Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020

Những tấm lòng vàng trong lúc khó khăn
1420-st
Hà Nhật TânTheo dõi
20 QUÁN CƠM MIỄN PHÍ HOẶC DƯỚI 5000 Đ PHỤC VỤ BÀ CON Ở TP.HCM
(NHỮNG TẤM LÒNG QUÝ HƠN VÀNG TRONG MÙA DỊCH #wuhanvirus)
(Mọi người chia sẻ để giúp bà con nhé. Vì bà con không xài fb, nếu được xin in ra, dán những nơi dễ thấy)
Kính mời bà con bán vé số, bà con cơ nhỡ, khó khăn... ghé các quán sau để nhận cơm miễn phí (hoặc có giá dưới 5000đ):
1. Quán chay Bình An
49 Ngô Quyền, Phường 6, Q10, TpHCM.
- giá bán: miễn phí
2. Số 18 Chế Lan Viên, phường Tây Thạnh, Quận Tân Phú Tp.HCM (quán Nướng Yaki)
3. Nụ Cười 1: số 6 Cống Quỳnh - Q1
- Phục vụ : từ 10h30 sáng các ngày từ thứ 2 - thứ 7 hàng tuần
- Giá bán : 1000đ
4. Nụ Cười 2: 371 Tân Sơn Nhì , P.Tân Thành, Q.Tân Phú
- Phục vụ : từ 10h30 sáng các ngày từ thứ 2 - thứ 7 hàng tuần
- Giá bán : 1000đ
5. Nụ Cười 3: 1276 Huỳnh Tấn Phát , P. Phú Mỹ , Q7
- Phục vụ : từ 10h30 sáng các ngày thứ 2,4,6) - Ngày chẵn.
- Giá bán : 1000đ
6. Nụ Cười 4: 132 Bến Vân Đồn, Q4
- Phục vụ :từ 10h30 sáng các ngày thứ 3,5,7) - Ngày Lẻ.
- Giá bán : 1000đ
7. Quán Cơm Chay Xã Hội Cường Béo 154/4 Tôn Thất Đạm, Phường Bến Nghé , Quận 1, HCM
- Phục vụ : cả tuần
- Giá 5000đ
8. Điểm phát cơm CLB Từ Thiện Hỷ Lạc
66 Vạn Kiếp, Phường 3 , quận Bình Thạnh
- Phục vụ: chủ nhật tuần 2 và chủ nhật tuần 4 trong tháng( 1 tháng phục vụ 2 lần)
- Giá : miễn phí (ngoài cơm còn có sữa và chuối)
9. Quán cơm 2000đ (Số 88/13 Bình Trưng, P. Bình Trưng Đông (Q2, TP.HCM).
- Phục vụ: Cả tuần
- Giá : 300 suất miễn Phí, 100 suất 2,000đ.
10. Bếp ăn từ thiện Bảo Hòa (220 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP HCM))
- Phục vụ : cả tuần
- Giá bán : 2,000đ
11. Quán Ăn Chay Từ Tâm (33 Trần Nhân Tôn, Phường 2, Quận 10, TP HCM) - Đối diện cổng sau cao đẳng kinh tế thành phố
- Phục vụ : T2, T4, T6
- Giá bán : 5,000đ
12. Quán Cơm Nhà Thờ Hầm (Đường số 3, cư xá Lữ Gia, Quận 11). Quán nằm trên đường Nguyễn Thị Nhỏ
- Phục vụ : T2, T4, T6
- Giá bán : 2,000đ
13. Quán Cơm Thiện Tâm (174/30A đường Chu Văn An, phường 12, quận Bình Thạnh)
- Phục vụ : Từ 10h30 - Tất cả các ngày
- Giá bán : 2,000đ
14. Chùa Vạn Thiện (Hẻm 360 đường Trần Phú, Phường 4, Quận 5 - TPHCM). Nằm gần ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Sư phạm, ĐH Sài Gòn, Cao đẳng Phát thanh Truyền hình 2
- Phục vụ : Ngày 30, 1, 14, 15 (âm lịch) hàng tháng
- Giá bán : Miễn phí
15. Cơm Chay Xã Hội (Số 53 Vũ Tùng, Phường 1, Quận Bình Thạnh, TP HCM)
- Phục vụ : Tất cả các ngày. (Ngày 2 bữa)
- Giá bán : 2,000đ
16. Quán cơm chay 5k (Đường Chương Dương gần Chợ Thủ Đức, từ ngã 4 Thử Đức quẹo xuống hướng chợ Thủ Đức khoảng 1,5Km, quẹo phải khoảng 400m, bên tay phải)
- Phục vụ : Tất cả các ngày. (Ngày 2 bữa)
- Giá bán : 2,000đ
