Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020

Flamingo Đại Lải
Hồ Đại Lải là một hồ nước rộng tới 525 ha ở thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc, cách thủ đô Hà Nội 45km về phía Bắc. Hồ Đại Lải – viên ngọc quý được thiên nhiên cùng con người tạo ra với đồi núi, các bán đảo, rừng cây và hồ nước xanh biếc, quanh năm soi bóng mây trời. Khí hậu ở Đại Lải quanh năm không có nhiều biến động. Đại Lải như một viên ngọc quý con người tự tạo ra. Giữa chập chùng những đồi núi, rừng cây là hồ nước mênh mông xanh biếc, quanh năm soi bóng mây trời. Bao quanh ven hồ là những khách sạn, nhà nghỉ với kiến trúc nhẹ nhàng thơ mộng, bãi tắm rộng thoai thoải và những dịch vụ vui chơi giải trí.
Đến với Đại Lải du khách có thể tham quan đảo Ngọc (đảo Chim) rộng 6ha nằm ngay giữa mặt hồ, đạp xe, đi du thuyền, chèo thuyền kayak, bơi, câu cá hoặc đi thăm hang Dơi, leo núi hay đi dạo trong rừng thông và tham gia vào các hoạt động thể thao khác rất tốt cho sức khỏe. Bơi thuyền ra giữa hồ, bạn sẽ được ngắm nhìn sắc trời và không gian khoáng đạt của lòng hồ, đây là trải nghiệm thực sự thú vị.
1380-st
Tôi đã nhiều lần đến nơi này. Một cảnh quan thiên nhiên đẹp với hồ rộng giữa một vùng đồi rừng cây thưa thớt. Người ta đã đầu tư xây dựng nhiều công trình cho nghỉ dưỡng nơi đây. Có nhiều công trình lớn. Đáng tiếc có rất ít công trình đẹp dù họ cố phủ hàng loạt cây xanh lên các tòa nhà. Các nhà đầu tư thích làm công trình nhanh gọn, đơn giản để thu hồi vốn và lãi nhanh nên nhiều nhà nghỉ là theo kiểu chồng các bao diêm lên nhau. Nhìn thật là đơn điệu nhàm chán. Nếu người Ý, người Pháp đầu tư vào đây thì chắc được một khu du lịch, nghỉ dưỡng tuyệt đẹp. Ôi những cái mắt và cái đầu VN ! (NBD)
Tam Đảo
Khu du lịch Tam Đảo cách thủ đô Hà Nội khoảng 80 km bao gồm 50 km theo quốc lộ 2 và khoảng 24 km theo đường quốc lộ 2B trong đó có 13 km đường đèo. Do nằm ở độ cao lớn nên khu du lịch Tam Đảo có khí hậu mát mẻ dễ chịu,nhiệt độ trung bình luôn thấp hơn khoảng 7 độ so với thủ đô Hà Nội.Ngoài ra vào một số mùa trong năm toàn thị trấn thường được bao phủ bởi lớp sương mù trắng xoá tạo nên khung cảnh kì ảo làm khách du lịch thích thú. Đến du lịch Vĩnh Phúc chắc chắc du khách không thể bỏ quan Tam Đảo.
Đến Tam Đảo bạn được hoà mình vào khung cảnh thiên nhiên của núi rừng nơi đây, đi bộ dạo quanh thị trấn, leo những bậc đá xuống Thác Bạc, lên đền Bà Chúa Thượng Ngàn, Tháp Truyền hình, trekking trong Vườn quốc gia Tam Đảo,…
1320-st
Tôi đã nhiều lần lên khu nghỉ mát Tam Đảo. Có lần leo lên tận chân cột phát sóng truyền hình Tam Đảo. Lên tới điểm cao này, nhìn thấy rõ hồ Núi Cốc bên Thái Nguyên. Rất tiếc lúc ấy ở chân cột truyền hình này, người ta không biết giành một tý gì cho khách du lịch cả. Rơi vào tay các nước phát triển thì thôi rồi. Họ phải làm nhiều thứ để du khách ở khu nghỉ mát phải náo nức kéo nhau lên tham quan.
