Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2020

 DI SẢN THẾ GIỚI (43)

Đồi pháo đài Rajasthan

UNESCO logo.svg Welterbe.svg
Di sản thế giới của UNESCO
Pháo đài Chittorgarh
Pháo đài Amber
Pháo đài Amber
Pháo đài Kumbhalgarh
Pháo đài Kumbhalgarh
Pháo đài Ranthambore
Pháo đài Ranthambhore
Pháo đài Jaisalmer
Pháo đài Jaisalmer
Thông tin khái quát
Quốc gia Ấn Độ Ấn Độ
Kiểu Văn hóa
Tiêu chuẩn ii, iii
Tham khảo 247
Vùng UNESCO châu Á và châu Đại Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 2013 (kỳ họp thứ 37)

Đồi pháo đài Rajasthan là một loạt các địa điểm nằm trên mỏm đá của dãy núi Aravallis ở Rajasthan. Các công trình này đại diện cho một loại hình học của đồi kiến trúc quân sự Rajput, một phong cách đặc trưng thiết lập trên đỉnh núi, sử dụng các thuộc tính phòng thủ nhờ vào địa hình. Muốn đi vào được bên trong thì chỉ có cách thông qua các bức tường lớn và cao của pháo đài. Các khu vực trung tâm bao gồm cung điện, đền, đài tưởng niệm và các hồ chứa nước đều ở bên trong phạm vi của các bức tường. Đồi pháo đài ở Rajasthan đại diện cho thành lũy quân sự Rajput trên một phạm vi rộng lớn và đại diện văn hóa Ấn Độ, thể hiện sự phát triển của kiến trúc phòng thủ Rajput như là một ví dụ điển hình về kiến trúc quân sự Rajput.

Kiến trúc này được biết đến với việc tập trung phòng thủ. Cả vùng lãnh thổ rộng lớn đều được các bức tường bao quanh. Các pháo đài có kiến trúc khác nhau, được xây dựng từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 20 và mỗi pháo đài đều có đặc trưng riêng về các tòa nhà và công trình, minh họa sự phát triển kế tiếp của nó và lịch sử quân sự giữa thế kỷ 13 và 19. Khu vực được công nhận là di sản thế giới bao gồm Pháo đài Chittorgarh, Pháo đài Kumbhalgarh, Pháo đài Ranthambore, Pháo đài Gagron, Pháo đài Amber và Pháo đài Jaisalmer. Do sự đa dạng của cấu trúc xây dựng trong mỗi đồi pháo đài, nên chỉ có các yếu tố quan trọng nhất của mỗi pháo đài được mô tả. Năm 2013, Đồi pháo đài Rajasthan đã trở thành một di sản thế giới của UNESCO tại kỳ họp thường niên lần thứ 36.
11120-st

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2020

 Bệnh nghiện ngồi ghế đá không thể bỏ được.

Hình ảnh có thể có: 1 người, ngoài trời

 Đất nước bị ghẻ lở. Vì ai?

Hình ảnh có thể có: núi, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên
Hình ảnh có thể có: núi, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên, văn bản cho biết 'Zing'
Hình ảnh có thể có: núi, ngoài trời và thiên nhiên

 Ghost Orchid (460)

Được biết đến với tên gọi phong lan ma, Ghost Orchid được Jean Jules Linden phát hiện ở Cuba vào năm 1844 và cây được tìm thấy ở bán đảo cận nhiệt đới Florida vào khoảng 20 năm sau. Giống như tên gọi của nó, Ghost Orchid mang một màu trắng tinh khôi trong tự nhiên, khi xuất hiện trong đêm như những con ma đáng sợ.
311020-st

Hình ảnh có thể có: thực vật, hoa và thiên nhiên

 Chùa Hàm Long (103)

Chùa Hàm Long Bắc Ninh tọa lạc tại phường Nam Sơn – TP Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh (Trước đây thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc). Chùa được xây dựng vào thời Lý là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ nằm trên sườn núi, địa thế rất đẹp. Chùa Hàm Long Bắc Ninh có những cây cổ thụ cực to và cũng là một trong những trường Hạ, là nơi đào tạo các nhà sư ở đất Bắc.

Chùa có tên Hàm Long vì có núi Thần Long như một chiếc án thư che chắn cho ngôi chùa phía trước. Đường lên chùa đi qua những bậc đá chen giữa gốc cây, bụi cỏ rất thơ mộng. Hàng ngày vào buổi chiều các sư ở đây cho nấu một nồi cháo to, cúng thí thực cho Trùng và vong bị nhốt ở đây. Vào buổi sáng các nhà sư tụng kinh niệm Phật cúng vong rất cẩn thận. Các gia đình khi có người chết trùng sẽ đem vong đến gửi tại chùa nhờ nhà chùa Hàm Long Bắc Ninh cúng cho vong linh người quá cố.

Khi đến gửi vong người ta đem đến một bức ảnh và những thông tin: Tên, tuổi, giờ mất, giờ liệm, giờ chôn cất người quá cố và nhà chùa ghi lại thông tin. Nhà sư cho lá bùa để gia đình đeo trong 3 năm để tránh tai họa. Người đem vong đi “gửi”, kiêng người cùng huyết thống trực hệ. Khi đi gửi vong thì “cứ lẳng lặng mà đi”, không được bàn ở nhà trước vì vong rất tinh khôn biết là đi gửi vong thì vong sẽ không đi theo nữa.