17. Quán cơm chay từ thiện tương trợ Nụ Cười 2 (Số 46/22 Nguyễn Ngọc Nhựt, phường Tân Quý, quận Tân Phú, TP.HCM)
- Phục vụ : T2, T4, T6
- Giá bán : 2,000đ
18. Quán cơm từ thiện quận Tân Bình (2/5 Chấn Hưng, Phường 6, Quận Tân Bình, TP HCM)
- Phục vụ : T3, T5
- Giá bán : 5,000đ
19. Cơm chay Vợ Thằng Đậu (Số 40, Đặng Văn Bi , Quận Thủ Đức, Tp. HCM)
- Phục vụ : Hàng ngày: 10 giờ 30 - 11 giờ 30 trưa
- Giá bán : Miễn phí
20. Nhà hàng Tano central (Ngã tư Lý Tự Trọng - Hai Bà Trưng)
- Phục vụ : 16h00 từ Thứ 2 đến Thứ 6 hàng tuần
- Giá bán : 2,000đ
* Để tránh dịch, bà con nhớ đeo khẩu trang, mang về, không ăn tại quán. Khi đến nhớ xếp hàng cách nhau 2m nghen.
Chúc bà con ngon miệng. Mong bà con vượt qua khó khăn.
-------
(Mọi người chia sẻ để giúp bà con nhé. Vì bà con không xài fb, nếu được xin in ra, dán những nơi dễ thấy)
-----
P/s:
1. Bà con quận 8 truyền thông điệp cho người bán vé số dùm:
6h chiều nhận gạo tại số 8 Hoàng Kim Giao - phường 5 - Q.8 - TPHCM (340 Phạm Hùng).
2. Vào 5 giờ chiều ngày 1/04 tại số 107 đường Phạm Ngũ Lão, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 (gần công viên 23 tháng 9 - giữa đường Lê Lai và Phạm Ngũ Lão) các mạnh thường quân sẽ tặng 1 phần bánh sandwich miễn phí cho bà con cơ nhỡ (1 chiếc cho mỗi người). Xin kính mời. Mọi chi tiết xin liên hệ: fb.com/nastia.romanova.5245
(Nếu có thêm thông tin Phễu tui sẽ update tiếp)
----
(Dáo Xư Phễu copy và chỉnh sửa từ fb thầy Nguyễn Cao Trọng và cmt của Hang Tran)

Quanh năm dối thật thành quen


Một ngày dối gỉa chả chen được vào

1420-NBD
Di tích lịch sử N’Trang Gưh - Ðắk Nông
Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N’Trang Gưh thuộc xã Buôn Choáh (huyện Krông Nô) đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây là nơi lưu dấu phần mộ của N’Trang Gưh, buôn làng, cánh đồng và căn cứ địa của nghĩa quân do thủ lĩnh N’Trang Gưh lãnh đạo chống quân Xiêm năm 1884 - 1887 và thực dân Pháp năm 1900 – 1914 nay thuộc địa bàn xã Buôn Choáh (Krông Nô).
N‘Trang Gưh, tên thật là Y Gưh H‘Đớk, là người dân tộc Ê đê, sinh khoảng năm 1845, tại buôn Choáh Kplang, một buôn của nhóm Êđê Bih khu vực bờ sông Krông Nô, tại đây, ông đã kiên cường cùng đồng bào đứng lên kháng chiến trong suốt 14 năm ròng (1900-1914), là một trong những cuộc kháng chiến lớn nhất ở Tây Nguyên thời bấy giờ.
Năm 1884, quân Xiêm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, đánh chiếm vùng hạ lưu sông Krông Nô và Krông Ana. Hưởng ứng lời kêu gọi của N‘Trang Gưh, người dân ở 20 buôn người Bih sống trên lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana đã đứng lên chống ngoại xâm. Nghĩa quân do N‘Trang Gưh chỉ huy có đến 600 người, không có súng, chỉ dùng các loại vũ khí thô sơ: cung tên, giáo mác… Nhằm tăng thêm sức mạnh, N‘Trang Gưh đã tạo ra một loại nỏ khá đặc biệt, chưa ở đâu có.
