Thứ Năm, 30 tháng 6, 2022

 Kỷ lục Guinness (111)

Phi hành gia Gennady Padalka lập kỷ lục 879 ngày làm trong vũ trụ
Phi hành gia người Nga Gennady Padalka đã lập kỷ lục với 879 ngày đêm làm việc trong vũ trụ sau tổng cộng 5 chuyến du hành.
Sáng 12/9/2015, đội bay quốc tế Nga, Kazakhstan và Đan Mạch từ Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) đã trở về Trái Đất an toàn, trong đó phi hành gia người Nga Gennady Padalka đã lập kỷ lục với 879 ngày đêm làm việc trong vũ trụ sau tổng cộng 5 chuyến du hành.
Toàn bộ quá trình từ lúc tách rời ISS và bay về Trái Đất, tách bỏ các bộ phận, cho đến lúc chỉ còn khoang đổ bộ của con tàu "Liên hợp TMA-16M" chở ba phi hành gia tiếp đất trên thảo nguyên thuộc Kazakhstan đều diễn ra bình thường, tình trạng sức khỏe của các phi công ổn định.
Hiện, các chuyên gia cứu hộ đã đưa được họ ra khỏi khoang đổ bộ. Công việc đầu tiên chờ đợi các phi hành gia trên mặt đất là kiểm tra y tế.
Sau đó, cả ba người sẽ đến thủ đô Astana dự lễ tiếp trọng thể của lãnh đạo Kazakhstan do thành viên đội bay Aidyn Aimbetov là nhà du hành vũ trụ đầu tiên của nước này.
Nhóm phi hành gia trên là nhóm thứ 44 làm việc trên ISS trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu vũ trụ giữa Nga với phương Tây.
Kỷ lục làm việc 879 ngày đêm trên vụ trụ của Gennady Padalka đã phá kỷ lục cũng do một nhà du hành Nga lập 10 năm trước với 803 ngày, 9 giờ và 41 phút.
"Tiếp quản" ISS hiện nay là nhóm gồm ba phi hành gia người Nga, hai nhà du hành của Mỹ và một phi công vũ trụ của Nhật Bản./.
29622-st
Có thể là hình ảnh về 5 người và mọi người đang đứng
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Giải Nobel (97)