Trong thời gian gửi vong (3 năm) thì gia đình không được cúng hay thắp hương gọi người quá cố vì có hương là có hồn, vong nghe thấy gọi tên mình và theo về, như vậy việc gửi thất bại. Chính vì vậy có trường hợp phải gửi đi gửi lại nhiều lần. Sau 3 năm khi “sang nhà mới” cho người chết và sau khi xin vong từ chùa về thì gia đình có thể cúng như bình thường.

Hiểu một cách nôm na gửi vong vào chùa Hàm Long Bắc Ninh giống như đi tù trên dương thế. 3 năm phải ở chùa và ăn chay, không được trở về gia đình, cúng lễ không được nhận chính vì thế vong rất cực khổ.

Theo quan điểm của đạo Phật sống chết là chuyện thường niên do nghiệp của mỗi người. Nghiệp có nghiệp riêng và nghiệp chung, nhưng nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chi phối. Theo Hòa thượng Thích Thanh Dũng thì giữa tín ngưỡng với mê tin có lằn ranh rất nhỏ.
311020-st
vớ vẩn!

Hình ảnh có thể có: nhà, cây, bầu trời và ngoài trời

 DI SẢN THẾ GIỚI (42)

Ghat Tây

Độ cao 2.695 m (8.842 ft)
Vị trí
Tọa độ 10°10′B 77°04′Đ
Ghat Tây, Ghaut Tây còn được gọi là Sahyadri là một dãy núi có diện tích 140.000 km² chạy dài 1.600 km song song với bờ biển phía tây của bán đảo Ấn Độ. Về mặt hành chính, nó thuộc các bang Kerala, Tamil Nadu, Karnataka, Goa, Maharashtra và Gujarat. Đây là Di sản thế giới được UNESCO công nhận và là một trong tám "điểm nóng nhất" về đa dạng sinh học trên thế giới. Nó được gọi là "Đại vách đứng" của Ấn Độ. Là một điểm nóng đa dạng sinh học, tại đây chứa một tỷ lệ lớn động thực vật của đất nước, nhiều trong số đó chỉ được tìm thấy ở Ấn Độ và không nơi nào khác trên thế giới. Theo UNESCO, Ghat Tây là dãy núi già hơn nhiều so với Himalaya. Nó cũng ảnh hưởng đến các kiểu thời tiết gió mùa Ấn Độ bằng cách chặn các cơn gió mùa lớn thổi qua từ phía tây nam vào cuối hè. Phạm vi của nó chạy từ bắc xuống nam dọc theo rìa phía tây của cao nguyên Deccan và ngăn cách cao nguyên này với vùng đồng bằng duyên hải Konkan nhỏ hẹp, nằm dọc theo bờ biển Ả Rập. Ghat Tây có tổng cổng 39 khu vực là các vườn quốc gia, khu bảo tồn động vật hoang dã và khu bảo tồn rừng được công nhận là Di sản thế giới, trong đó có 20 nằm tại Kerala, 10 ở Karnataka, 5 ở Tamil Nadu và 4 ở Maharashtra.

Phạm vi của nó bắt đầu từ gần Songadh của Gujarat ở phía nam sông Tapti, chạy dài 1.600 km (990 dặm) qua các bang Maharashtra, Goa, Karnataka, Kerala và Tamil Nadu và kết thúc tại Marunthuvazh Malai, Swamithope gần mũi phía nam Ấn Độ. Dãy núi bao phủ trên khu vực có diện tích 160.000 km2 (62.000 dặm vuông Anh) tạo thành lưu vực cho các hệ thống thoát nước của nhiều con sông, với gần 40% của Ấn Độ. Ghat Tây chắn các cơn gió mùa tây nam thổi vào cao nguyên Deccan. Độ cao trung bình là 1.200 m (3.900 ft).

Khu vực Ghat Tây là một trong mười "điểm nóng nhất về đa dạng sinh học" với hơn 7.302 loài thực vật có hoa, 1.814 loài thực vật không hoa, 139 loài động vật có vú, 508 loài chim, 179 loài lưỡng cư, 6.000 loài côn trùng và 290 loài cá nước ngọt. Có khả năng nhiều loài vẫn chưa được phát hiện và tại đây có ít nhất 325 loài bị đe dọa toàn cầu có mặt tại đây.

Từ Ghat được sử dụng nhiều trong ngữ hệ Dravida như trong tiếng Kannada là gatta có nghĩa là dãy núi, tiếng Tamil là kattu có nghĩa là sườn núi, tường chắn, đỉnh núi, đường đắp cao. Ghat là thuật ngữ được sử dụng ở tiểu lục Ấn Độ đề cập đến các ngọn đồi ven biển như Ghat Đông và Ghat Tây; hoặc một loạt các bậc thang dẫn xuống vùng nước hoặc cầu cảng, nơi tắm hoặc an táng dọc theo sông và ao hồ như là Ghats tại Varanasi, Dhoby Ghaut, Aapravasi Ghat. Những con đường băng qua dãy núi được gọi là Đường Ghat.

Địa chất
Ghat Tây là dãy núi bị đứt gãy và xói mòn của cao nguyên Deccan. Bằng chứng địa chất chỉ ra rằng, nó được hình thành trong quá trình phá vỡ siêu lục địa Gondwana khoảng 150 triệu năm trước. Bằng chứng địa vật lý chỉ ra rằng, bờ biển phía tây Ấn Độ ra đời ở đâu đó khoảng 100 đến 80 triệu năm trước, sau khi nó tách khỏi Madagascar. Sau khi chia tách, bờ biển tây Ấn Độ xuất hiện như một vách đá đột ngột ở độ cao 1.000 m (3.300 ft). Đá bazan là loại đá chiếm ưu thế. Một số loại đá khác gồm charnockit, đá granit,Khondalit, Granulit và Gneis biến chất cũng xuất hiện bởi đá vôi kết tinh, quặng sắt, dolerit và Anorthosit. Đá ong và bô xít cũng được tìm thấy ở các ngọn đồi phía nam.