Dulichgo
Nỏ có chiều dài quá đầu người, thành nỏ rộng một gang tay, mỗi lần bắn ra 3 mũi tên. Với thứ vũ khí lợi hại này, cộng với tinh thần dũng cảm, kiên cường và mưu trí, năm 1887, nghĩa quân N‘Trang Gưh đã bao vây tiêu diệt toàn bộ quân Xiêm ngay trên cánh đồng buôn Tur và buôn Phok (một làng người Ê đê nằm ở hạ lưu sông Krông Ana). Chiến thắng vẻ vang của nghĩa quân N‘Trang Gưh đã đập tan cuộc xâm lược của quân Xiêm, giúp đồng bào yên tâm lao động sản xuất, xây dựng buôn làng.
Những năm đầu thế kỷ XX, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp đã thâu tóm và kiểm soát gần như toàn bộ số buôn, bon của đồng bào bản địa trên vùng đất Tây Nguyên. Buốc-boa (Bourgeois), công sứ Pháp đầu tiên tại Đắk Lắk đã ngang nhiên dùng vũ lực quân sự xua đuổi người Ê đê, M‘nông đi nơi khác, chiếm lấy buôn, bon, đất đai, nương rẫy, bến nước để thiết lập các đồn điền và xây dựng hệ thống đồn bốt. Quy mô các đồn điền ngày càng mở rộng thì chế độ bắt xâu đối với người Ê đê, M‘nông ở các buôn, bon càng ráo riết và tàn bạo. Chính sách thống trị hà khắc, tàn bạo của thực dân đã làm cho người dân địa phương lâm vào cảnh bần cùng, khổ ải nên căm phẫn cao độ.
Đầu năm 1900, quân Pháp đánh chiếm các buôn của người Bih dọc lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana. N‘Trang Gưh đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu chống lại quân xâm lược, nổi tiếng nhất là trận tiêu diệt đồn buôn Tur. Vào một buổi sáng năm 1901, dưới sự chỉ đạo của N‘Trang Gưh, nghĩa quân đã vượt sông Krông Nô bao vây đồn Tur, dùng ná bắn được nhiều tên giặc rồi tấn công vào đồn. Chỉ một thời gian ngắn, toàn bộ quân địch đồn trú tại đây bị tiêu diệt, tên thực dân Buốc-boa, kẻ có nhiều nợ máu với nhân dân chết gục trước sân đồn. Thừa thắng, nghĩa quân tiếp tục tiến công, lần lượt tiêu diệt các đồn khác của thực dân như đồn buôn Jiăng, đồn buôn Dur... (nay là buôn Jiăng thuộc xã Ea Bông, buôn Dur thuộc xã DurKmăn, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk).
Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N‘Trang Gưh thuộc xã Buôn Choáh (huyện Krông Nô) đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2366/QĐ-BVHTTDL, ngày 02/8/2011.
Từ năm 1901 đến 1913, quân Pháp liên tục mở nhiều cuộc hành quân khá quy mô, truy quét, nhằm tiêu diệt và thôn tính phong trào. Nhưng với sự lãnh đạo tài tình và dũng cảm của N‘Trang Gưh, nghĩa quân đã chiến đấu trong suốt 13 năm. Năm 1914, do trong hàng ngũ nghĩa quân có người phản bội, địa điểm đóng quân của N‘Trang Gưh bị tiết lộ, nên ông bị Pháp bắt, kết án tử hình.
Sau khi N‘Trang Gưh mất, thi thể của ông được nhân dân đưa về chôn cất tại quê hương, nơi ông sinh ra là buôn Choáh (nay thuộc thôn 1, xã buôn Choáh (Krông Nô).
Để ghi dấu những chiến công lẫy lừng của người tù trưởng buôn làng người Ê đê N‘Trang Gưh, người anh hùng của các dân tộc Tây nguyên trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N‘Trang Gưh thuộc xã Buôn Choáh (huyện Krông Nô) đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2366/QĐ-BVHTTDL, ngày 02/8/2011.
Từ khi được công nhận, địa phương chỉ có một quyết định chứng nhận, còn bộ phận tiếp nhận di tích cũng không hề có một văn bản cụ thể nào về việc trùng tu, bảo quản. Do trên không cấp kinh phí nên các hoạt động tại di tích chỉ dừng ở mức độ duy trì hiện trạng.