(1/ Đức 25, 2/ Hà Lan 6, 3/ Pháp 16, 4/ Thụy Sĩ 7; 5/ Anh 12; 6/ Thụy Điển 7; 7/ Đan Mạch 6; 8/ Na Uy 4; 9/ Scotland 1; 10/ Nga 1; 11/ Tây Ban Nha 3, 12/ Hung Ga Ry 3. 13/ Ba Lan 3, 14/ Áo 4, 15/ Ý 3, 16/ Mỹ 5; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 5; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 1; 22/ Úc 1; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 1; 24 Canada 1; 25/ Ireland 1;
William Butler Yeats
Sinh 13 tháng 6 năm 1865
Sandymount, Dublin, Ireland
Mất 28 tháng 1 năm 1939
Miền nam nước Pháp
Công việc Nhà thơ
Quốc tịch Người Ireland
William Butler Yeats (13 tháng 6 năm 1865 - 28 tháng 1 năm 1939) là nhà thơ, nhà soạn kịch người Ireland đoạt giải Nobel Văn học năm 1923. Ông sinh ra giữa thời đại mà Ireland bắt đầu thức dậy một phong trào yêu nước, đỉnh cao là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc 1919-1923. Thời đại này đã mang lại một xung lực cho sáng tác của ông.
Tiểu sử
William Butler Yeats sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ, bố là họa sĩ chân dung nổi tiếng John Butler Yeats, em trai Jack Butler Yeats cũng là một họa sĩ. Bản thân William Butler Yeats cũng từng học trường nghệ thuật và có ý định sẽ sống bằng nghề hội họa nhưng thơ ca đã xâm chiếm tâm hồn ông ngay từ những thành công đầu tiên. Năm 1868 cả gia đình chuyển đến London, năm 1880 trở về Dublin và năm 1887 quay lại London. Tại đây ông bắt đầu in những bài thơ và kịch đầu tiên trên các báo và tạp chí. Năm 1889 ông xuất bản cuốn sách đầu tiên The Wandering of Oisin and Other Poems (Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác) và bài trường ca The Wandering of Oisin – tác phẩm chính của tập sách này dựa theo mô-típ dân gian của Ireland.
Nữ nghệ sĩ Maud Gonne
Cũng trong thời gian này Yeats gặp gỡ và làm quen với nữ nghệ sĩ Maud Gone – một trong những người của phong trào giải phóng dân tộc Ireland, tham gia tích cực vào phong trào "Phục hưng Ireland". (Mục đích của phong trào này là phục hồi tiếng Gaeilge, tìm hiểu văn hóa và lịch sử Ireland, sáng tác những tác phẩm dựa trên những truyền thuyết, huyền thoại của Ireland, thành lập nhà hát dân tộc.) Năm 1904 Yeats cùng với một số bạn bè thành lập Nhà hát Abbey và liên tục làm việc tại nhà hát này đến khi chết.
Sau năm 1910, các vở kịch nghệ thuật của Yeats chuyển hướng đột ngột sang viết bằng thơ, phong cách bí ẩn, có nhiều khoảng trống. Những vở kịch sau đó (ông viết cho số ít khán giả chọn lọc) là những thử nghiệm với vũ điệu, âm nhạc và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những vở kịch Noh (能 Nō) của Nhật Bản. Từ năm 1922 đến năm 1928, Yeats là thượng nghị sĩ của Nhà nước Ireland tự do, tham gia nhiều hoạt động chính trị ở Ireland, sáng tác của ông thời kỳ này mất dần tính lãng mạn và trở nên thâm trầm sâu sắc. Hai tác phẩm đáng chú ý cuối cùng của ông là A Full Moon in March (Rằm tháng 3 năm 1935) và Last Poems and Plays (Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng, 1940).
Thơ ca của Yeats mang đậm hơi thở, phong cách dân tộc Ireland. Nhiều đề tài, hình tượng trong thơ ông được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian kết hợp với khuynh hướng biểu tượng và lãng mạn trữ tình. Tác phẩm của ông giàu hình tượng với những quan sát tinh tế, kết hợp vẻ đẹp bên ngoài với chiều sâu trí tuệ bên trong. Năm 1923 ông được trao giải Nobel vì sự nghiệp sáng tác phản ánh cao độ tinh thần dân tộc trong những tác phẩm điêu luyện. Yeats có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca tiếng Anh trong thế kỷ 20. Tên tuổi của ông đặt ngang hàng với những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ 20. Ông mất tại miền nam nước Pháp.
Tác phẩm
William Butler Yeats năm 1908
Yeats trò chuyện với một người phụ nữ không rõ danh tính năm 1930
Chân dung Yeats do John Singer Sargent vẽ
The Wandering of Oisin and Other Poems (Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác, 1889), thơ
John Sherman (1891), tiểu thuyết
The Countess Cathleen (Nữ bá tước Cathleen, 1892), kịch thơ
To the Rose Upon the Road of Time (Tặng bông hồng trên con đường thời gian, 1893), thơ
The Land of Heart's Desire (Xứ sở ham muốn của con tim, 1894), kịch thơ
Crossways (Những ngã tư đường, 1889), tập thơ
The Rose (Hoa hồng, 1893), tập thơ
The Wind Among the Reeds (Gió trong bãi sậy, 1899), thơ
Catheleen ni Houlihan (Catheleen con gái Houlihan, 1902), thơ
The Hour Glass (Đồng hồ cát, 1903), kịch
In the Seven Woods (Trong bảy cánh rừng, 1903), thơ
The King's Thereshold (Trước cửa Vua, 1904), kịch thơ
The Pot of Broth (Nồi nước sốt, 1904), hài kịch
The Shadowy Waters (Bóng nước, 1906), kịch thơ
The Green Helmet (Chiếc mũ màu xanh, 1910), thơ
Responsibilities (Trách nhiệm, 1914), thơ
Easter (Lễ Phục Sinh, 1916), thơ
At the Hawk's Well (Bên giếng Diều hâu, 1916), kịch
The Dreaming of the Bones (Những giấc mơ của xương, 1919), kịch
The Wild's Swans at Coole (Thiên nga ở Coole, 1919), thơ
Four Plays for the Dancers (Bốn vở kịch cho vũ nữ, 1921), thơ
Michael Robartes and Dancer (Michael Robartes và vũ nữ, 1921), thơ
The Player Queen (Hoàng hậu - diễn viên, 1922), kịch
A Vision (Bóng hình, 1925; tái bản 1937), tiểu luận
The Cat and the Moon (Con mèo và Mặt Trăng, 1926), kịch
Seven Poems and One Fragment (Bảy bài thơ và một đoạn, 1927), thơ
Parnell's Funeral (Đám tang cho Parnell, 1932, in 1935), thơ
The Winding Stair and Other Poems (Cầu thang xoáy ốc và những bài thơ khác, 1933), thơ
The King of the Great Clock Tower (Vua của tháp đồng hồ lớn, 1935), kịch
A Full Moon in March (Rằm tháng 3 năm 1935), thơ
The Curse of Cromwell (Lời nguyền Cromwell, 1937), thơ
The Death of Cuchulain (Cái chết của Cuchulain, 1939), kịch
30622-st
Có thể là hình ảnh về 1 người và kính mắt
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 DI SẢN THẾ GIỚI (588)