Địa lý

Địa hình ở phía nam Ghat Tây.
Ghat Tây kéo dài từ dãy núi Satpura ở phía bắc, trải dài từ Gujarat đến Tamil Nadu. Nó đi qua phía nam các bang Maharashtra, Goa, Karnataka và Kerala. Những chỗ gián đoạn lớn nhất là tại Gián đoạn Goa nằm giữa Maharashtra và Karnataka, và gián đoạn Palakkad trên ranh giới giữa Tamil Nadu và Kerala, giữa các đồi Anaimalai và Nilgiri. Ghat Tây giúp chắn những cơn gió mùa tây nam mang mưa ẩm và gió mạnh nên khu vực núi này có lượng mưa cao, đặc biệt là sườn phía tây.

Phía bắc của đồng bằng ven biển giữa Ghat Tây và biển Ả Rập được gọi là Konkan, trung tâm là Kanara và phía nam là Malabar. Vùng chân đồi phía đông Ghats ở Maharashtra được gọi là Desh, trong khi chân đồi phía đông của trung tâm bang Karnataka được gọi là Malenadu. Ghat Tây được gọi là Sahyadri ở bang Maharashtra và Karnataka. Dãy núi giao với Ghat Đông tại Nilgiri ở tây bắc Tamil Nadu. Nilgiri cũng nối các đồi Biligiriranga ở phía đông nam Karnataka với các đồi Shevaroy và Tirumala. Phía nam của gián đoạn Palakkad là các đồi Anaimalai nằm ở phía tây Tamil Nadu và Kerala với các phạm vi nhỏ hơn nằm ở phía nam bao gồm các đồi Cardamom, đèo Aryankavu và Aralvaimozhi gần Kanyakumari. Ở Kerala, Ghat Tây được gọi là Sahyan hoặc Sahian. Anamudi nằm ở phía nam là đỉnh cao nhất ở Ghat Tây với 2.695 mét (8.842 ft).

Ghat Tây là một trong bốn lưu vực thoát nước, nuôi dưỡng những dòng sông lâu đời của Ấn Độ. Các sông lớn bắt nguồn từ dãy núi gồm Godavari, Kaveri, Krishna, Thamirabarani, Tungabhadra. Phần lớn các dòng chảy tại Ghat Tây mang theo một lượng nước lớn đổ vào các con sông này trong những tháng gió mùa. Những con sông này chảy về phía đông và đổ ra vịnh Bengal do độ dốc của đất đai. Các nhánh chính bao gồm Kali, Bhadra, Bhavani, Bhima, Malaprabha, Ghataprabha, Hemavathi và Kabini. Một số sông khác đổ về phía tây của dãy núi ra biển Ả Rập với tốc độ nhanh do độ dốc lớn gồm sông Periyar, Bharathappuzha, Pamba, Netravati, Sharavathi, Mandovi và Zuari.

Nhiều con đập được xây dựng trên các con sông nhằm mục đích khai thác thủy điện và hồ chứa thủy lợi tại khắp các tiểu bang. Các hồ chứa có giá trị quan trọng về tưới tiêu và môi trường sống cho cá hồi vân, cá Mahseer và cá chép. Có khoảng 50 đập lớn nằm dọc theo chiều dài của Ghat Tây. Đáng chú ý nhất trong số này là đập Koyna ở Maharashtra, Linganmakki và Shivanasamudra ở Karnataka, Mettur và Pykara ở Tamil Nadu, Parambikulam, Malampuzha và Idukki ở Kerala.

Vào khoảng thời gian gió mùa, những trận mưa lớn và liên tục tạo thành nhiều thác nước đổ ra từ sườn núi. Các thác nước lớn bao gồm Dudhsagar, Unchalli, Sathodi, Magod, Hogenakkal, Jog, Kunchikal, Shivanasamudra, Meenmutty, Athirappilly. Talakaveri là nguồn của sông Kaveri và dãy Kuduremukha là nguồn của Tungabhadra. Ghat Tây có một số hồ chứa và hồ nhân tạo lớn như là Ooty, Kodaikanal, Berijam, Pookode, Vagamon, Devikulam, Letchmi.

Hệ sinh thái

Những mảng rừng nhiệt đới Shola, một phần của rừng mưa nhiệt đới Ghat Tây.
Ghat Tây có bốn kiểu hệ sinh thái gồm Rừng lá rộng ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới-Rừng rụng lá Bắc Ghat Tây, Rừng mưa nhiệt đới Bắc Ghat Tây, rừng rụng lá ẩm Nam Ghat Tây và rừng mưa nhiệt đới Nam Ghat Tây. Phần phía bắc của dãy núi nói chung khô cằn hơn so với phía nam và có độ cao thấp hơn tạo thành hệ sinh thái rừng rụng lá Bắc Ghat Tây với các khu rừng được tạo thành từ gỗ tếch. Ở độ cao trên 1.000 mét là những khu rừng nhiệt đới mát mẻ và ẩm ướt hơn Bắc Ghat Tây với các loài thường xanh thuộc họ Nguyệt quế.