Địa phương cũng trăn trở rất nhiều nhưng kinh phí hạn hẹp nên đành chịu. Hiện tại, khu di tích rộng khoảng 8.000m2 vẫn còn hoang sơ và gần như giữ nguyên hiện trạng, chưa được đầu tư trùng tu, thậm chí chưa có biển di tích, chưa được cắm mốc khoanh vùng và không có hàng rào bao quanh. Điều đáng lo ngại là do không được quy hoạch, tu bổ nên hiện nay người dân nơi đây đã tự ý canh tác, trồng các loại cây công nghiệp lâu năm trong khu vực này. Nếu không có biện pháp quy hoạch, tu bổ tạm thời thì vài năm nữa di tích này sẽ bị hoang tàn.
1420-st
Không làm được nhiều thì làm ít. Tại sao nhà nước và tỉnh Dak Nong không dòm ngó gì đến 1 di tích cấp quốc gia như vậy? (NBD)
Thác Trinh Nữ
Thác Trinh Nữ là một thác nước trên dòng sông Krông Nô - một phụ lưu của sông Sêrêpôk, thuộc huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông. Sông Krông Nô là ranh giới tỉnh Đăk Nông với tỉnh Đắk Lắk.
Địa điểm
Thác nằm cách trung tâm huyện Cư Jút khoảng 3 km, và cách thành phố Buôn Mê Thuột khoảng 20 km theo quốc lộ 14. Hiện thác đang được công ty Du lịch Đắk Lắk tổ chức khai thác với nhiều các dịch vụ du lịch đa dạng kèm theo.
Về tên thác
Tên thác xuất phát từ một câu chuyện dân gian về một thiếu nữ. Cô gái đã gieo mình xuống dòng nước ngày xưa để giữ trọn tình yêu. Người dân quanh vùng vì cảm động trước hành động đó, đã đặt tên cho dòng thác là Thác Trinh Nữ. Cũng có một huyền thoại khác là hàng năm đều có một cô gái chết đuối ở đây và người ta chiêm nghiệm thấy rất đúng (Thực chất do đây là một đoạn sông rất nguy hiểm, những tảng đá lớn và dòng sông chảy xiết làm nên nét riêng của thác chính là những cái bẫy chết người khiến hàng năm ở đây đều có người chết đuối).
Đặc điểm
Thác Trinh Nữ không phải là một thác đẹp do không có dòng thác đổ từ trên cao xuống vì thực chất đây chỉ là một ghềnh sông có dòng chảy tương đối hiền hòa vào mùa khô nhưng thật hung dữ vào mùa mưa Tây nguyên. Thác rất đặc biệt với những tảng đá bazan dạng cột to lớn màu đen có tuổi địa chất từ 2 đến 5 triệu năm giữa dòng sông hoặc nhô ra từ bờ. Hiện nay Bảo tàng Địa chất đang tiến hành làm các thủ tục cần thiết để xin Chính phủ Việt Nam công nhận khu vực đá bazan ở thác Trinh Nữ là di sản địa chất và tiến hành xây dựng một công viên địa chất tại đây. Đây cũng là một địa điểm du lịch được tổ chức khai thác và đầu tư tương đối tốt nhất trong vùng.
1420-st
Hồ Trúc (Đắk Nông) - Điểm du lịch hấp dẫn
Tọa lạc tại xã Tâm Thắng, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Hồ Trúc được thiên nhiên ưu đãi vẻ đẹp hoang sơ và vị trí địa lý thuận lợi để hình thành nên điểm du lịch sinh thái hấp dẫn trong tương lai.
Nằm gần đường QL14, cách Trung tâm thị xã Gia Nghĩa khoảng 90km, hồ Trúc có diện tích tích mặt nước khoảng 2ha, được bao bọc xung quanh bởi nhiều cây xanh và thảm thực vật phong phú. Trong khuôn viên của hồ có một bán đảo khá rộng, bằng phẳng với phần lớn là rừng tràm phủ kín và nhiều cây xanh còn nguyên sơ. Khi muốn ra “đảo” để chiêm ngưỡng cảnh đẹp có thể đi bằng chiếc cầu treo bắc ngang qua mặt hồ. Phóng tầm mắt nhìn xa xa là dãy núi trập trùng, uốn lượn và những nếp nhà xinh xắn.