Olympia, Hy Lạp
Di chỉ khảo cổ Olympia
Di sản thế giới của UNESCO
Tàn tích đền thờ thần Zeus
Thông tin khái quát
Quốc gia Hy Lạp
Tọa độ 37°38′17″B 21°37′50″Đ
Kiểu Văn hóa
Tiêu chuẩn i, ii, iii, iv, vi
Tham khảo 517
Vùng UNESCO châu Âu
Công nhận 1989 (kỳ họp thứ 13)
Olympia (tiếng Hy Lạp: Ολυμπία Olympí'a hay Ολύμπια Olýmpia, là một nơi chứa đựng các công trình văn hóa của Hy Lạp cổ đại ở Elis, trứ danh là địa điểm của các Thế vận hội trong thời kỳ cổ đại, về tầm quan trọng ngang hàng với Pythian Games được tổ chức ở Delphi. Cả hai đại hội thể thao này được tổ chức mỗi Olympiad (có nghĩa là mỗi 4 năm), các Thế vận hội có niên đại trước cả năm 776 TCN. Năm 394, hoàng đế Theodosius I, hoặc có thể là cháu trai của ông Theodosius II vào năm 435, đã bãi bỏ các đại hội thể thao này do chúng làm gợi lại Đa thần giáo.
Mô tả khu vực khảo cổ
Khu vực khảo cổ này bao gồm các tòa nhà được bố trí không theo trật tự. Phía Bắc của khu vực khảo cổ là prytaneion và Philippeion, cũng như hệ thống các kho tàng đại diện cho các quốc gia-thành phố khác nhau. Metroon nằm về hướng Nam của các kho tàng này với Echo Stoa về phía Đông. Về phía Nam của kho khu vực khảo cổ là Nam Stoa và Bouleuterion, nơi phía Tây của là nơi chứa đựng palaistra, nhà xưởng của Pheidias, Gymnasion và Leonidaion. Nằm bên trong temenos là các đền thờ thần Hera và thần Zeus, Pelopion và khu vực bàn thờ, nơi các nghi lễ hiến sinh được thi hành. Công trình hippodrome và sân vận động cũng nằm về phía Đông.
Olympia cũng nổi danh với tượng thần Zeus khổng lồ bằng ngà voi và vàng được chạm khắc bởi Pheidias trước đây thường đứng ở đó. Tượng thần Zeus là một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại được bầu chọn bởi Antipater xứ Sidon. Rất gần đền thờ thần Zeus (nơi chứa bức tượng này) là xưởng điêu khắc của Pheidias, xưởng này được khai quật vào thập niên 1950. Các chứng tích được tìm ra ở đây, chẳng hạn như các công cụ của nhà điêu khắc đã chứng thực cho ý kiến này. Các tàn tích cổ đại nằm phía Bắc của sông Alfeios và nằm cạnh đồi Cronius hoặc Kronios (đồi Kronos, hay thần Cronus). Kladeos, một nhánh của Alfeios, chạy quanh khu vực này.
Khai quật khu vực này
Việc khai quật quận đền Olympia và các khu vực xung quanh bắt đầu với một cuộc thám hiểm của Pháp năm 1829. Các nhà khảo cổ Đức tiếp tục công việc cuối thế kỷ 19 và đã phát hiện Hermes của tượng Praxiteles nguyên vẹn trong số các hiện vật. Giữa thế kỷ 20, sân vận động nơi đã từng diễn ra các cuộc thi đã được khai quật.
Olympia hiện đại
Ngọn lửa thế vận hội của Thế vận hội ngày nay được đốt lên bằng cách chiếu tia sáng mặt trời trong một gương cầu lõm tại sân vận động Olympia được phục chế và được chuyển bằng một ngọn đuốc đến nơi đăng cai Thế vận hội. Khi Thế vận hội đến phiên tổ chức của thành phố Athens năm 2004, môn thi đấu shot put nam nữ được tổ chức ở sân vận động phục chế này.
Olympia có một ngôi trường và một quảng trường (plateia) và một nơi nổi tiếng cho du lịch. Thành phố có một nhà ga xe lửa và là nhà ga cực Đông của tuyến Olympia-Pyrgos (Ilia). Nhà ga xe lửa tọa lạc cách trung tâm thành phố 300 m về phía Tây. Nhà ga được nối vào hệ thống các xa lộ bởi GR-74, và một con đường được mở những năm 1980; nhánh Bắc và Đông Bắc của Olympia sẽ được mở năm 2005. Xa lộ vượt qua phía Bắc của tàn tích cổ đại. Một đập chứa nước tọa lạc 2 km về phía Tây Nam, ngăn sông Alfeios. Một con đường từ Olympia và Krestena bị đóng lại cuối những năm 1990. Khu vực này là đồi núi; phần lớn diện tích trong Olympia là rừng. Khi Pierre de Coubertin, người sáng lập Thế vận hội hiện đại mất năm 1937, một bức tượng của ông được dựng lên tại khu vực Olympia cổ đại. Trái tim của ông đã được chôn tại tượng đài.
Tượng thần Zeus ở Olympia (thường gọi là thần Dớt) là một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Bức tượng do nhà điêu khắc cổ đại nổi tiếng là Phidias tiến hành (thế kỷ thứ 5TCN) khoảng năm 435 TCN tại Olympia, Hy Lạp.
Địa lý
Nơi gần nhất
Varvasena (về phía tây)
Đơn vị cấp dưới
Drouva
Các công xã
Pisa cổ (Miraka)
Học viện Thế Vận Hội quốc tế (ds: 63)
Aspra Spitia
Ypsilo
Chelidonio
Floka
Irakleia
Kafkonia
Kamena
Nea Kamena
Vasilaki
Kladeos
Koskina
Fanara
Kryonero
Linaria
Louvro
Gyros
Mageira
Mouria
Pefko
Pelopio
Ampari
Platanos
Agios Georgios (ds: 7)
Pournario
Smila
Kourouta
Strefi
Kato Strefi (Flokeika)
Xirokampos
Thống kê dân số
Năm Dân số công xã Thay đổi Dân số đô thị Thay đổi
1981 1.125 - - -
1991 1.742 -349/-4.87% 11.229 -
2001 1.475 -267/-15.33% 11.069 -160/1.42%
30622-st
Có thể là hình ảnh về 1 người và ngoài trời
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Cu Ủn có 7-10 tỷ $ gửi ở các nước ngoài?