Lên khu nghỉ mát Tam Đảo tích nhất là nhiều lúc được ngắm mây, được tắm mây, người trộn lẫn trong mây...Trời đang quang đãng, bất chợt mây mù ùn ùn kéo đến bao phủ tất cả. Mây đến 1 lúc rồi có khi lại kéo đi bất chợt lại để trật ra mọi thứ...(NBD)
Chùa Hà Tiên (72)
Chùa Hà tiên tọa lạc trên một khu đất đẹp, rộng 6,2ha thuộc khu đô thị mới Hà Tiên Vĩnh Phúc. Đây là ngôi chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, được trùng tu, tôn tạo, mở rộng từ năm 2005 đã trở thành một trung tâm Phật học lớn có một quần thể kiến trúc truyền thống đẹp, hài hòa với cảnh quan mà vẫn bảo tồn được nhiều di sản quý, là điểm du lịch văn hóa tâm linh của Phật tử và nhân dân trong cả nước.
Chùa Hà Tiên vừa là nơi thờ phật, vừa là phật học đường nơi truyền bá tri thức giáo pháp cho nhiều thế hệ tăng ni, cư sĩ qua hàng trăm năm, và cũng là nơi thờ bà thánh mẫu Năng Thị Tiêu. Đặc biệt nơi đây đã từng lưu dấu của chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến chùa du khác còn được khám phá những đi sản còn lại của chùa Cây hương đá, tấm bia đá hai mặt, hai con voi đá, khu vườn mộ, tháp sư và giếng ngọc.
1620-st
Khu danh thắng Tây Thiên
Nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 65 km về phía Tây Bắc, Khu danh thắng Tây Thiên (thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc) là một quần thể văn hóa du lịch tổng hợp, đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia từ năm 1991.
Khu danh thắng Tây Thiên được tọa lạc trong lòng chảo rừng nguyên sinh Tam đảo, tại trung sơn điểm giữa các huyệt mạch quốc gia gồm Đền Hùng của nhà nước Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước, Hoa Lư của cố đô nước Đại Việt, núi Tản- Sông Đà, các trụ xứ phật giáo thâm uy như Chùa Hương, Yên Tử; tất cả tạo nên một thế phong thủy vững chãi dựa vào mạch núi thiêng tỏa ra đồng bằng rộng mở và tràn xuống phương Nam, hướng về biển lớn.
Đến với Tây Thiên các bạn có thể tham quan: Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, Đại Bảo Tháp Kim Cương Thừa Mandala, Đền Thỏng, Cây đa chín cội, Đền Quốc Mẫu Tây Thiên, Đền cô Chín ...
Tây Thiên từ lâu đã trở thành một khu di tích, danh lam thắng cảnh có giá trị nhiều mặt, nơi đây vừa được coi như một quần thể di tích kiến trúc, vừa có cảnh quan sơn thủy hữu tình, địa thế “long chầu, hổ phục”… đã biến Tây Thiên thành điểm du lịch tâm linh hấp dẫn.
1620-st
Sau khi ở đây lắp cáp treo, tôi và hội đồng ngũ 1966 đã đến nơi này. Thôi thì cũng đến một lần cho biết. (NBD)
bọn khựa không giây phút nào dừng lấn chiếm ra xung quanh. Không hiểu sao lão giời lại sinh ra một loại người xấu xa đến vậy?
Thanh Thanh
Xung đột biên giới Ấn - Trung
Tình hình ở biên giới Trung-Ấn đang xấu đi nhanh chóng. Một đoạn video trên mạng Twitter vào ngày chủ nhật 31/5, được cho là ghi lại hình ảnh cuộc đụng độ ác liệt giữa lực lượng quân đội Trung Quốc (PLA) và binh sĩ Ấn Độ tại hồ Pangong Tso ở khu vực biên giới hai bên.