Các khu rừng thường xanh ở Wayanad đánh dấu sự chuyển tiếp của các vùng sinh thái phía bắc và phía nam của Ghat Tây. Các khu vực sinh thái phía nam nói chung là ẩm ướt và phong phú loài hơn. Ở các đồi thấp là rừng rụng lá ẩm Nam Ghat Tây, đặc trưng bởi các loài thuộc chi Cullenia, cùng với một số loài khác gồm tếch, dầu và nhiều loài khác. Các khu rừng ẩm này dần chuyển thành rừng rụng lá khô cằn cao nguyên Nam Deccan về phía đông. Ở độ cao trên 1.000 mét là rừng mưa nhiệt đới Nam Ghat Tây mát mẻ và ẩm ướt. Những khu rừng đất thấp xung quanh bị chi phối bởi các loài cây thường xanh mặc dù một số đồng cỏ trên núi và những khu rừng cằn cỗi có thể được thấy ở khu vực cao nhất. Các khu rừng mưa nhiệt đới Nam Ghat Tây là khu vực sinh thái giàu có nhất bán đảo Ấn Độ với 80% các loài thực vật có hoa của toàn bộ dãy Ghat Tây được tìm thấy ở khu vực sinh thái này.

Bảo vệ
Trong quá khứ, Ghat Tây được bao phủ bởi những khu rừng rậm, cung cấp thực phẩm và môi trường sống cho những người dân bản địa. Địa hình khó tiếp cận của dãy núi khiến việc canh tác và xây dựng các khu định cư trở lên khó khăn. Sau khi người Anh đến khu vực này, các vùng lãnh thổ rộng lớn đã bị chặt phá để trồng rừng và canh tác. Khu rừng ở Ghat Tây đã bị chia cắt nghiêm trọng do các hoạt động của con người, đặc biệt là chặt hạ để trồng chè, cà phê và gỗ tếch trong thời gian từ 1860 đến 1950. Các loài quý hiếm, đặc hữu của rừng mưa nhiệt đới bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Đây là khu vực nhạy cảm với sự phát triển và được tuyên bố là một điểm nóng về đa dạng sinh học vào năm 1988 thông qua những nỗ lực của nhà sinh thái học người Anh Norman Myers. Tuy diện tích đất đai chỉ chiếm 5% của Ấn Độ nhưng 27% loài thực vật bậc cao (4.000 loài) của Ấn Độ được tìm thấy tại đây, trong đó có 1.800 loài là đặc hữu. Dãy núi là nhà của ít nhất 84 loài lưỡng cư, 16 loài chim, 7 loài động vật có vú và 1.600 loài thực vật có hoa không được tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên Trái đất. Chính phủ Ấn Độ đã thành lập nhiều khu bảo tồn bao gồm 2 khu dự trữ sinh quyển, 13 vườn quốc gia để hạn chế việc ra vào của con người, cùng với một số khu bảo tồn động vật hoang dã để bảo vệ các loài bị đe dọa cụ thể và rất nhiều các khu rừng dự trữ quốc gia. Một số khu vực bảo vệ lớn có thể kể đến Khu dự trữ sinh quyển Nilgiri với diện tích 5.500 kilômét vuông (2.100 dặm vuông Anh) của những cánh rừng thường xanh Nagarhole và rừng rụng lá Bandipur là khu vực bảo vệ lớn nhất tại Ghat Tây. Hay như Vườn quốc gia Thung lũng Silent ở Kerala là một trong những rừng thường xanh nhiệt đới nguyên sinh cuối cùng ở Ấn Độ.

Năm 2006, Ấn Độ đã đệ trình đơn lên UNESCO cho việc xét Ghat Tây vào danh sách Di sản thế giới. Năm 2012, 39 khu vực bảo vệ thuộc Ghat Tây được công nhận là Di sản thế giới bao gồm:

Khu bảo tồn hổ Kali, Dandeli, Karnataka
Vườn quốc gia và Khu bảo tồn động vật hoang dã Indira Gandhi, Tamil Nadu
Khu bảo tồn chim Mundigekere, Sirsi, Karnataka
Khu bảo tồn hổ Kalakkad Mundanthurai, Tamil Nadu
Khu bảo tồn chim Thattekad, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Shendurney, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Neyyar, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Peppara, Kerala
Khu bảo tồn hổ Periyar, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Srivilliputtur, Tamil Nadu
Vườn quốc gia Eravikulam, Kerala
Vườn quốc gia Các đồi Grass, Tamil Nadu và Kerala
Vườn quốc gia Karian Shola, Karnataka
Khu bảo tồn động vật hoang dã Sathyamangalam, Tamil Nadu
Khu bảo tồn động vật hoang dã Chinnar, Kerala
Vườn quốc gia Thung lũng Silent, Kerala
Vườn quốc gia Mukurthi, Tamil Nadu
Khu bảo tồn động vật hoang dã Pushpagiri, Karnataka
Khu bảo tồn động vật hoang dã Brahmagiri, Karnataka
Khu bảo tồn động vật hoang dã Mookambika
Khu bảo tồn động vật hoang dã Talakaveri, Karnataka
Khu bảo tồn động vật hoang dã Aralam, Kerala
Vườn quốc gia Kudremukh, Karnataka
Khu bảo tồn động vật hoang dã Someshwara, Karnataka
Cao nguyên Kaas, Maharashtra
Khu bảo tồn động vật hoang dã Bhimashankar, Maharashtra
Khu bảo tồn động vật hoang dã Koyna, Maharashtra
Vườn quốc gia Chandoli, Maharashtra
Khu bảo tồn động vật hoang dã Radhanagari, Maharashtra
Khu bảo tồn động vật hoang dã Parambikulam, Kerala
Vườn quốc gia Pambadum Shola, Kerala
Vườn quốc gia Anamudi Shola, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Chimmony
Khu bảo tồn động vật hoang dã Peechi-Vazhani, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Wayanad, Kerala
Vườn quốc gia Mathikettan Shola, Kerala
Khu bảo tồn Kurinjimala, Kerala
Vườn quốc gia Karimpuzha, Kerala
Khu bảo tồn động vật hoang dã Idukki
Vườn quốc gia Ranipuram
Khu bảo tồn động vật hoang dã Megamalai, Tamil Nadu
Vườn quốc gia và Khu bảo tồn động vật hoang dã Các đồi Palani, Tamil Nadu
Khu bảo tồn động vật hoang dã Kanyakumari, Tamil Nadu
Vườn quốc gia Bandipur, Karnataka
Vườn quốc gia Nagarhole, Karnataka
Khu dự trữ sinh quyển Nilgiri, Tamil Nadu
Động thực vật
Thực vật
Trong số 7302 loài thực vật có hoa có mặt tại Ghat Tây thì 5.588 loài là bản địa và 376 loài ngoại lai, 2.253 loài trong số đó là đặc hữu của Ấn Độ, 1.273 loài chỉ được tìm thấy ở Ghat Tây.

