Ở xứ tiểu thiên đường, người chết cũng rất thích tiêu do la Mỹ.
Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2023
CHUYỆN LẠ (10)
Người đàn ông gây sốc vì xăm hình giày thể thao “xịn” lên chân
Quá mệt mỏi vì luôn phải bỏ tiền mua những đôi giày thể thao mới, một người đàn ông ở Anh đã xăm hình đôi giày anh ta thích lên chân
Dean Gunther, một thợ xăm hình nổi tiếng ở Manchester, Vương Quốc Anh, gần đây đã trở nên nổi tiếng trên nền tảng Instagram và Tiktok, sau khi chia sẻ một đoạn video ngắn cảnh xăm hình ảnh một đôi giày thể thao lên chân của khách hàng.
Được biết vị khách rất mê loại giày này, nhưng hãng giày Nike mà anh ta thích lại không sản xuất nó. Vì thế khách đã quyết định xăm một đôi giày tưởng tượng lên chân anh ta.
“Khách của tôi đã mệt mỏi vì luôn phải mua những đôi giày mới, nên quyết định rằng sẽ xăm một đôi giày Nike yêu thích lên người và anh ấy còn muốn có được cảm giác hài hước từ việc này,” Dean Gunther nói với trang NeedToKnow, cho biết thêm rằng vợ của vị khách cũng thích hình xăm kể trên.
Gunther nói rằng phần khó nhất là phải tự vẽ hình toàn bộ đôi giày, bởi anh không thể dùng bất kỳ loại mẫu nào trong quá trình làm việc. Gunther đã quan sát một hình ảnh mô phỏng 360 độ của đôi giày và sau đó dành vài giờ để xăm hình lên chân khách. Anh mất thêm 8 tiếng nữa để hoàn thiện hình xăm. .
“Xăm hình hoàn toàn không dùng thiết bị hỗ trợ là công đoạn khó nhất. Tôi phải chắc chắn mọi thứ đều trông thật hài hòa với các đường uốn lượn trên bàn chân,” Gunther nói. “Tôi muốn tạo ra cảm giác giống như anh ấy mang giày thật, mặc dù thực tế chỉ đang đi chân trần.
Điều thú vị nằm ở chỗ đây chỉ là hình xăm kì lạ thứ hai mà Gunther đã làm gần đây. Trước đó không lâu, anh đã xăm hình “sáu múi” cực kì chân thực lên cơ thể một vị khách thích có cơ thể cường tráng nhưng lại không muốn tốn thời gian đến phòng tập./
622-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Thứ Năm, 30 tháng 3, 2023
DI SẢN THẾ GIỚI (741)
Lâu đài Litomyšl
Lâu đài Litomyšl là một lâu đài nằm ở đông Bohemia, thuộc thị xã Litomyšl. Lâu đài này là một trong các công trình kiến trúc Phục hưng quan trọng ở Cộng hòa Séc. Với những giá trị độc đáo về lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật, lâu đài Litomysl của CH Séc đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999.
Lịch sử
Lâu đài này có lẽ đã được xây trên nền một lâu đài Slav và thuộc sở hữu của Kostka Postupice. Đã có khu định cư ở địa điểm này ít nhất vào thế kỷ 10, khu định cư tọa lạc ở vị trí giao lộ quan trọng trên tuyến đường chính giữa Bohemia và Moravia, với lõi có tường thành trên một đồi nơi ngày nay lâu đài này tọa lạc. Một tài liệu năm 1398 có các ghi chép đầu tiên về một tòa lâu đài cổ và lâu đài ở Litomyšl. Các điều tra lịch sử và khảo cổ đã cho thấy có phế tích một kiến trúc Trung cổ dưới tòa lâu đài Phục hưng này.
