Thứ Ba, 31 tháng 10, 2023

 Các tổ chức khủng bố là lũ cẩu xung kích của các nhà nước độc tài và khủng bố.

 Tập từng mơ ước TQ có 4 tỷ dân để thống trị toàn cầu.

 Nga tuyển phụ nữ đi đánh thuê ở Ukraine.

Thứ Hai, 30 tháng 10, 2023

 Giải Nobel (248)

(1/ MỸ 76; 2/ ĐỨC 51, 3/ ANH 39; 4/ PHÁP 29; 5/ Hà Lan 10; 6/ Thụy Sĩ 13; 7/ Thụy Điển 16; 8/ Đan Mạch 9; 9/ Na Uy 5; 10/ Scotland 4; 11/ Nga 7; 12/ Tây Ban Nha 5, 13/ Hung Ga Ry 6. 14/ Ba Lan 5, 15/ Áo 10, 16/ Ý 7; 17/ NewZealand 2; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 7; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 3; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 2; 24/ Canada 2; 25/ Ireland 2; 26/ Argentina 2; 27/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;28/ Phần Lan 2; 29/ Chi lê 1; 30/ Nhật Bản 1; 31/ Nam Phi 1; 32/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 1; 33/ Iceland 1; 34/ Sec 1; 35/ Nam Tư 1; Liên Xô 1
Eugene Wigner
Eugene Paul Wigner (thường viết là E. P. Wigner giữa các nhà vật lý) (tiếng Hungary Wigner Pál Jenő) (17 tháng 11 năm 1902 – 1 tháng 1 năm 1995) là một nhà vật lý và nhà toán học người Hungary.
Ông nhận giải Nobel về vật lý vào năm 1963 "cho những đóng góp của ông vào lý thuyết hạt nhân và các hạt cơ bản, đặc biệt là thông qua sự khám phá và áp dụng các nguyên lý đối xứng cơ sở". Một số người đương thời cho Wigner là một thiên tài im lặng và một số người khác còn cho rằng ông có thể sánh ngang cùng với Albert Einstein, mặc dù là không nổi tiếng bằng. Wigner đã đặt những nền tảng quan trọng cho lý thuyết về sự đối xứng trong cơ học lượng tử cũng như các nghiên cứu của ông về hạt nhân nguyên tử, và một vài định lý khác mang tên ông.
Đầu đời
Werner Heisenberg + Eugene Wigner (1928)
Wigner sinh ra ở Budapest, Áo-Hungary (bây giờ là Hungary) trong một gia đình trung lưu người Do Thái. Vào năm 11 tuổi, Wigner bị bệnh mà cha mẹ cậu tin rằng đó là lao phổi. Họ gửi cậu đi 6 tuần vào một bệnh xá trong vùng núi của Áo. Trong thời gian này, Wigner bắt đầu thích các bài toán. Từ năm 1915 đến 1919, cùng với John von Neumann, Wigner học tại trường trung học của Giáo hội Luthera Fasori Evangélikus Gimnázium nơi họ cùng học với thầy dạy toán tên là László Rátz. Vào năm 1919, để tránh chế độ Bela Kun, gia đình tạm lánh sang Áo, chỉ quay về sau sự sụp đổ của nhà nước Kun. Một phần như là sự phản ứng về sự hiện diện khá đông của cộng đồng Do Thái trong chế độ Kun, toàn bộ gia đình chuyển đạo sang Giáo hội Luther. Vào năm 1921, Wigner học ngành hóa kỹ thuật (chemical engineering) tại trường Technische Hochschule ở Berlin (ngày nay là Technische Universität Berlin). Ông cũng thường xuyên tham dự các buổi hội thảo thứ 4 hàng tuần của Hiệp hội Vật lý Đức. Những buổi hội thảo này quy tụ những tên tuổi lớn đương thời như là Max Planck, Max von Laue, Rudolf Ladenburg, Werner Heisenberg, Walther Nernst, Wolfgang Pauli và — đáng kể nhất là — Albert Einstein. Wigner cũng gặp nhà vật lý Leó Szilárd, người có thời là bạn thân nhất với Wigner. Wigner đã từng làm việc tại Kaiser Wilhelm Institute, và nơi đây ông đã gặp Michael Polanyi, người sau này trở thành, sau László Rátz, người thầy lớn nhất của Wigner.
Giữa đời
Vào những năm cuối của thập kỉ 1920, Wigner nghiên cứu khá sâu vào ngành cơ học lượng tử. Một giai đoạn tại đại học Goettingen như là trợ lý cho nhà toán học lớn David Hilbert đã đem lại nhiều thất vọng, vì Hilbert không còn nghiên cứu ngành này nữa. Tuy vậy Wigner đã tự nghiên cứu độc lập. Ông đã đặt ra các nền tảng cho lý thuyết về các đối xứng trong cơ học lượng tử và vào năm 1927 đã giới thiệu khái niệm mà bây giờ được biết đến như là ma trận D-Wigner (Wigner D-matrix). Chúng ta có thể nói rằng chính ông và Hermann Weyl đã chịu trách nhiệm chính trong việc giới thiệu lý thuyết nhóm vào ngành cơ học lượng tử (họ đã truyền bá "Gruppenpest"). Xem cuốn sách xuất bản năm 1931 của Wigner tóm tắt về các công trình của ông trong lý thuyết nhóm. Vào cuối những năm của thập kỉ 1930, ông mở rộng hướng nghiên cứu sang hạt nhân nguyên tử. Ông đã phát triển một lý thuyết tổng quát quan trọng cho các phản ứng hạt nhân (chẳng hạn như định lý Wigner-Eckart). Vào năm 1929, các bài báo của ông đã thu hút sự chú ý trong thế giới các nhà vật lý. Vào năm 1930, Đại học Princeton đã mời Wigner và Von Neumann, rất kịp thời khi chính quyền Đức Quốc xã bắt đầu mạnh lên. Tại Princeton vào năm 1934 Wigner đã giới thiệu em gái của mình là Manci cho nhà vật lý Paul Dirac. Họ kết hôn, và mối quan hệ giữa Wigner và Dirac sâu đậm dần.