Động vật
Ghat Tây là nhà của hàng ngàn các loài động vật trong đó ít nhất 325 loài bị đe dọa toàn cầu. Tại đây có ít nhất 139 loài động vật có vú, trong số đó có 16 loài đặc hữu, 13 loài bị đe dọa và 32 loài bị đe dọa ở mức cực kỳ nguy cấp như Cầy đốm lớn Malabar, nhiều loài nguy cấp gồm Khỉ đuôi sư tử, Dê núi sừng ngắn Nilgiri, Hổ Bengal, Voi Ấn Độ và các loài sắp bị đe dọa như Báo Ấn Độ, Voọc Nilgiri, Bò tót. Những ngọn đồi của Ghat Tây đóng vai trò là hành lang động vật hoang dã quan trọng, tạo thành một phần quan trọng của khu bảo tồn voi và hổ. Ghat Tây là nơi có số lượng hổ lớn thứ hai tại Ấn Độ chỉ sau Sundarban với khoảng 336-487 cá thể trên khu vực có diện tích 21.435 km2 (8.276 dặm vuông Anh) khắp Karnataka, Tamil Nadu và Kerala. Ghat Tây cũng là nơi có số lượng voi Ấn Độ trong tự nhiên lớn nhất với 11.000 cá thể trong 8 quần thể khác nhau. Một loài đặc hữu của Ấn Độ là Dê núi sừng ngắn Nilgiri đang trên bờ vực tuyệt chủng mặc dù đã phục hồi và ước tính có 3.122 cá thể trong tự nhiên. Một loài bị đe dọa cực kỳ nguy cấp là Cầy đốm lớn Malabar được ước tính chỉ còn ít hơn 250 cá thể trưởng thành, tập trung tại các tiểu khu vực không quá 50 cá thể, còn số lượng khỉ đuôi sư tử sống rải rác khắp Ghat Tây với khoảng 3.500 cá thể.

Về các loài chim, Ghat Tây có ít nhất 508 loài. Hầu hết 500 loài chim của bang Karnataka tập trung tại dãy núi này. Trong số đó có 16 loài đặc hữu và có nguy cơ tuyệt chủng như Khướu Banasura, Bồ câu rừng Nilgiri, chim cổ đỏ xanh bụng trắng, Chích đuôi xòe, Khướu Ashambu, Sẻ đồng Nilgiri, Vẹt đuôi dài Malabar, Hồng hoàng Malabar, Choàng choạc bụng trắng và nhiều loài chim khác.

Về côn trùng, Ghat Tây có 6.000 loài. Trong đó có 334 loài bướm, 316 loài được tìm thấy tại Khu dự trữ sinh quyển Nilgiri. Đây cũng là nhà của 174 loài chuồn chuồn, trong đó có 107 loài Chuồn chuồn ngô và 67 loài Chuồn chuồn kim, 69 loài trong số đó là đặc hữu. Hầu hết các loài chuồn chuồn đặc hữu có mặt tại các khu vực gần sông suối.

311020-st

Hình ảnh có thể có: núi, bầu trời, đám mây, ngoài trời và thiên nhiên

 Mỹ viện trợ thêm cho Việt Nam 2 triệu usd để khắc phục bão lụt. Thằng bạn khốn nạn 16 vàng dùng dằng mãi mới trả nợ 100k usd.

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2020

 Chủ thì khốn khó. Tớ thì mê cổng chào.

NBD

Không có mô tả ảnh.
Hình ảnh có thể có: 22 người, đám đông
Hoàng Nghĩa Thắng

Ảnh trái: Cổng chào của phường Quảng Phong, thị xã Ba Đồn vừa làm với chi phí 3,5 tỷ đồng để chào mừng ĐH giữa biển nước mênh mông.

Ảnh phải: Người dân Quảng Bình chen lấn nhau để xin hàng cứu trợ.

