"Nguyên soái Trung Quốc Bành Đức Hoài có thể không bao giờ tưởng tượng được rằng ông sẽ phải trả giá vì một bức tâm thư gửi cho Mao Chủ tịch…"
-------------
Bành Hoài Đức tên thật Bành Đức Hoa, là một trong 10 nguyên soái của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc và giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng từ năm 1954 đến 1959. Ông là một chỉ huy chủ chốt trong cuộc chiến Trung - Nhật lần hai và cuộc chiến tranh giải phóng Trung Quốc, đồng thời là Tổng chỉ huy lực lượng Chí nguyện quân Trung Quốc trong cuộc chiến Triều Tiên. Tuy nhiên, vị tướng đầy bản lĩnh này đã phải trả giá rất đắt cho sự nghiệp trọn đời của mình vì dám phản đối nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông trong phong trào Đại nhảy vọt.
• Khai quốc công thần
Theo Nhân dân nhật báo, Bành Đức Hoài sinh ngày 24.10.1898 tại huyện Tương Đàm. Cậu bé Bành có đôi mắt lanh lợi, được trời phú một tinh thần mạnh mẽ và kiên định. Xa gia đình từ lúc 9 tuổi, cậu xin làm công nhân tại các mỏ than rồi tham gia xây dựng đập nước trên hồ Động Đình trong 6 năm sau đó. Bành Đức Hoài vào quân đội lúc 16 tuổi và 12 năm sau vươn đến chức chỉ huy lữ đoàn trong Quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng. Cuộc đời Bành Đức Hoài chính thức rẽ sang hướng khác kể từ khi chàng trai này rời Quốc dân đảng để tránh sự “truy sát” của Tưởng Giới Thạch vào năm 1927 và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc không lâu sau đó.
Trong cuộc rút lui quân sự chiến lược mang tên Vạn lý Trường chinh kéo dài 370 ngày vào các năm 1934 và 1935, Bành Đức Hoài giữ vai trò chỉ huy Quân đoàn 3. Sự nghiệp của ông tiếp nối với vai trò Phó tổng tư lệnh quân đội Cộng sản Trung Quốc và điều phối Chiến dịch Trăm trung đoàn trong thời gian nổ ra Thế chiến thứ hai. Những đối sách táo bạo và đầy mưu lược của Bành Đức Hoài “sau lưng” quân Nhật ở miền bắc Trung Quốc đã góp phần quan trọng giúp đẩy quân đội Thiên hoàng tiến gần đến thất bại. Trong những giai đoạn cuối của chiến tranh giải phóng Trung Quốc, Bành Đức Hoài chỉ huy Quân đoàn chiến trường số 1 lần lượt giành quyền kiểm soát các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ và Thanh Hải.
Ngày 8.10.1950, ông được phong làm Tư lệnh tối cao Chí nguyện quân nhân dân Trung Quốc tham chiến ở Triều Tiên và giữ vị trí này đến khi đạt được thỏa thuận đình chiến vào năm 1953. Cùng thời gian đó, ông giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, trở thành ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc và được tấn phong Nguyên soái vào năm 1955.
• Đoạn kết bi thảm
Đúng với tính cách được Dương Thượng Côn mô tả, Bành Đức Hoài không hề ngần ngại bày tỏ ý kiến của mình trước những chính sách sai lầm của Đảng Cộng sản Trung Quốc khi chúng mang lại nhiều khổ đau cho người dân trong thời kỳ Đại nhảy vọt. Bi kịch của nguyên soái họ Bành nảy sinh từ hội nghị của các lãnh đạo đảng ở Lư Sơn vào tháng 7.1959, khi ông gửi tâm thư phê phán Đại nhảy vọt đến Mao Trạch Đông. Theo cuốn Lịch sử Trung Quốc do Đại học Maryland (Mỹ) xuất bản năm 2010, trong bức thư trên, Bành Đức Hoài đã đề cập đến việc quản lý tồi cũng như cảnh báo việc đặt giáo điều chính trị lên trên quy luật kinh tế. Tuy nhiên, dù Bành Đức Hoài sử dụng lời lẽ ôn hòa trong thư, Mao vẫn xem đó là một cuộc công kích cá nhân nhằm vào vai trò lãnh đạo của ông. Sau hội nghị, ông bị cách chức và bị buộc tội “cơ hội hữu khuynh”. Người thay Bành Đức Hoài là Lâm Bưu, một nguyên soái phê phán ông quyết liệt tại cuộc họp ở Lư Sơn.