31323-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Thứ Tư, 29 tháng 3, 2023
Giải Nobel (208)
(1/ MỸ 51; 2/ ĐỨC 48, 3/ ANH 34; 4/ PHÁP 26; 5/ Hà Lan 10; 6/ Thụy Sĩ 13; 7/ Thụy Điển 14; 8/ Đan Mạch 9; 9/ Na Uy 5; 10/ Scotland 3; 11/ Nga 2; 12/ Tây Ban Nha 3, 13/ Hung Ga Ry 5. 14/ Ba Lan 5, 15/ Áo 10, 16/ Ý 6; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 2; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 2; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 2; 26/ Arhentina 1; 27/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;28/ Phần Lan 2; 29/ Chi lê 1; 30/Argentina 1; 31/ Nhật Bản 1; 32/ Nam Phi 1;
Max Born
Max Born (11 tháng 12 năm 1882 – 5 tháng 1 năm 1970) là một nhà vật lý và một nhà toán học người Đức. Ông được trao thẳng giải Nobel Vật lý vào năm 1954.
Thời niên thiếu và giáo dục
Born được sinh ra ở Breslau (bây giờ là Wrocław), vào lúc Born sinh ra là tỉnh Silesia của Vương quốc Phổ. Ông là một trong hai người con của Gustav Born, (22 tháng 4 năm 1850, Kempen - 6 tháng 7 năm 1900, Breslau), một nhà giải phẫu, và Gretchen Kauffmann (22 tháng 1 năm 1856, Tannhausen - 29 tháng 8 năm 1886, Breslau), từ một gia đình của các nhà công nghiệp của tỉnh Silesia. Gustav và Gretchen thành hôn vào 7 tháng 5 năm 1881. Max Born có một người em gái tên là Käthe (sinh 5 tháng 3 năm 1884), và một người em kế tên là Wolfgang (sinh 21 tháng 10 năm 1892), sau khi cha ông lập gia đình lần thứ hai (13 tháng 9 năm 1891) với Bertha Lipstein. Mẹ của Max Born qua đời khi ông vừa được bốn tuổi.
Sau khi học xong trung học tại Gymnasium König-Wilhelm, Born tiếp tục học tại Đại học Breslau sau đó là Đại học Heidelberg và Đại học Zurich. Trong thời gian học Ph.D. và Habilitatio tại Đại học Göttingen, ông bắt đầu biết đến nhiều nhà toán học và khoa học lỗi lạc bao gồm Felix Klein, David Hilbert, Hermann Minkowski, Carle David Tolme Runge, Karl Schwarzschild và Woldemar Voigt. Vào năm 1908-1909 ông học tại Gonville và Caius College, Cambridge.
Sự nghiệp
Sau khi Born làm xong Habilitation vào năm 1909, ông trở thành một học giả trẻ tại Göttingen như là một Privatdozent.
Từ năm 1915 đến 1919, ngoại trừ một thời gian ngắn trong quân đội Đức, Born là giáo sư (extraordinarius professor) về vật lý lý thuyết tại Đại học Berlin, nơi ông trở thành bạn với Albert Einstein. Vào năm 1919, ông trở thành giáo sư (ordinarius professor) trong phân khoa Khoa học tại Đại học Frankfurt am Main. Trong khi ở đó, Đại học Göttingen đang tìm người thay thế cho Peter Debye, và bộ môn Triết học đã đặt Born ở đầu danh sách. Trong khi thương lượng về vị trí đó với bộ giáo dục, Born đã bố trí một vị trí khác tại Göttingen cho đồng nghiệp và là bạn lâu năm là James Franck vào chỗ đó. Vào năm 1921, Born trở thành giáo sư (ordinarius professor) về vật lý lý thuyết và Giám đốc của Viện Vật lý lý thuyết tại Göttinge. Trong khi ở đó, ông đã công thức hóa quy tắc Born, diễn đạt mà bây giờ đã trở thành tiêu chuẩn của hàm mật độ xác suất (probability density function), cho ψ*ψ trong phương trình Schrödinger của cơ học lượng tử, xuất bản tháng 7 năm 1926 và vì công trình đó ông đã được giải Nobel Vật lý năm 1954, khoảng ba thập kỉ sau đó.