 Gibraltar Campion (459)

Loài hoa tuyệt với này được coi là một trong những thứ hiếm nhất và chỉ được tìm thấy trên các vách đá cao của Gibraltar. Gibraltar Campion được cho là đã tuyệt chủng kể từ cuối những năm 1970 đến năm 1992, tất cả các dấu vết về loài hoa này đều biến mất và nó chính thức được xem làm đã tuyệt chủng. Tuy nhiên, vào năm 1994, một người leo núi trên vách đá Gibraltar đã tìm thấy một mẫu vật duy nhất và hạt giống của chúng đã được chuyển đến nhân giống trong ngân hàng hạt giống Thiên niên kỷ và giờ đây cây được trồng ở Vườn Bách thảo Alameda Gibraltar và Vườn Bách thảo Hoàng gia ở London.
301020-st

Hình ảnh có thể có: hoa, thực vật, thiên nhiên và ngoài trời

 Chùa Bách Môn (102)

Bách Môn còn có tên khác là chùa Linh Cảm là ngôi cổ tự được xây dựng từ thời nhà Lý để rồi trở thành một di sản văn hóa có bề dày lịch sử tín ngưỡng. Ngôi chùa xưa vô cùng đồ sộ kết cấu hình vuông mặt bằng gần 1.000m2, với 4 mặt tiền đường giống hệt nhau quay về tứ phương được người xưa kết hợp tài tình trong một tổng thể hoàn mỹ. Tuy nhiên công trình kiến trúc này đã bị phá hủy từ cách đây hơn nửa thế kỷ, nay cần phục dựng lại.

Chùa tọa lạc ở thôn Long Khám, xã Việt Ðoàn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh được xây dựng từ thời nhà Lý trên sườn núi Khám Sơn. Trải gần một ngàn năm chùa được trùng tu nhiều lần trong đó đại trùng tu vào những năm 1556 và 1612. Ðến thời chúa Trịnh Sâm (1767-1782), bà Chúa Chè - Tuyên phi Ðặng Thị Huệ khi thất sủng, đã về đây ăn chay cầu nguyện tìm sự yên tĩnh nơi cửa thiền. Bà đã sửa sang tu bổ chùa, kiến thiết quy mô theo quy cách trăm cửa mở ra bốn phía bên ngoài, thành một công trình đồ sộ với đủ cả bốn phương tám hướng để tu tâm tích đức. Từ đó trở thành một công trình kiến trúc văn hóa có tính độc đáo, nghệ thuật cao.

Cách đây hơn 70 năm Bách Môn tự được một số nhà nghiên cứu Pháp đánh giá là ngôi chùa độc đáo bậc nhất Ðông Dương bởi bố cục độc nhất vô nhị. Căn cứ nền móng được khai quật đối chiếu với những thư tịch cổ, các tài liệu lưu trữ, tàng thư các nhà nghiên cứu khảo cổ nhận định, ngôi chùa Bách Môn xưa là một công trình kiến trúc vô cùng đồ sộ, hoành tráng.
301020-st

Hình ảnh có thể có: ngoài trời

 DI SẢN THẾ GIỚI (41)

antar Mantar, Jaipur

Di sản thế giới UNESCO
Jantar Mantar at Jaipur.jpg
Vị trí Jaipur, Rajasthan, Ấn Độ
Tiêu chuẩn (iii), (iv)
Tham khảo 1338
Công nhận 2010 (Kỳ họp 34)
Diện tích 1,8652 ha (4,609 mẫu Anh)
Vùng đệm 14,6664 ha (36,241 mẫu Anh)
Tọa độ 26°55′29″B 75°49′28″Đ

Jantar Mantar là một đài thiên văn, tượng đài ở Jaipur, tiểu bang Rajasthan, Ấn Độ. Đây là tập hợp của 19 công cụ thiên văn được xây dựng bởi vua Maharaja Jai Singh II từ năm 1727 và 1734, khi Jaipur lúc bấy giờ là kinh đô của vương triều. Tại đây có đồng hồ mặt trời bằng đá lớn nhất thế giới và là một ví dụ minh họa về thuyết địa tâm được chia sẻ bởi nhiều nền văn minh. Quần thể tượng đài này nằm gần Cung điện Thành phố và Hawa Mahal đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2010.

Quần thể có các công cụ thiên văn hoạt động theo ba hệ tọa độ thiên văn cổ điển chính là Hệ tọa độ chân trời, Hệ tọa độ xích đạo và Hệ tọa độ hoàng đạo. Kapala Yantraprakara hoạt động trong hai hệ thống và cho phép chuyển đổi giữa các hệ tọa độ. Đài thiên văn bị hư hại trong thế kỷ 19 nhưng đã sớm được phục hồi dưới sự giám sát của thiếu tá Arthur Garrett trong khoảng thời gian nhà thiên văn học nghiệp dư này công tác tại Jaipur.
301020-st

Hình ảnh có thể có: bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên

 

DẠY VỢ...!
Ngồi xuống đây anh nói vợ nghe.
Đừng cãi nữa để mình mang thêm tội.
Sống ở đời phải biết đâu nguồn cội.
Kính ông bà là để đức cho con.
Rồi mai đây khi cha mẹ chẳng còn.
Lấy ai để sớm hôm mình chăm sóc.
Nhìn di ảnh thương mẹ rồi bật khóc.
Hối hận vì chẳng trọn đạo dâu con.
Mẹ già rồi đâu còn thuở vàng son.
Đừng chấp mẹ mà tội thêm em nhé.
Đừng để bụng những lời nói của mẹ.
Tuổi già thường lẩm cẩm lắm em ơi..!
Mẹ giờ đây đã gần đất xa trời.
Còn trẻ đâu để mà minh mẫn nữa.
Cả một đời mẹ chạy ăn từng bữa.
Củ sắn củ khoai anh khôn lớn nên người....!
Giờ đây mẹ đã gần tuổi mười mươi.
Thường người già có phần hơi dơ bẩn.
Phận làm con chúng mình nên kiên nhẫn.
Chớ buông lời nói mẹ mà sai thêm.
Mắt mẹ mờ vì mất ngủ hằng đêm.
Nếu vụng về em nên cầm tay mẹ.
Sao đứng nhìn rồi buông lời nặng nhẹ....!
Con chúng mình có học được gì không...?
Em đã yêu và lấy anh làm chồng.
Thì mẹ của anh cũng là mẹ em, em nhé.
Mẹ không sinh và nuôi em từ tấm bé.
Nhưng là mẹ anh và bà nội con em..!
Hãy tịnh tâm ngồi suy nghĩ lại xem.
Rồi mai đây mình cũng già như mẹ.
Nếu con mình chúng buông lời nặng nhẹ.
Mình có buồn có tủi lắm hay không ?
Bởi cuộc đời tựa như một dòng sông.
Chảy quanh co rồi ra dòng biển cả.
Đừng để khi mẹ nằm trong đất đá.
Mới thấy mình có tội với mẹ cha...!
(st)