Vào mỗi buổi sớm mai, hồ Trúc có sương mờ buông phủ tạo cho phong cảnh nơi đây thật huyền ảo. Mùa hè không khí thật dễ chịu, những luồng gió mát dịu quanh hồ tạo cho không gian yên bình và thoáng đãng. Muốn khám phá hết cảnh đẹp của hồ, có thể sử dụng thuyền nhỏ men theo mặt hồ và hòa mình vào màu xanh thiên nhiên của những cánh rừng để tâm hồn lãng du cùng mây trời, sông nước. Tại đây, có thể neo đậu thuyền bên các rặng cây phủ kín ven bờ, buông cần câu cá hoặc nghỉ ngơi, thưởng ngoạn cảnh quan thật thú vị.
Không chỉ thưởng lãm với vẻ đẹp thiên nhiên, đến đây du khách còn được khám phá nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, được lưu giữ từ lâu đời của dân tộc người Ê Đê và nhiều dân tộc bản địa khác. Ngoài ra, từ khu vực hồ có thể kết nối với nhiều điểm du lịch lận cận đang được tỉnh Đắk Nông kêu gọi đầu tư, khai thác như: Khu du lịch sinh thái văn hoá cụm thác Đray Sáp - Gia Long – Trinh Nữ, Khu du lịch sinh thái dọc sông Sêrêpôk và nhiều điểm du lịch hấp dẫn khác của tỉnh Đắk Lắk.
Trong thời gian qua, điểm du lịch Hồ Trúc đã được Công ty Cổ phần Trường Nguyên đầu tư xây dựng thành điểm du lịch sinh thái với quy mô khoảng 70 ha với nhiều hạng mục mục hiện đại như: các dịch vụ nhà hàng, khách sạn và nhiều loại hình du lịch tham quan, cắm trại, nghỉ dưỡng, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trại sáng tác nghệ thuật, vui chơi giải trí dưới nước, trên cạn…Tuy nhiên, đến nay, dự án ở trong tình trạng kéo dài, chậm tiến độ thực hiện theo yêu cầu đã được phê duyệt, Do đó, UBND tỉnh đã có quyết định 1786/QĐ-UBND ngày 6/11/2013 về việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư của công ty Trường Nguyên, đồng thời chuyển giao dự án điểm du lịch hồ Trúc để huyện Cư Jut quản lý và tiếp tục kêu gọi đầu tư thành điểm du lịch hấp dẫn trong tương lai./.
1420-st
Hồ Tây Đăk Mil
Hồ Tây Đắk Mil là một hồ nước bán nhân tạo ở huyện Hồ được hình thành vào năm 1940 do thực dân Pháp quy hoạch để phục vụ cho dự án trồng cà phê tại Việt Nam. Hồ nằm trên địa phận huyện Đắk Mil tỉnh Đắk Nông.
Vị trí Hồ Tây
Hồ Tây thuộc địa bàn hành chính thị trấn Đăk Mil, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, dọc theo Quốc lộ 14 về phía Nam cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 65 km, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 310 km; về phía Bắc cách thành phố Buôn Ma Thuột 60 km.
Phía đông của hồ là khu vực trung tâm của thị trấn Đăk Mil, phía nam và tây nam hồ là rừng cà phê, ca cao, trong lòng hồ có một bán đảo rộng 120 ha.
Hiện nay hồ Tây có chu vi hơn 10 km, diện tích mặt thoáng chừng 108 ha với điểm sâu nhất từ 15 – 17 m.
Tên gọi
Do hồ nằm sát phía Tây thị trấn Đăk Mil theo hướng đi về thị trấn Gia Nghĩa- Đắk Nông. nên tên “Hồ Tây” đã được nhiều người địa phương sử dụng,
lâu ngày thành quen và trở thành tên gọi chính thức của hồ.
Ngoài tên gọi Hồ Tây, hồ còn được gọi là hồ Đăk Mil theo tiếng Ê Đê và hồ Đức Minh theo cách gọi bằng tiếng Việt.
Lịch sử
Nguyên từ những năm 40 của thế kỷ trước, những người Pháp khi đến vùng đất này triển khai dự án trồng cà-phê, đã tận dụng thế đất tự nhiên lập nên hồ với diện tích chừng 40ha, mục đích là trữ nước tưới tiêu cho các đồn điền cà-phê. Đến năm 1982, huyện Đăk Mil đã đầu tư nâng cấp, mở rộng mặt hồ nhằm cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho huyện Đăk Mil, đồng thời cũng làm nơi dung chứa lượng nước từ các dốc cao đổ xuống với khối lượng lớn khi mùa mưa về.