Vào năm 1936, Princeton đã không ký lại hợp đồng với Wigner, do vậy ông di chuyển về Đại học Wisconsin-Madison. Nơi đây ông gặp người vợ đầu tiên của mình, một học sinh ngành vật lý tên là Amelia Frank. Tuy nhiên cô ta qua đời vào năm 1937, làm Wigner hết sức đau buồn. Vào ngày 8 tháng 1 năm 1937, Wigner trở thành công dân của Hoa Kỳ. Đại học Princeton không lâu sau mời Wigner trở lại, và ông tái gia nhập với tư cách giáo sư vào mùa thu năm 1938. Tuy không phải là một chính trị gia, vào năm 1939 và 1940 Dr. Wigner đã đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra Dự án Manhattan, dự án đã phát triển quả bom nguyên tử đầu tiên. Tuy nhiên cá nhân ông là một người yêu chuộng hòa bình. Sau này ông đã đóng góp vào nền quốc phòng công chính của Mỹ. Vào năm 1946, Wigner nhận một vị trí như là giám đốc nghiên cứu và phát triển của Phòng thí nghiệm Clinton (bây giờ là Phòng thí nghiệm quốc gia Oak Ridge) ở Oak Ridge, Tennessee. Khi mọi việc không diễn ra như dự tính, Wigner quay trở lại Princeton.
Để đánh giá công lao của Giáo sư Wigner, vào năm 1987, Alvin M. Weinberg đã viết rằng: "...xu hướng này của Wigner [thừa nhận sự đóng góp của các cộng sự trẻ tuổi] đã giải thích tại sao khá nhiều, không chỉ là trong lý thuyết phản ứng hạt nhân mà còn của ngành vật lý lý thuyết từ năm 1930 đến 1965 – mặc dù không trực tiếp mang tên Wigner – thật sự là bắt đầu từ một lời đề nghị hay một câu hỏi của Giáo sư Wigner."
Những năm cuối đời
Vào năm 1960, Wigner đã đưa ra một trực giác làm nhiều người suy nghĩa về sức mạnh của toán học trong bài luận văn nổi tiếng bên ngoài ngành vật ly của ông, bây giờ trở thành kinh điển, Hiệu quả không thể giải thích được của toán học trong các ngành khoa học tự nhiên. Ông cho rằng sinh học và nhận dạng có thể là nguồn gốc của các khái niệm vật lý, và như là khi con người cảm nhận các khái niệm đó, và thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi toán và vật lý là liên hệ chặt chẽ lẫn nhau, trông có vẻ như là không thể giải thích được. Tuy nhiên vẫn nhiều người không đồng ý lý thuyết này, trong đó phải kể đến nhà toán học Andrew M. Gleason. Vào năm 1963, Wigner nhận giải Nobel về Vật lý. Ông không bao giờ nghĩ là điều đó sẽ xảy ra, và thêm vào: "Tôi không bao giờ nghĩ rằng sẽ thấy tên mình trên báo chí ngoại trừ làm những việc gì xấu xa." Ông sau đó đã được trao tặng giải thưởng Enrico Fermi, và Huy chương Khoa học Quốc gia (National Medal of Science). Vào năm 1992,khi đã ở tuổi 90, ông xuất bản cuốn hồi ký, Những điều nhớ lại của Eugene P. Wigner với Andrew Szanton. Wigner qua đời 3 năm sau đó ở Princeton. Một trong những học sinh nổi tiếng của ông là Abner Shimony.
Vào cuối những năm 1970 có người hỏi Eugene Wigner 'Ông có còn nhớ đến Rátz?', một trong những giáo viên trung học của ông, ông trả lời: 'Ông ta kia kìa!' và chỉ đến tấm ảnh của Rátz treo trên tường trong phòng làm việc của ông.
Vợ thứ hai của ông là Patricia Hamilton Wigner, góa phụ của một nhà vật lý khác, Donald Ross Hamilton, một trưởng khoa ở Đại học Princeton đã qua đời vào năm 1971.
Gần đến cuối đời những suy nghĩ của ông trở nên mang đầy tính triết lý. Trong hồi ký của mình, Wigner nói rằng: "Toàn bộ ý nghĩa của cuộc đời, toàn bộ ý nghĩa của những ước vọng của con người, về cơ bản là một điều bí ẩn vượt khỏi tầm hiểu biết của chúng ta. Khi còn trẻ tuổi, tôi đã cười cợt về những điều đó. Nhưng bây giờ thì tôi đã an lòng về điều đó. Tôi còn cảm thấy một vinh dự nào đó khi là một phần của điều bí ẩn đó". Ông bắt đầu thích nghiên cứu về triết lý Vedanta Lưu trữ 2016-09-16 tại Wayback Machine của Ấn Độ giáo, đặc biệt là những ý tưởng rằng toàn bộ vũ trụ này là một nhận thức bao trùm tất cả. Trong tập các bài luận của mình (Các phép đối xứng và phản xạ- các luận văn khoa học), ông đã nhận xét rằng "Không thể nào mà công thức hóa được tất cả các định luật (của cơ học lượng tử) trong một cách thống nhất hoàn toàn mà không viện dẫn đến nhận thức (consciousness)".
Cũng liên quan đến các vấn đề này là thí nghiệm về ý nghĩ, nghịch lý bạn của Wigner. Nó thường được xem như là phiên bản mở rộng của thí nghiệm con mèo của Schrödinger. Thí nghiệm bạn của Wigner hỏi câu hỏi sau đây: tại giai đoạn nào thì một "phép đo" diễn ra? Wigner đã đưa ra thí nghiệm này để nhấn mạnh rằng ông tin rằng nhận thức là cần thiết trong quá trình đo đạc cơ học lượng tử.
311023-st
Có thể là hình ảnh về 1 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 DI SẢN THẾ GIỚI (801)