Hình ảnh có thể có: 1 người, ảnh cận cảnh

 Cực lực lên án mục tiêu Hán hóa toàn cầu của Tàu cộng

NBD

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2020

 THEO BẠN:

Những nước nào bị Tàu + đã đánh bả?
Những nước bị Tàu + đánh bả nay đã tỉnh?
Những nước tự đến Tàu + xin bả để ăn?
Những nước Tàu cộng không thể đánh bả?
Tôi xin điền tên trước và còn tiếp tục bổ xung. Cụ thể như sau:
1/ Mỹ bị đánh bả 48 năm, nay đã tỉnh.
2/ Pháp bị đánh bả, mới hơi tỉnh nay lại bị bả tiếp.
3/ Anh bị đánh bả nay đã tỉnh.
4/ Đức bị đánh bả, nay hơi tỉnh.
5/ Ý bị đánh bả, nay hơi tỉnh.
6/ Hà Lan bị đánh bả, nay hơi tỉnh
7/ Ba Lan bị đánh bả, nay hơi tỉnh
8/ Tây Ban Nha bị bả, nay hơi tỉnh
9/ Ái Nhĩ Lan bị bả, nay hơi tỉnh
10/ Cộng hòa Séc bị bả nặng nay chưa tỉnh
11/ Kyrgyzstan bị bả rất nặng.
12/ Úc bị đánh bả, nay đã tỉnh.
13/ New Zi land bị đánh bả, nay đã tỉnh
14/ Cộng hòa Kiribati ở châu Đại Dương) bị bả nặng, chưa tỉnh
15/ Maldives bị bả nặng.
16/ Iran bị đánh bả, nay còn mê man.
17/ Sri lanka bị đánh bả cực nặng, vẫn còn mê man.
18/ Cambodia bị đánh bả nặng ở nhiều thời kỳ khác nhau.
19/ Lào bị đánh bả. Nhiều làng Tàu + đã mọc lên ở xứ Triệu voi.
20/ Thái Lan tiếp tục bị bả.
21/ Malaixia bị bả nay đã tỉnh.
22/ Philipine bị bả hiện chưa tỉnh.
23/ Myanmar bị bả chỉ hơi tỉnh.,
24/ Bắc Hàn bị đánh bả nặng. Nằm gọn trong rọ của khựa.
25/ Pakistan bị bả nặng.
26/ Srilanka bị bả nặng.
27/ Nepal bị bả nặng.
28/ VN tự đến xin bả ăn và phấn khởi chui vào rọ của Tàu +. Tự cho đây là hành động rất khôn ngoan.
29/ Canada bị bả nay đã tỉnh.
30/ Venezuela bị đánh bả.
31/ Ai Cập bị bả nặng.
32/ Tàu + đánh bả các nước ở châu Phi với tổng giá trị 150 tỷ usd. Hiện các nước châu Phi đang đòi Tàu + xóa nợ.
33/ Tàu + không thể đánh bả được Nhật, Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc...
Mời các bạn am hiểu tình hình quốc tế điền tiếp các danh sách cụ thể.
Còn tiếp
29.10.20-NBD

 Golden Parrot’s Beak (458)

Golden Parrot’s Beak là một loài cây nhiệt đới tuyệt đẹp có nguồn gốc từ Quần đảo Canary và thường được trồng làm loài cây lâu năm. Cây nổi tiếng vì tạo ra những bông hoa có hình dáng giống mỏ của những chú vẹt, màu sắc rực rỡ, bắt mắt, là sự hòa quyện giữa vàng óng, cam và đỏ đậm xuất hiện từ cuối mùa xuân đến đầu hè và đôi khi là vào mùa thu khi nhiệt độ bắt đầu lạnh.
291020-st

Hình ảnh có thể có: thực vật, hoa, thiên nhiên và ngoài trời

 Chùa Lim (101)

Chùa Lim thờ phật, thờ mẫu Liễu Hạnh. Ngày nay chùa thu nhỏ nhưng nhờ hội Lim mà chùa vẫn được đông khách thập phương đến lễ. Hội Lim là một trong những lễ hội lớn nhất tỉnh Bắc Ninh

Hội Lim là hội của chùa Lim Bắc Ninh. Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc có nhiều công lao với triều đình được phong thưởng nhiều bổng lộc đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim.

Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân có tên Hồng Vân từ bi ký cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng hậu hàng tổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào “ngày sinh” và “ngày hóa” của ông tại lăng Hồng Vân và chùa Hồng ân trên núi Lim.

Trải tháng năm lịch sử hội Lim đã có nhiều lớp văn hóa, trong đó người ta chỉ tổ chức tế lễ hậu thần vào một dịp là ngày 13 tháng giêng trùng với hội chùa Lim Bắc Ninh. Chính vì vậy mà có hội Lim và đây là hội hàng tổng.