Trong suốt 12 năm Born và Franck tại Đại học Göttingen], 1921-1933, Born đã có một cộng sự cùng quan điểm trên những khái niệm khoa học cơ bản - một thuận lợi đáng kể trong việc giảng dạy và nghiên cứu về cơ học lượng tử. Quan điểm về sự hợp tác chặt chẽ giữa vật lý lý thuyết và vật lý thực nghiệm cũng được đồng ý bởi Arnold Sommerfeld tại Đại học München, người cũng là một giáo sư vật lý lý thuyết và Giám đốc Viện Vật lý lý thuyết - cũng là một trong những người đi đầu trong sự phát triển của lý thuyết lượng tử. Born và Sommerfeld không chỉ cùng quan điểm về cách sử dụng vật lý thực nghiệm để thử và phát triển những lý thuyết của họ, Sommerfeld, năm 1922 khi ông ở Hoa Kỳ giảng dạy tại Đại học Wisconsin-Madison, đã gửi học sinh của ông là Werner Heisenberg để làm trợ lý cho Born. Heisenberg lại quay về Göttingen vào năm 1923 và hoàn thành Habilitation dưới sự hướng dẫn của Born vào năm 1924 và trở thành Privatdozent tại Göttingen - một năm trước khi Heisenberg và Born xuất bản những bài báo đầu tiên của họ về cơ học ma trận.
Vào năm 1925, Born và Heisenberg đã công thức hóa việc biểu diễn cơ học ma trận cho cơ học lượng tử. Vào 9 tháng 7, Heisenberg đưa cho Born một bài báo để đánh giá và đưa đi xuất bản. Trong bài báo đó, Heisenberg đã công thức hóa cơ học lượng tử tránh những biểu diễn cụ thể nhưng không quan sát được về quỹ đạo của electron bằng cách sử dụng các tham số như là xác suất chuyển đổi cho các bước nhảy lượng tử. Khi Born đọc bài báo đó, ông nhận ra rằng cách hình thức hóa đó có thể mở rộng ra ngôn ngữ của ma trận một cách hệ thống hơn, mà ông đã từng biết đến khi học cùng với Jakob Rosanes tại Đại học Breslau. Born, cùng với sự giúp đỡ của trợ lý và cũng là học trò cũ của mình là Pascual Jordan, ngay lập tức bắt đầu công việc mở rộng đó, và nộp kết quả của họ để xuất bản; bài báo được nhận đăng chỉ 60 ngày sau bài báo của Heisenberg. (Một bản tóm tắt ngắn về vai trò của Born trong sự phát triển của việc công thức hóa cơ học lượng tử sử dụng cơ học ma trận cùng với lời bàn về một công thức quan trọng liên quan tính không giao hoán được của xác suất biên độ có thể tìm đọc bài viết bởi Jeremy Bernstein.)
Cho đến thời điểm đó, ma trận ít được sử dụng bởi các nhà vật lý; chúng được xem là thuộc về lãnh vực toán học thuần túy. Gustav Mie đã sử dụng chúng trong một bài báo về điện động học (electrodynamics) năm 1912 và Born đã sử dụng chúng trong lý thuyết về tinh thể năm 1921. Khi ma trận được sử dụng trong các trường hợp đó, đại số của các ma trận với phép nhân ma trận đã không dùng đến như là việc công thức hóa cơ học lượng tử sử dụng ma trận.
Born, đã học về đại số ma trận từ Rosanes và cũng học từ lý thuyết của Hilbert về phương trình tích phân và dạng bình phương cho vô hạn biến từ một trích dẫn của Born về cuốn sách của Hilbert Grundzüge einer allgemeinen Theorie der Linearen Integralgleichungen xuất bản năm 1912. Jordan đã nhiều năm là trợ lý cho Richard Courant tại Göttingen trong khi chuẩn bị cho cuốn sách của Courant và David Hilbert Methoden der mathematischen Physik I, xuất bản năm 1924. Cuốn sách này chứa đựng nhiều công cụ toán học cần thiết cho sự phát triển kế tiếp của cơ học lượng tử. Vào năm 1926, John von Neumann trở thành trợ lý cho David Hilbert, và ông đã sử dụng cụm từ "không gian Hilbert" để miêu tả đại số và giải tích sử dụng trong việc phát triển cơ học lượng tử.