 Độc lạ 195

Ở Cam Pu Chia, hiện vẫn duy trì chế độ mẫu hệ.(v46)

 Chiếc điện thoại d đ đắt nhất thế giới là 1 chiếc IPhone 6, có giá 48,5 triệu $ do vợ tỷ phú Ấn Độ ( giầu nhất châu Á) dùng.

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

 DI SẢN THẾ GIỚI (587)

Di tích Kitô giáo cổ và Byzantine của Thessaloniki
Di sản thế giới UNESCO
Vị trí Thessaloniki, Macedonia, Hy Lạp
Tiêu chuẩn Văn hóa:(i), (ii), (iv)
Tham khảo 456
Công nhận 1988 (Kỳ họp 12)
Diện tích 5.327 ha (13.160 mẫu Anh)
Tọa độ 40°38′18″B 22°57′54″Đ
Di tích Kitô giáo cổ và Byzantine của Thessaloniki là tổ hợp gồm 15 công trình được UNESCO công nhận là Di sản thế giới nằm tại thành phố Thessaloniki, Macedonia, Hy Lạp. Thessaloniki là thành phố quan trọng thứ hai của Đế quốc Byzantine, đóng một vai trò quan trọng đối với Kitô giáo trong thời Trung Cổ và được tô điểm bởi các tòa nhà ấn tượng.
Danh sách
Tường thành của Thessaloniki
Cổng vòm Galerius và Rotunda
Nhà thờ Acheiropoietos
Nhà thờ Thánh Demetrios
Tu viện Latomou
Nhà thờ Thánh Sophia
Nhà thờ của Panagia Chalkeon
Nhà thờ Thánh Panteleimon
Nhà thờ Thánh Tông đồ
Nhà thờ Thánh Nicholas Orphanos
Nhà thờ Thánh Catherine
Nhà thờ Chúa cứu thế
Tu viện Vlatades
Nhà thờ Tiên tri Elijah
Nhà tắm Byzantine
29622-st
Có thể là hình ảnh về ngoài trời và tường gạch
Thích
Bình luận
Chia sẻ