Theo Nhân dân nhật báo, không chỉ bị cách chức, Bành Đức Hoài còn bị quản thúc và bị xa lánh suốt nhiều năm sau đó. Khi những sai lầm của Đại nhảy vọt lộ rõ vào đầu thập niên 1960, uy tín của ông được khôi phục một phần. Nhờ những nỗ lực minh oan của các lãnh đạo Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, Mao đã đồng ý giao cho Bành Đức Hoài nhiệm vụ quản lý phát triển công nghiệp ở khu vực tây nam trong dự án có tên gọi “Mặt trận thứ ba” vào năm 1965.
Tuy nhiên, số phận của Bành Đức Hoài đã được quyết định khi Cách mạng Văn hóa bùng nổ vào năm 1966. Những Hồng Vệ Binh đáng tuổi con cháu đã bắt giữ, tra tấn và đánh đập tàn tệ vị Nguyên soái khai quốc công thần buộc ông phải thú nhận về các "Hành vi phạm tội chống đảng, chống chủ tịch Mao tại Lư Sơn", âm mưu lập "vương quốc độc lập" tại Hoa Bắc thời kháng Nhật, "phản bội tổ quốc".... chúng lao qua bàn hò hét, quây lại đấm đá túi bụi, ông bị dựng dậy rồi lại gục ngã mấy lần. Bị ép phải viết "thư nhận tội", không thể đứng dậy, ông được đưa đến bệnh viện 267, qua chụp X Quang thấy "xương sườn số 5 bên phải bị gãy, xương sườn số 10 bên trái bị rạn, ngực trái có dấu hiệu tụ máu, ngực phải tổn thương nặng nề"
Từ ngày 26 tháng 7 năm 1967, bệnh nặng liệt giường nhưng ông vẫn bị dẫn giải lần lượt đến 10 địa điểm đấu tố khắp Bắc Kinh, 6 lần với sự tham gia của hơn 10 ngàn người, 7 lần bêu phố. Không cam chịu nhục nhã, bao nhiêu lần bêu phố là bấy nhiêu lần ông ngẩng cao đầu, ưỡn thẳng ngực, kiêu ngạo nhìn kinh bị lũ Hồng Vệ Binh. Càng như vậy những tên đầu trâu mặt ngựa càng hung tợn hơn, đánh ông huỳnh huỵch, bao phen ngất lịm.
Chiều ngày 11 tháng 8 năm 1967, ông bắt gặp Phổ An Tú, vợ ông cũng đang bị giải đi đấu tố. Ông đã xa bà 2 năm, bị đày đọa như một tên tù, cả 2 đều bị trói giật khuỷu, mắt 2 người gặp nhau mà không thể nói với nhau một lời. 10 năm sau nhớ lại bà vẫn không kìm nổi tức giận, cái nhìn ngắn ngủi ấy là sự gặp gỡ cuối cùng của 2 vợ chồng họ.
Năm 1968, ông bị thẩm tra liên tục kiểu bánh xe, 7h tối đến 3h sáng, nhiều khi từ 2h30 phút đến 11h các Hông Vệ Binh thay nhau tra khảo, gào thét từng trận một theo tinh thần "nắm lấy thời gian, đấu tố mạnh, thẩm vấn nhiều" đến khi ông mệt mỏi vô cùng, hoang mang cực độ mới thôi. Các thành viên tổ chuyên án thì thay nhau nghỉ ngơi, ăn uống còn ông thì không. Thực sự không chịu nổi nên ông đã nhiều lần ngất đi. Mặc dù bị giày vò cực độ, ông vẫn giữ khí chất kiên cường, nhiều khi bất chấp hậu quả mắng bọn nhân viên tổ chuyên án:
- "Các anh hãy bắn tôi chết đi, tôi chẳng sợ gì đâu"
Cứ như vậy từ năm 1967 đến cuối năm 1971, ông bị thẩm vấn dã man và tàn khốc tổng cộng 150 lần. Đến mùa xuân 1972, ông bắt đầu đại tiện ra máu, bác sĩ không thể chữa được mới đưa đến bệnh viện giải phóng, từ đó đến cuối đời, năm 1974, ông không ra khỏi bệnh viện.
Năm 1974, bệnh tình nguy kịch. Nhiều lúc đau quá co gập cả người lại lăn xuống thành giường ông vật nài y tá:
- "Tiêm cho tôi một mũi để tôi chết đi cho rồi, tôi đau không chịu nổi nữa rồi"
Y tá chỉ đứng xa xa không dám lại gần.
Ông nói với lính gác:
- "Tôi ra lệnh cho cậu bắn cho tôi một phát, tôi thực sự không chịu nổi nữa".
Lính gác cũng chẳng động đậy, vô thức sờ khẩu súng ngắn giắt lưng quần.
Bao lần ra lệnh cho y tá tiêm để chữa bệnh cho cấp dưới nhưng giờ ông xin được tiêm một mũi để chết. Bao lần ra lệnh cho lính nhằm thẳng quân thù mà bắn nhưng giờ ông ông lại lệnh cho lính gác nhằm vào mình mà bắn."
Sau bị liệt nửa người, không thể tự vệ sinh, các cháu ông mới được đến thăm vào ngày chủ nhật.
Mỗi lần gặp các cháu, ông đều cố gắng sức ngồi dậy, nói rất đau khổ: - "Bác bị liệt rồi mà không thể chăm sóc cho bản thân, nhưng mà vụ án của bác vẫn chưa được điều tra rõ!". Ông căn dặn: "Bác chết rồi hãy mang tro xương về quê chôn đưới đất, trên đó trồng một gốc cây, dù sao tro xương cũng làm được phân bón mà bác có thể đền đáp được cho đất đai quê hương, ân tình của mẹ cha xóm làng."
Đến tháng 9, ông đi vào hôn mê sâu. Thời tiết Bắc Kinh giá lạnh, gió mùa đông Bắc thổi rin rít, Bên trong phòng bệnh số 14, Bành Đức Hoài đã mất hết cảm giác, mồm mũi cùng bị chảy máu
14h52 trái tim vĩ đại đã ngừng đập mà không có một tiếng khóc của người thân, một Nguyên soái vĩ đại đã có những đóng góp, công lao to lớn ra đi mà không một lời chia buồn của những đồng đội.
Sau khi ông chết, tổ chuyên án vội vã báo cáo lên trung ương: "Bành Đức Hoài là phần tử phản bội tổ quốc, đề nghị đổi tên thành Vương Xuyên, hỏa táng thi thể và chôn ở nghĩa trang công cộng."
Mấy hôm sau, trong phòng lưu trữ của nhà hỏa táng ngoại ô Thành Đô, Tứ Xuyên xuất hiện một hộp đựng tro xương bằng gỗ thô lậu, viết bằng sơn "số 273" và dán giấy ghi "Vương Xuyên, đàn ông"
“Ông ấy là người chính trực và ngay thẳng. Ông dành mạng sống và tay chân cho Cách mạng Trung Quốc. Ông ấy trung thành và liêm khiết. Không gì có thể xóa nhòa hình ảnh sáng chói của Bành Đức Hoài khỏi lịch sử Trung Quốc”. Câu nói này của ông Dương Thượng Côn, Chủ tịch Trung Quốc có thể được xem là lời minh oan rõ ràng nhất cho vị tướng có tài thao lược xuất chúng nhưng phải đem nỗi oan khuất xuống mồ.
Năm 1978, Hội nghị toàn thể lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (khóa XI) đã xem xét lại trường hợp của Bành Đức Hoài, ông đã được khôi phục thanh danh và tái khẳng định những đóng góp của Bành Đức Hoài với Cách mạng Trung Quốc.
---------------