Hội chùa Lim Bắc Ninh được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước với đông đảo người dân tham gia trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả gần km. Trong ngày lễ có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng trong đó có tục hát thờ hậu. Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân để tế lễ hậu thần. Trong khi tế có nghi thức hát quan họ thờ thần.

Để hát thờ các liền anh, liền chị quan họ nam và nữ của tổng Nội Duệ đứng thành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát họ chỉ được hát những giọng lề lối để ca ngợi công lao của thần. Hội chùa Lim đi vào lịch sử và tồn tại và phát triển cho đến ngày nay được hàng tổng chuẩn bị tập rượt rất chu đáo từ ngày 9 và 10, rồi được diễn ra từ ngày 11 đến hết ngày 14 tháng giêng.

Chính hội chùa Lim Bắc Ninh là ngày 13 với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy. Trong các nhà thờ họ Nguyễn, họ Đỗ ở làng Đình Cả, dâng hương cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân.

Về với Hội chùa Lim Bắc Ninh là về với một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian đến xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm… như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật. Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc đáo, mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc thái văn hoá cao.

291020-st

Hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng và ngoài trời

 DI SẢN THẾ GIỚI (40)

Pháo đài Đỏ

Vị trí Old Delhi, Ấn Độ
Tọa độ 28,656°B 77,241°Đ
Chiều cao 18–33 mét
Xây dựng 12 tháng 5 năm 1639 – 6 tháng 4 năm 1648
(8 năm, 10 tháng 25 ngày)
Kiến trúc sư Ustad Ahmad Lahori
Phong cách kiến trúc Ấn-Hồi giáo, Mughal
Chủ sở hữu
Đế quốc Mogul (1639–1857)
Đế quốc Anh (1857–1947)
Di sản thế giới
Tên chính thức: Quần thể Pháo đài Đỏ
Loại Văn hóa
Tiêu chuẩn ii, iii, vi
Ngày nhận danh hiệu 2007 (31st session)
Số hồ sơ tham khảo 231rev
Quốc gia Ấn Độ Ấn Độ
Vùng Châu Á và châu Đại Dương
Pháo đài Delhi, còn gọi là Lal Qil'ah, hay Lal Qila (Tiếng Hindu: लाल क़िला, Urdu: لال قلعہ) có nghĩa là Pháo đài Đỏ, là một pháo đài lịch sử nằm tại thành phố Delhi, Ấn Độ. Đây là nơi cư ngụ chính của các hoàng đế Mogul trong gần 200 năm, cho đến năm 1856. Nó nằm ở trung tâm Delhi và có một số bảo tàng. Ngoài việc là nơi ở cho các hoàng đế và các hoàng thân, đó là trung tâm chính trị và nghi lễ của nhà nước Mogul và là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng của khu vực.

Được xây dựng vào năm 1639 bởi Hoàng đế Mogul thứ năm Shah Jahan với tư cách là cung điện của thủ đô Shahjahanabad, pháo đài Đỏ được đặt theo tên của những bức tường lớn bằng đá sa thạch đỏ nằm cạnh Pháo đài Salimgarh cũ được xây dựng bởi Islam Shah Suri vào năm 1546. Các phòng ở hoàng gia bao gồm một dãy các nhà lều, được kết nối bởi một kênh dẫn nước được gọi là Kênh thiên đường (Nahr-i-Bihisht). Tổ hợp pháo đài được coi là đại diện cho đỉnh cao của sự sáng tạo Mogul dưới thời Shah Jahan và mặc dù được quy hoạch theo kiến trúc Hồi giáo, mỗi nhà lều đều chứa các yếu tố kiến ​​trúc đặc trưng của các tòa nhà Mogul, phản ánh sự hợp nhất của truyền thống Ba Tư, Timurid và Ấn Độ giáo. Phong cách kiến trúc sáng tạo thể hiện qua các thiết kế sân vườn, ảnh hưởng đến các tòa nhà và cảnh quan vườn sau này ở Delhi, Rajasthan, Punjab, Kashmir, Braj, Rohilkhand và các nơi khác.

Pháo đài đã bị cướp phá và mất đi rất nhiều các tác phẩm nghệ thuật, đồ trang sức trong cuộc xâm lược Đế quốc Mogul của Nadir Shah vào năm 1747. Hầu hết các cấu trúc bằng đá cẩm thạch quý của pháo đài sau đó đã bị người Anh phá hủy sau Cuộc nổi dậy năm 1857. Các bức tường phòng thủ của pháo đài chủ yếu còn tồn tại được, và sau đó được sử dụng làm đồn trú. Pháo đài Đỏ cũng là nơi người Anh đưa hoàng đế cuối cùng của Mogul ra xét xử trước khi đày ông đến Yangon vào năm 1858.

Hàng năm, vào ngày quốc khánh (15 tháng 8), thủ tướng treo quốc kỳ Ấn Độ tại cổng chính của Pháo đài và phát biểu toàn quốc từ tường thành của Pháo đài Đỏ. Nó được UNESCO công nhận như là một phần của Di sản thế giới quần thể Pháo đài Đỏ.

Tên nguyên
Pháo đài Đỏ là tên tiếng Anh, còn trong tiếng Hindustan là Lāl Qila xuất phát từ những bức tường sa thạch đỏ. Đây là nơi ở của gia đình hoàng gia, pháo đài ban đầu được gọi là Qila-i-Mubārak có nghĩa là "Pháo đài Thần thánh". Lāl Qila cũng là cái tên để gọi cho Pháo đài Agra.
291020-st

Hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời