trong suốt tháng 11, 12 năm 1995, Arafat đã đi tới hàng chục thành phố và thị trấn Palestine đã bị các lực lượng Israel di tản, gồm cả Jenin, Ramallah, al-Bireh, Nablus, Qalqilyah và Tulkarm, tuyên bố chúng đã được "giải phóng". PNA cũng giành được quyền kiểm soát dịch vụ bưu chính trong giai đoạn này. Ngày 20 tháng 1 năm 1996, Arafat được bầu làm tổng thống PNA, với đa số 88.2% (ứng cử viên duy nhất khác là nhà tổ chức từ thiện Samiha Khalil). Tuy nhiên, bởi Hamas, DFLP và các phong trào đối lập nhân dân khác lựa chọn tẩy chay cuộc bầu cử tổng thống, những lựa chọn đã bị hạn chế. Thắng lợi lớn của Arafat đã đảm bảo cho Fatah 51 trong tổng số 88 ghế trong PLC. Sau khi Arafat được bầu vào chức Tổng thống PNA, ông thường được gọi là Ra'is, (dịch nghĩa là Tổng thống trong tiếng Ả Rập), dù ông tự gọi mình là "tướng quân". Năm 1997, PLC cáo buộc nhánh hành pháp của PNA quản lý tài chính sai lệch dẫn đến sự từ chức của bốn thành viên trong nội các của Arafat. Arafat đã từ chối từ chức.
Các thoả thuận hoà bình khác
Giữa năm 1996, Benjamin Netanyahu được bầu làm Thủ tướng Israel với chênh lệch chỉ một phần trăm. Quan hệ Palestine-Israel thậm chí còn trở nên căng thẳng hơn do hậu quả của một cuộc xung đột tiếp diễn. Dù có thoả thuận Israel-PLO, Netanyahu phản đối ý tưởng về nhà nước Palestine. Năm 1998, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã thuyết phục hai nhà lãnh đạo gặp gỡ. Kết quả là Bản ghi nhớ Sông Wye vạch ra chi tiết các bước sẽ được chính phủ Israel và PNA tiến hành để hoàn thành quá trình hoà bình.
Arafat tiếp tục những cuộc đàm phán với người kế vị Netanyahu là Ehud Barak, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trại David tháng 7 năm 2000. Một phần bởi quan điểm chính trị của riêng mình (Barak thuộc Công Đảng cánh tả, trong khi Netanyahu thuộc Đảng Likud cánh hữu) và một phần bởi sự thúc bách thoả hiệp của Tổng thống Clinton, Barak đã đề xuất với Arafat về một nhà nước Palestine ở 73% lãnh thổ Bờ Tây và Dải Gaza. Phần trăm chủ quyền của Palestien sẽ được mở rộng lên 91% (94% ngoại trừ Jerusalem) trong một thời hạn mười tới hai mươi năm. Đổi lại là việc chiếm giữ những khu vực ở Bờ Tây nơi có những khu định cư chính của Israel, Barak đề xuất khu vực tương tự ở sa mạc Negev của Israel. Cũng bao gồm trong đề xuất là việc quay trở lại của một số lượng nhỏ người tị nạn và khoản bồi thường cho những người không được phép quay về. Arafat bác bỏ đề xuất của Barak và từ chối thực hiện một đề xuất đổi lại ngay lập tức. Ông nói với Tổng thống Clinton rằng, "nhà lãnh đạo Ả Rập người nhượng lại Jerusalem vẫn còn chưa sinh". Động thái này đã bị thậm chí cả một thành viên trong phái đoàn đàm phán và nội các của ông là Nabil Amr chỉ trích.