San Cristóbal de La Laguna
San Cristóbal de La Laguna là một đô thị trong tỉnh Santa Cruz de Tenerife, cộng đồng tự trị quần đảo Canary Tây Ban Nha. Đô thị này có diện tích là 102,06 ki-lô-mét vuông, dân số năm 2009 là 150.661 người với mật độ người/km². Đô thị này có cự ly km so với tỉnh lỵ Santa Cruz de Tenerife. Trung tâm lịch sử của San Cristóbal de La Laguna được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới năm 1999.
Thành phố có trường đại học La Laguna với 30,000 sinh viên. La Laguna cũng được xem là thủ phủ văn hóa của quần đảo Canary.
Năm 2010 theo một cuộc khảo sát, La Laguna được liệt kê là thành phố danh tiếng nhất ở quần đảo Canary Islands và thứ 3 trong các thủ phủ của Tây Ban Nha với danh tiếng tốt nhất, sau Gijon và Marbella.
Huy hiệu
Huy hiệu của thành phố được cấp bởi nữ vương Juana I của Castilla vào ngày 23 tháng 3 năm 1510, như là huy hiệu của Tenerife.
Phân chia hành chính
La Verdellada
Viña Nava
El Coromoto
San Benito
El Bronco
La Cuesta
Taco
Tejina
Valleguerra
Bajamar
Punta del Hidalgo
Geneto
Los Baldios
Guamasa
El Ortigal
Las Mercedes
El Batan
Las Carboneras
San Diego
Las Gavias
Các biểu tượng chính
Nhà thờ chính tòa La Laguna
Iglesia de la Concepción (San Cristóbal de La Laguna)
Thành phố cổ
Real Santuario del Cristo de La Laguna
Đại học La Laguna
Thành phố chị em
Colombia Cartagena de Indias, Colombia
Brasil São Paulo, Brasil
Tây Ban Nha Telde, Tây Ban Nha
Người nổi tiếng
José de Anchieta (19 tháng 3, 1534–ngày 9 tháng 6 năm 1597), có vai trò quan trọng trong lịch sử thời kì đầu Brasil
Amaro Rodríguez Felipe (1678-1747), cướp biển có tiếng.
Juan Núñez de la Peña (1641–1721)
Juan Domingo de Monteverde (1773–1832), sĩ quan quân đội
Óscar Domínguez (9 tháng 1, 1906 - 31 tháng 12 năm 1957), nhà chủ nghĩa siêu thực và họa sĩ Tây Ban Nha
Suso Santana, cầu thủ bóng đá
Khí hậu
San Cristóbal de La Laguna có khí hậu Địa Trung Hải (phân loại khí hậu Köppen Csb) trái với khí hậu sa mạc của các thành phố khác ở quần đảo Canary.
Dữ liệu khí hậu của La Laguna (1981-2010) - Sân bay Tenerife Norte (altitude: 632 m)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 16.0 16.7 18.2 18.5 20.1 22.2 24.7 25.7 24.9 22.5 19.7 17.1 20,5
Trung bình ngày, °C (°F) 13.1 13.4 14.5 14.7 16.1 18.1 20.2 21.2 20.7 18.9 16.5 14.3 16,8
Trung bình thấp, °C (°F) 10.2 10.0 10.7 10.9 12.0 14.0 15.7 16.6 16.5 15.2 13.3 11.5 13,0
Lượng mưa, mm (inch) 80
(3.15) 70
(2.76) 61
(2.4) 39
(1.54) 19
(0.75) 11
(0.43) 6
(0.24) 5
(0.2) 16
(0.63) 47
(1.85) 81
(3.19) 82
(3.23) 517
(20,35)
% Độ ẩm 76 75 71 74 72 73 69 69 71 74 75 79 73
Số ngày mưa TB (≥ 1.0 mm) 11 10 10 10 7 4 3 3 5 10 10 12 95
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 150 168 188 203 234 237 262 269 213 194 155 137 2.410
301023-st
Có thể là hình ảnh về 2 người và văn bản
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2023