Theo đoạn video được đăng tải trên nhiều trang tin Hoa ngữ, một lính Trung Quốc bị phía Ấn Độ bắt đè dưới đất trong khi các binh sĩ Ấn Độ khác dùng gậy gỗ để đập phá chiếc xe trinh sát “Chiến binh Đông Phong”.
Truyền thông Mỹ cùng ngày 31/5 đưa tin rằng, PLA đã đụng độ với binh lính Ấn Độ ở biên giới, và cả hai bên đều có binh sĩ bị thương. Đoạn video ngắn trên Internet cho thấy, một chiếc xe việt dã trinh sát của PLA đã bị hàng chục lính Ấn Độ bao vây trên một con đường núi hẹp. Một lính PLA đã bị quân đội Ấn Độ đẩy ngã xuống đất và cố sử dụng tấm khiên để tự vệ, nhưng vẫn bị các lính Ấn Độ sử dụng đá và gậy đánh khiến đầu bê bết máu. Trong lúc hỗn chiến, có thể nghe thấy những tiếng la hét “cứu chúng tôi” bằng tiếng Trung Quốc phổ thông. Sau đó, một số lượng lớn binh sĩ PLA đã kéo đến hiện trường tăng viện.
Hai bên đối diện nhau ở khoảng cách khoảng chục mét, sau đó các binh sĩ PLA và Ấn Độ đã nổ ra một cuộc hỗn chiến. Mặc dù không có nổ súng, nhưng họ đã phải đánh nhau với đá cục và gậy dài, cả hai bên đều có người bị thương.
Tranh chấp biên giới Trung-Ấn có lịch sử lâu đời. Gần đây, đã xảy ra nhiều cuộc xung đột ở khu vực hồ Pangong Tso. Có thông tin cho biết PLA đã gửi hơn 5.000 binh sĩ đến đồn trú tại địa phương và số lượng tàu tuần tra đã tăng lên gấp ba, tương đương với số lượng tàu tuần tra của Ấn Độ.
Tờ The New York Times ngày 30/5 cũng đưa tin, hai bên không nổ súng, nhưng trong mấy lần xung đột đều kịch chiến bằng gậy gộc, đá và chơi tay không giữa các binh sĩ. New York Times còn cho biết thêm, trong một trận kịch chiến ven hồ Pangong Tso, mấy lính Ấn Độ đã bị thương nặng, phải dùng đến máy bay lên thẳng để chở đi. Phía Ấn Độ nói bên quân đội Trung Quốc cũng có người bị thương.
Đài BBC của Anh hôm 30/5 cho biết, báo chí Ấn Độ dẫn lời quan chức nước này nói, mấy ngàn lính Trung Quốc đã tiến vào thung lũng Galwan ở Ladakh tranh chấp ở bang Kashmir. Tin cho biết, các nhà lãnh đạo Ấn Độ và các nhà chiến lược quân sự đều cảm thấy sửng sốt về những hình ảnh trong video này.
BBC cũng cho biết chi tiết thêm, đầu tháng 5 quân đội Trung Quốc đã tiến vào mấy cây số sâu bên trong khu vực Ấn Độ cho là lãnh thổ của họ để dựng lều bạt, đào hào, vận chuyển các thiết bị hạng nặng. Trước đó, Ấn Độ đã làm một con đường dài mấy trăm cây số nối với một căn cứ không quân ở tuyến trước nằm trên khu vực có độ cao lớn; căn cứ này được sử dụng trở lại từ năm 2008.
Giới quan sát Ấn Độ cho rằng, Trung Quốc muốn truyền đi tín hiệu rất rõ: đây không phải là một lần xâm nhập thường kỳ. “Tình hình rất nghiêm trọng. Người Trung Quốc tiến vào một bộ phận lãnh thổ của Ấn Độ mà họ tự nhận là của mình. Điều này hoàn toàn thay đổi hiện trạng”, ông Ajai Shukla, một chuyên gia quân sự từng là Đại tá quân đội Ấn Độ nói.
Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh hôm 30/5 khi tiếp xúc giới truyền thông, cũng đã chính thức xác nhận có sự xung đột nói trên giữa hai bên Ấn Độ và Trung Quốc.
TT (t/h)
Hiểu thêm lòng dạ Mao
Huy Luu
CUỘC ĐỜI BI THẢM CỦA NGUYÊN SOÁI BÀNH ĐỨC HOÀI
---Kim Ngân---
"Nguyên soái Trung Quốc Bành Đức Hoài có thể không bao giờ tưởng tượng được rằng ông sẽ phải trả giá vì một bức tâm thư gửi cho Mao Chủ tịch…"
-------------
Bành Hoài Đức tên thật Bành Đức Hoa, là một trong 10 nguyên soái của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc và giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 1954 đến 1959. Ông là một chỉ huy chủ chốt trong cuộc chiến Trung - Nhật lần hai và cuộc chiến tranh giải phóng Trung Quốc, đồng thời là Tổng chỉ huy lực lượng Chí nguyện quân Trung Quốc trong cuộc chiến Triều Tiên. Tuy nhiên, vị tướng đầy bản lĩnh này đã phải trả giá rất đắt cho sự nghiệp trọn đời của mình vì dám phản đối nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông trong phong trào Đại nhảy vọt.
• Khai quốc công thần
Theo Nhân dân nhật báo, Bành Đức Hoài sinh ngày 24.10.1898 tại huyện Tương Đàm. Cậu bé Bành có đôi mắt lanh lợi, được trời phú một tinh thần mạnh mẽ và kiên định. Xa gia đình từ lúc 9 tuổi, cậu xin làm công nhân tại các mỏ than rồi tham gia xây dựng đập nước trên hồ Động Đình trong 6 năm sau đó. Bành Đức Hoài vào quân đội lúc 16 tuổi và 12 năm sau vươn đến chức chỉ huy lữ đoàn trong Quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng. Cuộc đời Bành Đức Hoài chính thức rẽ sang hướng khác kể từ khi chàng trai này rời Quốc dân đảng để tránh sự “truy sát” của Tưởng Giới Thạch vào năm 1927 và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc không lâu sau đó.
Trong cuộc rút lui quân sự chiến lược mang tên Vạn lý Trường chinh kéo dài 370 ngày vào các năm 1934 và 1935, Bành Đức Hoài giữ vai trò chỉ huy Quân đoàn 3. Sự nghiệp của ông tiếp nối với vai trò Phó tổng tư lệnh quân đội Cộng sản Trung Quốc và điều phối Chiến dịch Trăm trung đoàn trong thời gian nổ ra Thế chiến thứ hai. Những đối sách táo bạo và đầy mưu lược của Bành Đức Hoài “sau lưng” quân Nhật ở miền bắc Trung Quốc đã góp phần quan trọng giúp đẩy quân đội Thiên hoàng tiến gần đến thất bại. Trong những giai đoạn cuối của chiến tranh giải phóng Trung Quốc, Bành Đức Hoài chỉ huy Quân đoàn chiến trường số 1 lần lượt giành quyền kiểm soát các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ và Thanh Hải.
Ngày 8.10.1950, ông được phong làm Tư lệnh tối cao Chí nguyện quân nhân dân Trung Quốc tham chiến ở Triều Tiên và giữ vị trí này đến khi đạt được thỏa thuận đình chiến vào năm 1953. Cùng thời gian đó, ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, trở thành ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc và được tấn phong Nguyên soái vào năm 1955.
• Đoạn kết bi thảm
Đúng với tính cách được Dương Thượng Côn mô tả, Bành Đức Hoài không hề ngần ngại bày tỏ ý kiến của mình trước những chính sách sai lầm của Đảng Cộng sản Trung Quốc khi chúng mang lại nhiều khổ đau cho người dân trong thời kỳ Đại nhảy vọt. Bi kịch của nguyên soái họ Bành nảy sinh từ hội nghị của các lãnh đạo đảng ở Lư Sơn vào tháng 7.1959, khi ông gửi tâm thư phê phán Đại nhảy vọt đến Mao Trạch Đông. Theo cuốn Lịch sử Trung Quốc do Đại học Maryland (Mỹ) xuất bản năm 2010, trong bức thư trên, Bành Đức Hoài đã đề cập đến việc quản lý tồi cũng như cảnh báo việc đặt giáo điều chính trị lên trên quy luật kinh tế. Tuy nhiên, dù Bành Đức Hoài sử dụng lời lẽ ôn hòa trong thư, Mao vẫn xem đó là một cuộc công kích cá nhân nhằm vào vai trò lãnh đạo của ông. Sau hội nghị, ông bị cách chức và bị buộc tội “cơ hội hữu khuynh”. Người thay Bành Đức Hoài là Lâm Bưu, một nguyên soái phê phán ông quyết liệt tại cuộc họp ở Lư Sơn.
Theo Nhân dân nhật báo, không chỉ bị cách chức, Bành Đức Hoài còn bị quản thúc và bị xa lánh suốt nhiều năm sau đó. Khi những sai lầm của Đại nhảy vọt lộ rõ vào đầu thập niên 1960, uy tín của ông được khôi phục một phần. Nhờ những nỗ lực minh oan của các lãnh đạo Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, Mao đã đồng ý giao cho Bành Đức Hoài nhiệm vụ quản lý phát triển công nghiệp ở khu vực tây nam trong dự án có tên gọi “Mặt trận thứ ba” vào năm 1965.
Tuy nhiên, số phận của Bành Đức Hoài đã được quyết định khi Cách mạng Văn hóa bùng nổ vào năm 1966. Những Hồng Vệ Binh đáng tuổi con cháu đã bắt giữ, tra tấn và đánh đập tàn tệ vị Nguyên soái khai quốc công thần buộc ông phải thú nhận về các "Hành vi phạm tội chống đảng, chống chủ tịch Mao tại Lư Sơn", âm mưu lập "vương quốc độc lập" tại Hoa Bắc thời kháng Nhật, "phản bội tổ quốc".... chúng lao qua bàn hò hét, quây lại đấm đá túi bụi, ông bị dựng dậy rồi lại gục ngã mấy lần. Bị ép phải viết "thư nhận tội", không thể đứng dậy, ông được đưa đến bệnh viện 267, qua chụp X Quang thấy "xương sườn số 5 bên phải bị gãy, xương sườn số 10 bên trái bị rạn, ngực trái có dấu hiệu tụ máu, ngực phải tổn thương nặng nề"
Từ ngày 26 tháng 7 năm 1967, bệnh nặng liệt giường nhưng ông vẫn bị dẫn giải lần lượt đến 10 địa điểm đấu tố khắp Bắc Kinh, 6 lần với sự tham gia của hơn 10 ngàn người, 7 lần bêu phố. Không cam chịu nhục nhã, bao nhiêu lần bêu phố là bấy nhiêu lần ông ngẩng cao đầu, ưỡn thẳng ngực, kiêu ngạo nhìn kinh bị lũ Hồng Vệ Binh. Càng như vậy những tên đầu trâu mặt ngựa càng hung tợn hơn, đánh ông huỳnh huỵch, bao phen ngất lịm.
Chiều ngày 11 tháng 8 năm 1967, ông bắt gặp Phổ An Tú, vợ ông cũng đang bị giải đi đấu tố. Ông đã xa bà 2 năm, bị đày đọa như một tên tù, cả 2 đều bị trói giật khuỷu, mắt 2 người gặp nhau mà không thể nói với nhau một lời. 10 năm sau nhớ lại bà vẫn không kìm nổi tức giận, cái nhìn ngắn ngủi ấy là sự gặp gỡ cuối cùng của 2 vợ chồng họ.
Năm 1968, ông bị thẩm tra liên tục kiểu bánh xe, 7h tối đến 3h sáng, nhiều khi từ 2h30 phút đến 11h các Hông Vệ Binh thay nhau tra khảo, gào thét từng trận một theo tinh thần "nắm lấy thời gian, đấu tố mạnh, thẩm vấn nhiều" đến khi ông mệt mỏi vô cùng, hoang mang cực độ mới thôi. Các thành viên tổ chuyên án thì thay nhau nghỉ ngơi, ăn uống còn ông thì không. Thực sự không chịu nổi nên ông đã nhiều lần ngất đi. Mặc dù bị giày vò cực độ, ông vẫn giữ khí chất kiên cường, nhiều khi bất chấp hậu quả mắng bọn nhân viên tổ chuyên án:
- "Các anh hãy bắn tôi chết đi, tôi chẳng sợ gì đâu"
Cứ như vậy từ năm 1967 đến cuối năm 1971, ông bị thẩm vấn dã man và tàn khốc tổng cộng 150 lần. Đến mùa xuân 1972, ông bắt đầu đại tiện ra máu, bác sĩ không thể chữa được mới đưa đến bệnh viện giải phóng, từ đó đến cuối đời, năm 1974, ông không ra khỏi bệnh viện.
Năm 1974, bệnh tình nguy kịch. Nhiều lúc đau quá co gập cả người lại lăn xuống thành giường ông vật nài y tá:
- "Tiêm cho tôi một mũi để tôi chết đi cho rồi, tôi đau không chịu nổi nữa rồi"
Y tá chỉ đứng xa xa không dám lại gần.
Ông nói với lính gác:
- "Tôi ra lệnh cho cậu bắn cho tôi một phát, tôi thực sự không chịu nổi nữa".
Lính gác cũng chẳng động đậy, vô thức sờ khẩu súng ngắn giắt lưng quần.
Bao lần ra lệnh cho y tá tiêm để chữa bệnh cho cấp dưới nhưng giờ ông xin được tiêm một mũi để chết. Bao lần ra lệnh cho lính nhằm thẳng quân thù mà bắn nhưng giờ ông ông lại lệnh cho lính gác nhằm vào mình mà bắn."
Sau bị liệt nửa người, không thể tự vệ sinh, các cháu ông mới được đến thăm vào ngày chủ nhật.
Mỗi lần gặp các cháu, ông đều cố gắng sức ngồi dậy, nói rất đau khổ: - "Bác bị liệt rồi mà không thể chăm sóc cho bản thân, nhưng mà vụ án của bác vẫn chưa được điều tra rõ!". Ông căn dặn: "Bác chết rồi hãy mang tro xương về quê chôn đưới đất, trên đó trồng một gốc cây, dù sao tro xương cũng làm được phân bón mà bác có thể đền đáp được cho đất đai quê hương, ân tình của mẹ cha xóm làng."
Đến tháng 9, ông đi vào hôn mê sâu. Thời tiết Bắc Kinh giá lạnh, gió mùa đông Bắc thổi rin rít, Bên trong phòng bệnh số 14, Bành Đức Hoài đã mất hết cảm giác, mồm mũi cùng bị chảy máu
14h52 trái tim vĩ đại đã ngừng đập mà không có một tiếng khóc của người thân, một Nguyên soái vĩ đại đã có những đóng góp, công lao to lớn ra đi mà không một lời chia buồn của những đồng đội.
Sau khi ông chết, tổ chuyên án vội vã báo cáo lên trung ương: "Bành Đức Hoài là phần tử phản bội tổ quốc, đề nghị đổi tên thành Vương Xuyên, hỏa táng thi thể và chôn ở nghĩa trang công cộng."
Mấy hôm sau, trong phòng lưu trữ của nhà hỏa táng ngoại ô Thành Đô, Tứ Xuyên xuất hiện một hộp đựng tro xương bằng gỗ thô lậu, viết bằng sơn "số 273" và dán giấy ghi "Vương Xuyên, đàn ông"
“Ông ấy là người chính trực và ngay thẳng. Ông dành mạng sống và tay chân cho Cách mạng Trung Quốc. Ông ấy trung thành và liêm khiết. Không gì có thể xóa nhòa hình ảnh sáng chói của Bành Đức Hoài khỏi lịch sử Trung Quốc”. Câu nói này của ông Dương Thượng Côn, Chủ tịch Trung Quốc có thể được xem là lời minh oan rõ ràng nhất cho vị tướng có tài thao lược xuất chúng nhưng phải đem nỗi oan khuất xuống mồ.
Năm 1978, Hội nghị toàn thể lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (khóa XI) đã xem xét lại trường hợp của Bành Đức Hoài, ông đã được khôi phục thanh danh và tái khẳng định những đóng góp của Bành Đức Hoài với Cách mạng Trung Quốc.
---------------

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2020

Chú nhạ ơi, chú nhạ ơi
Chú cho khen thế, đến Giời cũng thua...
31520-NBD
Chùa Phước Hậu (73)
Từ Thành phố Cần Thơ, xuôi dòng sông Hậu về phía hạ lưu cách thị trấn Trà Ôm không đầy một cây số, bạn sẽ thấy ở Tản Nhạn có một ngôi chùa cổ đứng giữa những tán tre già.
Chùa được dựng vào hậu bán thế kỷ XVIII. Thiền sư Hoằng Chỉnh ở Quảng Ngãi vào tu đã trùng tu chùa vào năm 1895 và 1910. Chùa được tiếp tục trùng tu và mở rộng dưới thời Hòa thượng Khánh Anh từ năm 1939 và Hòa thượng Thiện Hoa từ năm 1961 đến năm 1972.
Chùa được trùng tu năm 1995.
Chùa có hai ngôi tháp đẹp nổi tiếng, là tháp Thiện Hoa và tháp Đa Bảo.
Năm 1972, Hòa thượng Thích Thiện Hoa viên tịch, Thượng tọa trụ trì Thích Hoàn Phú đã cho xây tháp Thiện Hoa, thờ linh cốt của Ngài.
Tháp Đa Bảo được kiến tạo vào năm 1966, gồm ba tầng. Tầng trên thờ tượng đức Phật nhập niết bàn và Xá lợi Phật. Tầng giữa thờ Pháp Bảo (một bộ kinh Pháp Hoa). Tầng dưới: Phía Đông thờ linh cốt Tổ Khánh Anh, phía Nam thờ linh cốt HT Thích Quảng Đức, phía Tây thờ linh cốt Tổ Khánh Hòa, phía Bắc thờ linh cốt Tổ Huệ Quang, trung tâm thờ đất Phật tại tám Phật tích ở Ấn Độ.
Lễ giỗ tổ Khánh Anh hàng năm vào ngày 29 và 30 tháng giêng Âm lịch trở thành ngày hội của đông đảo Tăng Ni, Phật tử và dân chúng địa phương.
Đây là một di tích có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX cũng như lịch sử Cách mạng của tỉnh Vĩnh Long và khu Tây Nam Bộ. Giữa thế kỷ XIX nơi đây chỉ là một am nhỏ do các tu sĩ từ miền Trung vào đây lập nên. Nhờ công quả của các vị ấy cùng với dân làng Đông Hậu qua nhiều lần xây cất, trùng tu chùa Phước Hậu trở thành một thiền điện uy nghiêm.
Từ đời Hoà thượng Hoàng Chỉnh khai sơn năm 1910 ngôi chùa là một trong các Tổ đình của Thiền Tông Nam Tế ở Việt Nam. Gọi là Tổ đình bởi trong Tháp Đa Bảo của chùa Phước Hậu có thờ di cốt của các vị cao tăng từng lãnh đạo phong trào Phật giáo ở Nam Kỳ, một phong trào tiến bộ nhằm gắn đạo phật với truyền thống dân tộc và đời sống xã hội, đó là Thiền sư Khánh Hoà người khởi xướng phong trào đấu tranh Phật giáo vào năm 1930, Thiền sư Huệ Quang vị pháp chủ đầu tiên của Giáo hội, Thiền sư Khánh Anh pháp chủ đời thứ hai, vị thứ tư là Hoà thượng Thích Quảng Đức, nhà sư đã tự thiêu tại Sài Gòn ngày 11/6 /1963 để phản kháng chế độ Ngô Đình Nhiệm được giới phật tử tôn vinh là Bồ Tát.
Chùa Phước Hậu được dựng lên trên nền của một chiếc am tranh vào năm 1894 có tên là chùa Đông Hậu. Đến năm 1910 Phật tử địa phương đã thỉnh hòa thượng Hoằng Chỉnh ở chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi) vào trụ trì và đổi tên là Phước Hậu. Năm 1939 hòa thượng Hoằng Chỉnh viên tịch, đến năm 1942 bổn đạo thỉnh hòa thượng Khánh Anh từ chùa Long An ở Đồng Đế (Trà Ôn) về trụ trì chùa Phước Hậu. Đến năm 1961 hòa thượng Khánh Anh bấy giờ đang giữ chức Thượng Thủ giáo hội Tăng già toàn quốc chuẩn bị trùng tu chùa Phước Hậu thì hòa thượng viên tịch. Hòa thượng Thiện Hoa kế thế trụ trì và bắt đầu xây dựng lại chùa từ năm 1962. Lúc này hòa thượng Thiện Hoa là viện trưởng giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất nên giao chùa Phước Hậu cho thượng tọa Hoàn Phú trông nom.
Tháp thầy Ba Triền, pháp danh Chơn Thọ, đệ tử tổ Hoằng chỉnh,
mấy mươi năm mở phòng thuốc nam tại Phước Hậu.
Tháp cố Hoà Thượng Hoằng Chỉnh (1862-1940) trong khuôn viên chùa
Tháp cố Hoà thượng Thiện Hoa (1918-1973) trong khuôn viên chùa
Chùa Phước Hậu hiện nay gồm nhiều công trình: chánh điện, trung điện, giảng đường và nhà sau. Chánh điện chùa Phước Hậu hình chữ “sơn”, ngó xuống sông Hậu. Mặt tiền chùa xây theo kiểu cổ lầu, giữa trang trí mô hình ngôi tháp bảy tầng cao chót vót. Nội điện trang trí đơn giản.
Phước Hậu cổ tự là tổ đình của Phật giáo dòng Lâm Tế. Trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc, chùa Phước Hậu là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng.
Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
31520-st

Vườn kinh phật bằng đá
Vườn kinh này được xây dựng trong diện tích trên 4.000m2, thuộc chùa Phước Hậu (Tam Bình, Vĩnh Long), do Thượng tọa Thích Phước Cẩn, trụ trì chùa Phước Hậu khởi xướng.
Khu vườn có 500 trang kinh được khắc trên 250 phiến đá. Công trình Phật giáo có ý nghĩa của Vĩnh Long đang thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong và ngoài tỉnh ghé thăm.
31520-st

Đền thờ Phạm Hùng (62)
Vĩnh Long không chỉ là mảnh đất yêu tín ngưỡng mà còn ghi dấu như mảnh đất của những người con kiên trung vì đất nước. Ngoài ghé thăm miệt vườn sông nước, khách du lịch rất nên ghé thăm khu lưu niệm tưởng nhớ cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
Dạo bước trong khu đền thờ khang trang đẹp đẽ, du khách có thể có thể tìm hiểu về cuộc đời và tấm gương của một nhà lãnh đạo trung kiên – mẫu mực của cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, người đã được đất nước, quê hương và nhân dân muôn đời tưởng nhớ.
31520-st

Chùa Tiên Châu (72)
Một địa điểm du lịch Vĩnh Long được lòng những vị khách du lịch lớn tuổi là chùa Tiên Châu. Ngôi chùa nổi bật với tông màu vàng nhạt trang nhã, nổi bật giữa không gian xanh ngát xung quanh.
Nội điện chùa được trang trí đẹp đẽ, trang nhã. Giữa tứ trụ là khánh thờ, bên trong tôn trí pho tượng Phật Di Đà khổng lồ. Cách thành phố Vĩnh Long không xa nhưng nơi đây dân cư ít, nhà cửa thưa thớt, tôn thêm cảm giác trầm mặc uy nghiêm cho ngôi chùa.
...Xem thêm