Những cuộc đàm phán tiếp tục diễn ra tại Hội nghị Thượng đỉnh Taba tháng 1 năm 2001; lần này, Ehud Barak đã rút khỏi các cuộc đàm phán để thực hiện chiến dịch tranh cử tại Israel. Tháng 10 và tháng 12 năm 2001, những cuộc đánh bom tự sát của các nhóm du kích Palestine đã gia tăng và những cuộc phản kích của Israel cũng tăng thêm, gây ra sự bùng phát của phong trào Intifada lần thứ hai. Sau thắng lợi bầu cử của Ariel Sharon vào tháng 2, tiến trình hoà bình đã có một bước thụt lùi. Cuộc bầu cử của Palestine dự định vào tháng 1 năm 2002 đã bị trì hoãn - lý do được đưa ra là việc không thể thực hiện tranh cử trong khi những điều kiện khẩn cấp đang được áp dụng bởi phong trào Intifada, cũng như những cuộc tấn công và các biện pháp hạn chế tự do di chuyển của quân đội Israel tại các lãnh thổ Palestine. Cũng trong tháng này, Sharon ra lệnh giam giữ Arafat tại trụ sở của ông tại Mukata'a ở Ramallah, sau một vụ đánh bom tự sát tại thành phố Hadera của Israel; Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush ủng hộ hành động của Sharon, tuyên bố rằng Arafat là "một vật cản với tiến trình hoà bình".
Tồn tại chính trị
Ông Arafat nhận giải Nobel hòa bình
Cuộc sống cá nhân và chính trị lâu dài của Arafat được hầu hết các nhà bình luận phương Tây coi là một dấu hiệu chứng minh cho khả năng chiến tranh bất đối xứng và tài năng chiến thuật của ông, trong điều kiện không khí chính trị vô cùng nguy hiểm ở Trung Đông và tần số diễn ra những vụ ám sát. Một số nhà bình luận tin rằng khả năng tồn tại của ông phần lớn bởi sự lo ngại của Israel rằng ông có thể trở thành một người tử vì đạo cho lý tưởng của người Palestine nếu ông bị ám sát hay thậm chí chỉ bị Israel bắt giữ. Những người khác tin rằng Israel đã kiềm chế đưa ra hành động chống lại Arafat bởi họ lo ít lo ngại với ông hơn so với Hamas và các phong trào Hồi giáo khác đang giành được nhiều ảnh hưởng hơn so với Fatah. Sự phức tạp và mong manh của quan hệ giữa Hoa Kỳ, Israel, Ả Rập Xê Út và các quốc gia Ả Rập khác cũng góp phần vào sự tồn tại lâu dài với tư cách nhà lãnh đạo người dân Palestine của Arafat.
Israel đã tìm cách ám sát Arafat trong một số thời điểm, nhưng chưa bao giờ sử dụng những điệp viên của chính mình, thay vào đó "hướng" người Palestine tới mục tiêu dự định, thường bằng cách sử dụng việc hăm doạ. Theo Alan Hart, thứ Mossad ưa thích sử dụng là đầu độc. Theo Abu Iyad, hai vụ đã được lực lượng Mosaad và Ban giám đốc Quân đội thực hiện với mục tiêu là Arafat trong năm 1970. Năm 1976, Abu Sa'ed, một điệp viên/kẻ phản bội người Palestine đã làm việc được bốn năm cho Mosaad, đã tham gia vào một âm mưu bỏ các viên thuốc độc trông giống như gạo vào trong thức ăn của Arafat. Abu Iyad giải thích rằng Abu Sa'ed đã thú nhận sau khi anh ta nhận được lệnh tiếp tục thực hiện, giải thích rằng mình không thể thực hiện toàn bộ nhiệm vụ bởi, "Thứ nhất ông ta là một người Palestine và lương tâm của anh ta sẽ không cho phép anh ta làm như vậy."
Quan hệ với Hamas và các nhóm du kích khác
Khả năng của Arafat trong việc biến đổi phù hợp với các tình thế chiến thuật và chính trị mới có lẽ đã được thử nghiệm với sự trỗi dậy của Hamas và các tổ chức Jihad Hồi giáo Palestine (PIJ), các nhóm Hồi giáo tán thành các chính sách loại bỏ đối với Israel. Các nhóm này thường đánh bom các mục tiêu phi quân sự, như các khu phố buôn bán và các rạp chiếu phim, để tăng ảnh hưởng tâm lý và thương vong với dân thường. Trong thập niên 1990, các nhóm này dường như đã đe doạ tới khả năng của Arafat trong việc giữ được một tổ chức quốc gia thống nhất với mục tiêu là một nhà nước. Họ có vẻ ở bên ngoài tầm ảnh hưởng và kiểm soát của Arafat, và chiến đấu kịch liệt với Fatah. Một số thông tin cho rằng những hành động của các nhóm này thường được Arafat khoan thứ như một biện pháp để gây sức ép với Israel.
Năm 2002, Liên đoàn Ả Rập đã có một đề xuất công nhận Israel để đổi lấy việc nước này rút quân khỏi toàn bộ các lãnh thổ đã chiếm đóng trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày và một nhà nước của người Palestien do PNA của Arafat quản lý. Ngay sau đó, một vụ tấn công do các chiến binh Hamas tiến hành đã làm thiệt mạng hai chín thường dân Israel đang ăn mừng Lễ quá hải gồm cả nhiều người nổi tiếng. Để trả đũa, Israel tung ra Chiến dịch Lá chắn Phòng thủ, một cuộc tấn công quân sự lớn vào các thành phố chính tại Bờ Tây.
Một số quan chức chính phủ Israel đã phát biểu vào năm 2002 rằng các nhóm vũ trang thuộc Fatah Các lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa đã bắt đầu các cuộc tấn công vào Israel nhằm cạnh tranh với Hamas. Ngày 6 tháng 5, chính phủ Israel đã ra một báo cáo, dựa một phần trên các tài liệu thu được trong thời gian Israel chiếm đóng trụ sở của Arafat tại Ramallah, bao gồm nhiều bản copy các tài liệu do Arafat ký cho phép cung cấp tiền cho các hoạt động của các Lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa.
Những nỗ lực cách ly
Những nỗ lực liên tục của chính phủ Israel để xác định một nhà lãnh đạo Palestine khác đại diện cho nhân dân Palestine đã không thành công. Arafat nhận được sự ủng hộ của các nhóm, dù ông có hoạt động quá khứ của riêng mình, bình thường khá thận trọng trong việc tiếp xúc hay ủng hộ ông. Marwan Barghouti (một lãnh đạo của Lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa) đã xuất hiện như một khả năng thay thế trong phong trào Intifada Lần thứ hai, nhưng Israel đã bắt giữ ông ta vì liên quan tới việc giết hại hai mươi sáu thường dân, và ông đã bị tuyên năm án tù chung thân.
Arafat cuối cùng đã được phép rời trụ sở của ông ngày 2 tháng 5 sau những cuộc đàm phán liên tục dẫn tới một giải pháp: sáu chiến binh PFLP —gồm cả tổng thư ký của tổ chức là Ahmad Sa'adat— bị Israel truy nã, người ẩn trốn cùng Arafat toà nhà trụ sở của ông, sẽ không bị chuyển giao cho Israel, nhưng thay vào đó sẽ bị PNA truy tố. Quả thực, một đội nhân viên an ninh liên hợp của Anh và Mỹ sẽ đảm bảo rằng những người bị truy nã sẽ bị giam giữ tại Jericho. (Những người này sau đó đã bị Israel bắt giữ trong một cuộc đột kích đêm vào nhà tù này năm 2006.) Với điều đó, và một lời hứa rằng ông sẽ theo đuổi một lời kêu gọi người Palestine ngừng các cuộc tấn công vào người dân Israel, Arafat đã được thả ra. Ông đã ra một lời kêu gọi như vậy ngày 8 tháng 5, nhưng như những nỗ lực trước đó, nó hầu như không được để ý tới. In 2003, Arafat ceded his post as Prime Minister to Mahmoud Abbas amid pressures by the US.
Năm 2004, Tổng thống Bush đã không còn coi Arafat là một đối tác đàm phán nữa, nói rằng ông ta đã "không thể là một người lãnh đạo" và cáo buộc ông cắt xén quyền lực của Abbas khi ông này đang làm thủ tướng (Abbas đã từ chức trong cùng năm ông được trao chức vụ này). Arafat có một mối quan hệ phức tạp với các lãnh đạo các quốc gia Ả Rập khác. Sự ủng hộ của họ với ông dường như đã gia tăng bất cứ khi nào ông bị Israel gây sức ép; ví dụ, khi Israel tuyên bố vào năm 2003 rằng họ đã ra quyết định, trên nguyên tắc, đưa ông ra khỏi Bờ Tây do Israel kiểm soát. Trong một cuộc phỏng vấn với mạng lưới tin tức Ả Rập Al-Jazeera, Arafat đã phản ứng trước đề nghị của Ariel Sharon rằng ông sẽ bị trục xuất vĩnh viễn khỏi các lãnh thổ Palestine, khi nói, "Đó là quê hương của ông ta [Sharon] hay của chúng ta? Chúng ta đã ở đây khi Nhà tiên tri Abraham tới, nhưng có lẽ họ [người Israel] không hiểu lịch sử hay địa lý."