Ngày nay, hồ Tây được huyện Đăk Mil quan tâm đầu tư công viên, đài phun nước quanh bờ, hồ cũng được kè đá, xây dựng đường dạo bộ, trồng cây bóng mát bao quanh, xung quanh hồ là những nhà hàng, những quán cà phê, những ngôi biệt thự vườn theo phong cách kiến trúc Pháp.
Đặc điểm
Hồ Tây là một công trình thủy lợi nhằm cung cấp nước cho việc tưới tiêu của một diện tích cà phê rất lớn ở khu vực này.
Do hồ nằm sát thị trấn Đắk Mil sầm uất và ngay cạnh Quốc lộ 14, hồ có phong cảnh rất đẹp nên đã được quy hoạch thành một khu công viên của thị trấn với chu vi 10 km. Hồ Tây được xem là một trong những hồ đẹp nhất Tây Nguyên. Các loài thủy sinh vật của hồ vô cùng phong phú, theo như kết quả công bố của các nhà nghiên cứu thì có tới 500 loài. Theo chủ trương quy hoạch đang từng bức đưa hồ tây vào lòng trung tâm của thị trấn và phấn đấu lên thị xã vào năm 2013.
Có hai cách để các bạn tới Đắk Mil:
Cách thứ nhất là đi bằng xe khách, thời gian di chuyển cho quãng đường 300 km từ TP HCM chừng 7 giờ kể cả thời gian nghỉ.
Cách thứ hai là đi bằng xe máy. Đây cũng là cách để các bạn có thể chiêm ngưỡng được cảnh đẹp trên đường đi. Hiện nay QL14 đã làm xong, việc đi lại dễ dàng thuận tiện hơn. Từ TP HCM, bạn theo QL13 qua địa phận Bình Dương, tới ngã tư Sở Sao ngay khu du lịch Đại Nam thì rẽ phải, đi theo đường Nguyễn Văn Thành tới thị xã Đồng Xoài. Từ Đồng Xoài, bạn theo tiếp QL14 qua các địa danh như Bù Đăng, Đắk R’lấp, Gia Nghĩa sẽ tới được thị trấn Đắk Mil.
Nghỉ dưỡng
Đắk Mil không phải là một điểm du lịch nổi tiếng, nên không có nhiều dịch vụ du lịch. Dọc con đường chính của thị trấn và xung quanh hồ Tây có một vài khách sạn, nhà nghỉ bình dân.
Hoạt động giải trí
Đắk Mil không thích hợp cho những ai thích sự sôi động, náo nhiệt cần có nhiều chỗ vui chơi, giải trí. Đắk Mil thích hợp cho việc trải nghiệm và nghỉ ngơi. Khu vực hồ Tây là nơi tập trung nhiều người dân đến vui chơi nhất. Hồ rất rộng và đẹp, xung quanh có những quán cà phê với tầm nhìn ra hồ. Cà phê tại đây rất ngon, đậm đặc, khác hẳn đồ uống ở TP HCM. Cách hồ khoảng chừng 1 km về hướng Tây, bạn có thể ghé thăm khu di tích lịch sử quốc gia - Nhà ngục Đăk Mil.
Con đường bên hông hồ Tây vào khu vực bệnh viện huyện rất đẹp, với những vườn cà phê hai bên đường. Bạn nào thích chụp hình có thể đến đây. Nếu chịu khó lang thang trong những con đường đất đỏ, làng của người dân bản địa, bạn sẽ có những bộ ảnh tuyệt đẹp về đời thường, phong cảnh.
Từ Đắk Mil lên Buôn Mê Thuột cũng gần, khoảng 60 km. Trên đường đi, các bạn nên ghé tham quan thác Dray Sap -Dray Nur. Tới Buôn Mê Thuột, bạn nhớ ghé buôn Ako Thôn của đồng bào Ê Đê, làng cà phê, bảo tàng dân tộc, chùa Khải Đoan.
Văn hóa địa phương
Vào buổi sáng sớm và buổi chiều mỗi ngày, nhiều người dân trên địa bàn thị trấn đã đến các điểm lắp đặt để tập thể dục với mục đích rèn luyện sức khỏe. Những dụng cụ thể dục đơn giản, dễ tập như tập lưng bụng, tập tay vai, tập toàn thân, đi bộ lắc tay... Từ đó đến nay, hoa viên đã thu hút đông đảo người dân tham gia tập luyện thể dục, rèn luyện sức khỏe. Mọi người ngoài việc tập luyện để có sức khỏe tốt, dẻo dai mà còn giúp cải thiện giao tiếp, giao lưu, chia sẻ và có thêm những người bạn tốt.