 Mẹ khỉ! Đảng Cộng Hoà không muốn giúp Ukraine chống quân xâm lược Nga.

 Trông mặt mà bắt hình dong. Toàn cỗ lòng…

Có thể là hình ảnh về 4 người
Tất cả cảm xúc:
Thanh Thuy Nguyen

 Bao việc đại sự không lo/Lại chuyên bày đặt bàn trò ẩm ương.

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'PHAPLUAT OfcoQ THỜI SỰ Quốc hội tranh luận sôi nổi đổi tên CCCD thành thẻ căn cước 5 giờ trước (PLO)- Tại nghị trường Quố‘c hội, một sá» đại biểu bày tỏ băn khoăn về việc đổi tên "thẻ CCCD" thành "thẻ căn cước" và đề nghị nghiên cứu thật kỹ trước khi thực hiện.'
Tất cả cảm xúc:
Quang Hung Tran, Nguyenxuan Thu và 15 người khác

 Giải “cái bô vàng “ 2023 sẽ về tay ai?

 Khựa, Cam sẽ bức tử Cửu Long giang.

 KỶ LỤC GUINNESS (273) CHUYỆN LẠ (38)

Chú chó nhiều tuổi nhất thế giới vừa qua đời ở Bồ Đào Nha
Bác sỹ Thú y người Mỹ Karen Becker thông báo Bobi, chú chó nhiều tuổi nhất thế giới, đã qua đời sau khi sống được 31 năm và 165 ngày ở Bồ Đào Nha.
23/10/2023 22:26 GMT+7
Ngày 23/10/2023, Tổ chức Kỷ lục Thế giới Guinness thông báo Bobi, chú chó nhiều tuổi nhất thế giới, đã qua đời sau khi sống được 31 năm và 165 ngày ở Bồ Đào Nha.
Bác sỹ Thú y người Mỹ Karen Becker là người đầu tiên công bố việc Bobi qua đời.
Trên trang mạng Facebook, bác sỹ này viết: "Mặc dù sống lâu hơn mọi con chó trong lịch sử, nhưng 11.478 ngày trên Trái Đất của Bobi sẽ không bao giờ là đủ đối với những người yêu mến chú chó này."
Bác sỹ Becker đã gặp Bobi hồi tháng 2 sau khi chú chó được Tổ chức Kỷ lục Thế giới Guinness công nhận là con chó sống thọ nhất thế giới.
Tiết lộ về bí quyết để Bobi có thể sống lâu như vậy, ông Leonel Costa, chủ của chú chó, cho rằng tất cả đều nhờ dinh dưỡng tốt, thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, được chăm sóc thú y đầy đủ và tình yêu thương.
Bobi thuộc giống chó Rafeiro Alentejano thuần chủng chuyên bảo vệ gia súc. Giống này sống trung bình từ 12-14 năm.
Chú chó Bobi sống cả đời với gia đình ông Costa ở ngôi làng nông thôn Conqueiros, thành phố Leiria, Bồ Đào Nha.
Trước Bobi, chú chó già nhất trước đây là Bluey và cũng được nuôi ở Bồ Đào Nha. Chú chó này sống đến 29 năm và 5 tháng./.
291023-st
Không có mô tả ảnh.
Thích
Bình luận
Chia sẻ