Những vấn đề về tài chính
Tháng 8 năm 2002, Lãnh đạo Tình báo Quân sự Israel đã cho rằng tài sản cá nhân của Arafat trong khoảng $1.3 tỷ. Năm 2003 Quỹ Tiền tệ Quốc tệ (IMF) đã tiến hành một cuộc kiểm toán PNA và nói rằng Arafat đã chuyển $900 triệu trong các quỹ công cộng tới một tài khoản ngân hàng do Arafat và cố vấn Kinh tế Tài chính PNA quản lý. Tuy nhiên, IMF không tuyên bố rằng có bất kỳ sự không thích hợp nào, và họ đã nói rõ rằng hầu hết các khoản quỹ đã được sử dụng để đầu tư vào các tài sản của Palestine, cả trong và ngoài nước.
Tuy nhiên năm 2003, một đội kế toán viên Mỹ - do Bộ tài chính của chính Arafat thuê - đã bắt đầu xem xét các khoản tài chính của Arafat; đội này đã có một kết luận khác. Đội tuyên bố rằng một phần tài sản của nhà lãnh đạo Palestine nằm trong một danh mục ngân hàng bí mật trị giá gần $1 tỷ, với các khoản đầu tư trong những công ty như một nhà máy đóng chai của Coca-Cola ở Ramallah, một nhà máy điện thoại di động Tunisia và các quỹ liên doanh tại Hoa Kỳ và Quần đảo Cayman. Người lãnh đạo cuộc điều tra đã nói rằng "dù tiền cho tài khoản tới từ các quỹ công cộng như các khoản thuế của Palestine, rõ ràng không đồng nào trong số đó được chi tiêu cho người dân Palestine; tất cả đều do Arafat quản lý. và không một giao dịch nào trong số đó được công khai."
Dù Arafat có cuộc sống giản dị, Dennis Ross, từng là nhà đàm phán tại Trung Đông cho các Tổng thống George H.W. Bush và Bill Clinton, đã nói rằng "số tiền chạy quanh" của Arafat chi tiêu cho một hệ thống bảo trợ to lớn được gọi là chủ nghĩa bảo trợ mới. Theo Salam Fayyad —một cựu quan chức Ngân hàng Thế giới đã được Arafat chỉ định làm Bộ trưởng Tài chính của PNA năm 2002— những mặt hàng độc quyền của Arafat có thể được coi một cách chính sách là một trò lừa đảo với chính đồng bào ông, "đặc biệt tại Gaza nơi nghèo hơn, là điều hoàn toàn không thể chấp nhận và vô đạo đức." Fayyad tuyên bố rằng Arafat đã sử dụng $20 triệu từ các quỹ công cộng để trả riêng cho các lực lượng an ninh cho giới lãnh đạo của PNA (Phòng An ninh Ngăn chặn).
Fuad Shubaki, cựu trợ lý tài chính của Arafat, đã nói với cơ quan an ninh Israel Shin Bet rằng Arafat đã sử dụng nhiều triệu dollar tiền viện trợ để mua vũ khí và cung cấp cho các nhóm du kích. Trong Chiến dịch Lá chắn Phòng vệ của Israel, quân đội Israel đã tìm thấy tiền giả và những tài liệu từ trụ sở của Arafat ở Ramallah. Người Palestine tuyên bố rằng tiền giả là số tiền tịch thu được từ các nhóm tội phạm.
Tình trạng sức khoẻ kém và cái chết
Những báo cáo đầu tiên về việc điều trị của Arafat do các bác sĩ của ông đưa ra về cái mà người phát ngôn của ông gọi là "bệnh cúm" xuất hiện ngày 25 tháng 10 năm 2004, sau khi ông bị nôn mửa trong một cuộc gặp. Các điều kiện sức khoẻ của ông tiếp tục kém đi trong những ngày sau đó. Sau những chuyến thăm bệnh của các bác sĩ khác, gồm cả các đội y tế từ Tunisia, Jordan, và Ai Cập —một thoả thuận của Israel không ngăn cản việc quay trở lại của ông- Arafat đã được đưa lên một chiếc máy bay của chính phủ Pháp tới bệnh viện quân sự Percy tại Clamart, một vùng phụ cận của Paris. Thông báo chính thức về cái chết của ông không xác định được nguyên nhân cái chết, chỉ nói rằng ông có một sự "rối loạn máu bất thường". Ngày 3 tháng 11, ông dần rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Trong những ngày sau đó, sức khoẻ của Arafat là chủ đề của một số lời bàn tán, với nghi vấn rằng ông bị đầu độc hay AIDS. Nhiều nguồn tin dự đoán rằng Arafat bị hôn mê, trong một "tình trạng thực vật" hay chết, tuy nhiên, chính quyền Palestine và bác sĩ người Jordan của Arafat bác bỏ các báo cáo rằng Arafat đã chết não và đang phải được hỗ trợ sự sống.
Một cuộc tranh cãi nổ ra giữa các quan chức của PNA và Suha Arafat khi các quan chức từ PNA tới Pháp để thăm Arafat. Suha đã tuyên bố "Họ đang tìm cách chôn sống Abu Ammar [Arafat]". Luật của Pháp cấm các bác sĩ thảo luận điều kiện của các bệnh nhân của mình với bất kỳ ai với một ngoại lệ, trong trường hợp có tiên lượng nghiêm trọng, có thể thực hiện với họ hàng gần. Theo đó, mọi thông tin liên quan tới sức khoẻ của Arafat phải được vợ ông cho phép. Các quan chức Palestine đã thể hiện sự lấy làm tiếc rằng các thông tin về Yasser Arafat đã bị bà "lọc" trước.
Ngày hôm sau, lãnh đạo nhóm bác sĩ Christian Estripeau thuộc bệnh viện Percy đã thông báo rằng điều kiện sức khoẻ của Arafat đã tồi tệ thêm, và rằng ông đã rơi vào một cơn hôn mê sâu. Sheikh Taissir Tamimi, người lãnh đạo toà án Hồi giáo của các lãnh thổ Palestine - người có một vị trí bên cạnh giường bệnh của Arafat— đã tới thăm Arafat và tuyên bố rằng không nên đặt câu hỏi về việc ngắt ông khỏi các phương tiện hỗ trợ sự sống, theo ông, một hành động như vậy bị cấm trong Đạo Hồi.
Arafat được thông báo qua đời lúc 3:30 sáng UTC ngày 11 tháng 11 ở độ tuổi 75. Nguyên nhân chính xác tình trạng sức khoẻ kém của ông không được biết. Tamimi đã miêu tả nó là "một cảnh rất đáng thương." Khi cái chết của Arafat được thông báo, người dân Palestien rơi vào tình trạng tang tóc, với những lời cầu nguyện kinh Qur'an phát ra từ những loa phóng thanh của các thánh đường Hồi giáo và những lốp xe bị đốt trên phố. Một thông cáo tại Socialist World nói: "Nhiều người Palestine sẽ coi cái chết của Yasser Arafat với sự pha trộn giữa tiếc thương và mong muốn rằng Chính quyền Palestine mà ông lãnh đạo, sẽ làm việc nhiều nữa để chấm dứt sự đói nghèo và áp bức đang đè nặng lên cuộc đời của họ".
Tờ Con Vịt Buộc đã thông báo về những cái gọi là rò rỉ tin tức bởi những nguồn tin y tế không nêu tên tại bệnh viện Percy người đã có cơ hội tiếp cận với Arafat và hồ sơ y tế của ông. Theo tờ báo, các bác sĩ tại bệnh viện Percy đã nghi ngờ, từ khi Arafat được đưa tới nơi, về những thương tổn nghiêm trọng với gan dẫn tới sự thay đổi trong thành phần máu; vì thế Arafat đã được đặt nằm trong khoa huyết học. Bệnh bạch cầu đã "bị loại bỏ hoàn toàn". Theo cùng nguồn tin, lý do tại sao sự chẩn đoán bệnh gan mãn tính này không thể được công khai là bởi, trong tâm trí của mọi người, bệnh gan nói chung liên quan tới những hậu quả của việc lạm dụng rượu. Thậm chí chẩn đoán không phải là một chứng bệnh gan do rượu và Arafat không từng được biết có uống rượu, có những lời đồn kiểu như vậy. Nguồn tin giải thích rằng các điều kiện sống của Arafat không giúp cải thiện được nhiều tình hình này. Vì thế, theo nguồn tin, những nguyên nhân có thể của căn bệnh có thể do nhiều yếu tố; sự hôn mê của Arafat là hậu quả của tình trạng trầm trọng thêm của bệnh gan. Tờ báo Pháp Le Monde đã trích dẫn các bác sĩ nói rằng ông bị "một căn bệnh máu hiếm gặp và vấn đề về gan".