Vào các buổi chiều mát mẻ, các em nhỏ thường tới đây vui chơi, thả diều, đạp xe đạp đôi, thuê xích lô, trượt patin…. Không chỉ thu hút trẻ em, các bậc phụ huynh cũng khá thích thú, hào hứng với dịch vụ này bởi đạp xích lô vừa rèn luyện sức khỏe vừa giúp trẻ nhỏ tập đi xe đạp. Đến tối, khu vực này mới thực sự đông đúc. Các hàng quán ăn uống, giải khát nhộn nhịp, tưng bừng.
Hàng năm cứ đến rằm tháng Giêng và rằm tháng Bảy, tại Hồ Tây Đắk Mil diễn ra lễ hội hoa đăng cầu Quốc thái Dân an. Mỗi năm càng đông hơn được Phật giáo huyện nhà với sự đồng thuận của các cấp chính quyền địa phương trọng thể tổ chức. Người dân kéo về địa điểm tổ chức lễ hội bên bờ Hồ Tây để thưởng thức một lễ hội văn hoá và góp phần cầu nguyện cho đất nước thái bình, nhân dân ấm no, dân tộc phú cường, gia đình hạnh phúc...
Lễ hội hoa đăng đã trở thành một nét đẹp tâm linh, nét đẹp văn hóa nhằm để cho mọi tầng lớp mọi tôn giáo nếu ai có lòng đều được tham gia cầu nguyện nơi núi rừng Tây Nguyên
"Rừng núi Tây Nguyên hương bạt ngàn
Hồ Tây soi bóng ánh từ quang
Hòa chung nhịp đập vui lễ hội
Cầu nguyện nước nhà được bình an."
Mỗi dịp xuân về, các chợ hoa phục vụ tết tràn ngập màu sắc với nhiều loại hoa phong phú như: Cúc pha lê, mai, đào, quất, ly, …Các loại hoa chủ yếu nhập từ Phú Yên được bày bán dọc các con đường ven hồ.
Nguồn nước ở đây dồi dào và chủ yếu từ nước ngầm và nước mưa lắng đọng lại.
Tuy nhiên, qua đợt hạn, khi lượng nước hồ Tây Đắk Mil cạn dần đã lộ ra nhiều rác thải sinh hoạt do người dân vứt xuống lâu nay như chai lọ, bát nhang, bao bì, túi ni lông… ứ đọng, vương vãi khắp nơi. Bên cạnh đó, hàng ngày, có rất nhiều người dân ra Hồ Tây ngắm cảnh, hóng mát mang theo thức ăn, nước uống… sau khi sử dụng cũng “vô tư” vứt rác xuống lòng hồ.
1420-st
HỒ EA SNÔ - ĐĂK NÔNG
Nằm trên địa bàn xã Đắk Rồ thuộc huyện Krông Nô, cách thị xã Gia Nghĩa 125km về phía Đông Bắc, Ea Snô là một hồ nước tự nhiên có diện tích mặt nước hơn 80ha, nơi sâu nhất 20 m. Đây là một thắng cảnh còn rất hoang sơ được thiên nhiên hào phóng ban tặng, gắn liền với những truyền thuyết dân gian, những tâm tư tình cảm, những phong tục tập quán và cả những luật tục của cư dân.
Đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống, mặt hồ trông tựa như chiếc gương bạc khổng lồ lấp lánh, được viền quanh bởi dải hoa văn là những ngọn đồi nhấp nhô, lại được điểm tô bởi màu xanh của núi rừng hùng vĩ. Xung quanh hồ là những cánh rừng đặc dụng với nhiều loại cây, loài thú qúy hiếm như rắn, ba ba, khỉ, nai, heo rừng…
Tham quan nơi đây, du khách sẽ được du thuyền trên mặt hồ thưởng ngoạn cảnh đẹp của núi rừng, để những làn gió mát rượi xua đi những lo toan của cuộc sống. Du khách có thể dong thuyền từ cửa hồ để đến sông Krông Nô rồi xuôi theo phía trái đến thác Dray Sáp, hoặc ngược dòng lên Buôn Chuah thăm quê hương của tù trưởng Nơ Trang Gưh. Khách cũng có thể theo dòng Krông Nô qua dòng Krông Na để về Hồ Lắk hay đến vùng Ea Rbine. Khi ghé thăm buôn làng Ol, Choal hay Leng, du khách sẽ được nghe nhiều truyền thuyết thú vị về hồ Ea Snô…
Thắng cảnh nơi đây được gắn liền với những truyền thuyết dân gian, những phong tục tập quán, những luật tục và cả những giá trị truyền thống của cư dân bản địa. Để tìm hiểu về nguồn gốc Hồ Ea Snô, một truyền thuyết được các già làng người M’nông Préh sinh sống quanh khu vực Hồ kể lại:
Ngày xưa, khu vực hồ Ea Snô bây giờ núi rừng còn âm u rậm rạp, có nhiều nai, hoẵng, nhiều nơi không có dấu chân người, núi rừng rộng lớn, người dân thưa thớt, buôn, bon của người M’nông và Ê đê cách xa nhau. Khu vực hồ hiện nay, trước đây là bon của người M’nông, bon có khoảng vài chục hộ. Trong bon có một gia đình rất nghèo khó, họ sinh được hai người con, một trai và một gái, người anh tên N’Chông, người em tên M’Po˘. Khi M’Po˘ chưa bỏ bú thì người mẹ không may ngã bệnh qua đời, với cảnh gà trống nuôi con và thương nhớ vợ, người cha cũng qua đời sau một mùa rẫy. Khi cha mẹ mất đi, đã để lại một món nợ lớn, N’Chông bị bán sang vùng khác, còn M’Po˘ được một gia đình giàu có hiếm muộn con trong bon mua về nuôi.
Sau nhiều lần mua đi bán lại, N’Chông được đưa về một gia đình trong bon cũ. Hai anh em ở cùng một bon mà họ không hay biết. Năm tháng trôi đi, N’Chông và M’Po˘ ngày một lớn khôn, đã thành chàng trai cô gái, miệng biết hát lời tình yêu. N’Chông là một chàng trai khỏe mạnh, thông minh, hiền lành, chịu khó, giỏi săn bắt; còn M’Po˘ lớn lên xinh đẹp như cánh hoa rừng, lại hiền lành, khéo tay; thổ cẩm, váy áo do M’Po˘ dệt bao giờ cũng đẹp hơn người. Nhiều chàng trai đã thầm yêu và ngỏ lời, nhưng M’Po˘ chỉ đáp lại tình cảm của N’Chông. Họ yêu nhau và mơ ước về một cuộc sống ngày mai hạnh phúc. Tình yêu ngày càng thắm thiết như ngọn lửa ngày càng bén sâu, cháy vào cây khô và rồi họ đã lấy nhau. Anh em họ đã phạm tội loạn luân mà không hề hay biết, làm cho thần linh giận dữ và trừng phạt hai anh em họ, phạt cả dân làng nơi họ đã sinh ra.
Năm ấy, mùa mưa thật khủng khiếp, mưa liên tục, mặt đất đầy nước, gió ở mọi nơi dồn về tạo nên một trận cuồng phong dữ dội, đất trời rung chuyển suốt bảy ngày bảy đêm, làm sụp đổ cả bon làng, nhà cửa,… mọi vật đều bị nhấn chìm trong nước. Cá sấu không biết từ đâu nổi lên ăn thịt tất cả dân làng, trâu bò, lợn gà trong bon. Nước lũ dâng cao, cao mãi lên tận ngọn cây cao nhất ở giữa bon, nơi có con chim nhồng (sĩm eng) đang ấp trứng, chim mẹ mất tổ loạng choạng bay về hướng Đông, chim bay đến đâu dòng nước hung ác cứ ào ào đuổi theo đến đó, chim bay mãi đến gặp dòng sông Krông Nô thì kiệt sức và chết.
Chỗ bon làng bị nước nhấn chìm sụp xuống thành hồ nước lớn (hồ Ea Snô ngày nay), đường chim bay trốn dòng nước dữ tạo thành những nhánh, những eo hồ và dòng suối nhỏ nối thông giữa hồ Ea Snô với sông Krông Knô. N’Chông và M’Po˘ chết đi, hồn của họ biến thành đôi chim nhồng biết nói tiếng người, làm tổ và quấn quýt nhau bên bờ hồ.
1420-st