Sau cái chết của Arafat, Bộ Quốc phòng Pháp nói rằng hồ sơ y khoa của Arafat sẽ chỉ được trao cho người họ hàng gần nhất của ông. Mọi người quyết định rằng người cháu của Arafat và cũng là đại diện của PNA tại Liên hiệp quốc, Nasser al-Qudwa, là một người họ hàng đủ thân cận, vì thế sẽ làm việc quanh sự im lặng của Suha Arafat về tình trạng bệnh tật của chồng bà. Nasser al-Qudwa đã được Bộ Quốc phòng Pháp trao một bản copy hồ sơ y tế của Arafat dày 558 trang.
Những đồn thổi về nguyên nhân cái chết
Bassam Abu Sharif, cựu cố vấn của Arafat, tuyên bố rằng Mossad đã đầu độc Arafat qua các loại thuốc của ông. Một "bác sĩ cao cấp của Israel" tuyên bố trong một bài báo trên tờ Haaretz rằng đó là "một trường hợp cổ điển về đầu độc thực phẩm", có lẽ gây ra bởi một bữa ăn đã được dùng khoảng bốn giờ trước khi ông bị ốm và có thể chứa một loại chất độc như ricin, chứ không phải kiểu đầu độc vi khuẩn tiêu chuẩn. Tuy nhiên, cùng trong tuần khi tờ Haaretz phát hành bài báo trên, The New York Times công bố một báo cáo riêng biệt, cũng dựa trên việc tiếp cận hồ sơ y tế của Arafat, cho rằng không có vẻ Arafat bị đầu độc bằng thực phẩm. Cả hai bài báo đều còn nói tiếp rằng nguyên nhân cái chết có thể là một sự nhiễm trùng có nguồn gốc tự nhiên chưa được biết. Tuy nhiên, những lời đồn đại về việc Arafat bị đầu độc vẫn thường xuất hiện trên thế giới, và đặc biệt trong dân chúng Ả Rập. Al-Kurdi đã lấy làm tiếc trước sự thực rằng người vợ goá của Arafat là Suha đã từ chối một cuộc xét nghiệm pháp y, vốn có thể trả lời cho nhiều câu hỏi liên quan tới nguyên nhân cái chết. Năm 2005, al-Kurdi đã kêu gọi việc thành lập một uỷ ban độc lập để tiến hành những cuộc điều tra liên quan tới cái chết gây nghi vấn của Arafat, nói, "bất kỳ một bác sĩ nào sẽ nói với bạn rằng có những triệu chứng của việc đầu độc".
John Loftus đã thông báo trên ABC radio rằng Araft chết vì bệnh AIDS. Theo Loftus, CIA đã biết về điều kiện sức khoẻ của ông, và thuyết phục Israel không ám sát ông và chờ đợi tới cái chết không thể tránh khỏi vì bệnh tật, bởi sự tiết lộ sau đó về cái được cho là tình trạng đồng tính của ông sẽ làm ông mất uy tín.
Tháng 9 năm 2005, tờ báo Israel Haaretz đã thông báo rằng các chuyên gia của Pháp không thể xác định nguyên nhân cái chết của Arafat. Tờ báo trích dẫn một chuyên gia AIDS của Israel người tuyên bố rằng Arafat có mọi triệu chứng của bệnh AIDS, một giả thuyết sau này đã bị tờ The New York Times bác bỏ. Ashraf al-Kurdi, một bác sĩ riêng Arafat trong hai mươi năm người cũng từng điều trị cho các Vua Hashemite của Jordan, sau này đã tuyên bố rằng không điều gì trong hồ sơ y tế của Arafat đề cập tới sự tồn tại của một sự nhiễm trùng như vậy.
Điều tra nguyên nhân cái chết
Sau vụ điệp viên KGB Aleksandr Valterovich Litvinenko bị ám sát bằng đầu độc phóng xạ có triệu chứng giống hệt. Yasser Arafat cũng được cho là bị đầu độc bởi Polonium. Bằng chứng cho rằng ông bị đầu độc bằng Polonium được đưa ra tám năm sau (2012). Người ta đã khai quật mộ ông lên và lấy mẫu kiểm tra. Các nhà khoa học Thụy Sĩ đã kết luận rằng nồng độ Polonium trong cơ thể nhà lãnh đạo Palestine cao bất thường. Israel bị nghi ngờ là đã gây ra vụ đầu độc này.
Kết quả
Lễ tang
Ngày 11 tháng 11, Đội quân Danh dự của Quân đội Pháp đã tổ chức một lễ tang cho Arafat tại một sân bay quân sự gần Paris. Tổng thống Jacques Chirac đứng một mình bên cạnh thi thể của Arafat trong khoảng mười phút trong một sự thể hiện sự tôn trọng cuối cùng cho một nhà lãnh đạo mà ông gọi là, "một người dũng cảm". Ngày hôm sau, Arafat được máy bay đưa về thủ đô Cairo của Ai Cập cho một tang lễ quân sự ngắn khác tại đó, trước khi ông được chôn cất ở Ramallah, cuối ngày hôm đó. Lễ tang được nhiều nguyên thủ quốc gia, thủ tướng và bộ trưởng ngoại giao tham dự. Tu sĩ Hồi giáo hàng đầu của Ai Cập Sayed Tantawi chỉ huy những người cầu nguyện trong tiến trình lễ tang.
Vệ binh danh dự ở tư thế đứng nghiêm bên cạnh ngôi mộ đá của Yasser Arafat trong lăng, mở cửa ngày 10 tháng 11 năm 2007 tại Phủ tổng thống ở Ramallah
Israel từ chối mong muốn của Arafat được chôn cất gần al-Aqsa Mosque hay bất kỳ nơi đâu ở Jerusalem, diễn ra những lo ngại về an ninh. Sau lễ tang tại Cairo, Arafat được đặt nghỉ "tạm" bên trong Trụ sở cũ tại Ramallah; hàng chục nghìn người Palestine đã tham dự buổi lễ. Cũng tham gia lễ tang còn có một người Do Thái ủng hộ hoà bình và một bộ trưởng Thiên chúa giáo. Sau khi Sheikh Taissir Tamimi phát hiện rằng Arafat không được chôn đúng cách và trong một quan tài - không thích hợp với luật Hồi giáo– Arafat đã được chôn lại vào buổi sáng ngày 13 tháng 11, lúc khoảng 3:00 sáng. Ngày 10 tháng 11 năm 2007, trước buổi kỷ niệm lần thứ ba ngày mất của Arafat, Abbas đã khai trương một lăng cho Arafat gần ngôi mộ tạm của ông trong một hành động để tưởng nhớ Arafat.
Người kế vị
Ngay khi Arafat qua đời, Người phát ngôn Hội đồng Lập pháp Palestin Rawhi Fattouh đã kế vị Arafat trở thành Tổng thống lâm thời của PNA. Tổng thư ký PLO Mahmoud Abbas đã được chọn làm Chủ tịch PLO, và Farouk Kaddoumi trở thành lãnh đạo Fatah. PNA và giới lãnh đạo các trại tị nạn Palestine ở Liban tuyên bố bốn mươi ngày để tang cho Arafat. Abbas đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 1 năm 2005 với một cách biệt nhỏ, đưa ông trở thành người kế tục của Arafat với tư cách lãnh đạo của người dân Palestine.
Câu nói
Sự khác biệt giữa cách mạng và khủng bố nằm ở lý lẽ mà anh ta đấu tranh
Tôi đến đây mang theo cành ô liu và khẩu súng của người chiến sĩ đấu tranh vì tự do. Xin đừng để cành ô liu rơi khỏi tay tôi
Tôi chưa có tổ quốc, Việt Nam là tổ quốc của tôi (Phát biểu năm 1970 khi đến thăm Việt Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam)
81125-st