Vào năm 1928, Albert Einstein đã đề cử Heisenberg, Born và Jordan cho giải Nobel Vật lý nhưng điều đó đã không xảy ra. Công bố giải Nobel về Vật lý vào năm 1932 đã được hoãn lại cho đến tháng 11 năm 1933. Vào lúc đó thì người ta được thông báo rằng Heisenberg đã được giải Nobel năm 1932 "cho việc sáng lập ra cơ học lượng tử, mà ứng dụng của nó đã, inter alia, dẫn đến việc khám phá ra dạng allotropic của hydrogen". Erwin Schrödinger và Paul Dirac đồng được giải Nobel năm 1933 "cho khám phám ra dạng mới của lý thuyết hạt nhân". Người ta có thể đặt câu hỏi rằng tại sao Born đã không được trao giải năm 1932 cùng với Heisenberg – Bernstein đưa ra một số phỏng đoán về vấn đề này. Một trong chúng là việc Jordan tham gia Đảng Quốc xã vào ngày 1 tháng 5 năm 1933 và trở thành một Sturmabteilung. Do vậy, liên hệ của Jordan vởi Đảng Quốc xã và liên hệ của Jordan với Born có thể ảnh hưởng tới việc trao giải cho Born vào thời điểm đó. Bernstein cũng để ý rằng khi Born được trao giải năm 1954, Jordan vẫn còn sống, và giải thưởng chỉ được nói là cho các diễn tả mang tính thống kê của vật lý lượng tử, và chỉ là đóng góp của riêng Born.
Phản ứng của Heisenberg đối với Born khi Heisenberg nhận giải Nobel năm 1932 và khi Born nhận giải Nobel năm 1954 là đáng để ý để đánh giá xem liệu Born có nên cũng đồng được giải Nobel với Heisenberg. Vào 25 tháng 11 năm 1933 Born nhận một lá thư từ Heisenberg nói rằng ông đã trì hoãn gửi đi do "lương tâm cắn rứt" rằng một mình ông được nhận giải Nobel "cho các công trình tìm ra tại Đại học Göttingen là sự hợp tác với – ông, Jordan và tôi". Heisenberg viết tiếp rằng đóng góp của Born và Jordan vào vật lý lượng tử không thể bị thay thế bởi "một quyết định sai lầm từ bên ngoài". Năm 1954, Heisenberg viết một bài báo tôn vinh các ý tưởng đi trước thời gian của Max Planck vào năm 1900. Trong bài viết đó, Heisenberg đã công nhận Born và Jordan đưa ra các công thức cuối cùng của cơ học ma trận và Heisenberg tiếp tục nhấn mạnh đóng góp của họ vào cơ học lượng tử, mà "không được công nhận một cách đúng đắn bởi công chúng".
Những người nhận bằng Ph.D. dưới sự hướng dẫn của Born ở Göttingen bao gồm Max Delbrück, Walter Elsasser, Friedrich Hund, Pascual Jordan, Maria Goeppert-Mayer, Lothar Wolfgang Nordheim, Robert Oppenheimer và Victor Weisskopf. Trợ lý của Born tại Viện vật lý lý thuyết ở Đại học Göttingen bao gồm Enrico Fermi, Werner Heisenberg, Gerhard Herzberg, Friedrich Hund, Pascual Jordan, Wolfgang Pauli, Léon Rosenfeld, Edward Teller và Eugene Wigner[32][33][34]. Walter Heitler trở thành trợ lý của Born năm 1928 và dưới sự hướng dẫn của Born hoàn thành Habilitation năm 1929. Các sinh viên Ph.D. Delbrück, và 6 người trợ lý của ông (Fermi, Heisenberg, Goeppert-Mayer, Herzberg, Pauli, Wigner) lần lượt đều được giải Nobel.
30326-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Thứ Ba, 28 tháng 3, 2023
DI SẢN THẾ GIỚI (740)
Lâu đài Kroměříž
Lâu đài Kroměříž (tiếng Séc: Zámek Kroměříž hoặc Arcibiskupský zámek, tiếng Đức: Schloss Kremsier) là một quần thể lâu đài nằm tại thị trấn Kroměříž, Cộng hòa Séc, đã là nơi cư ngụ chính của Giám mục và tổng Giám mục (từ năm 1777) của Olomouc.
Lịch sử
Tới năm 1664, một Giám mục thuộc dòng dõi quyền thế Liechtenstein giao cho kiến trúc sư Filiberto Lucchese việc tân trang Dinh này theo kiểu kiến trúc Baroque. Công trình chính của kiến trúc sư Lucchese tại Kroměříž là Vườn cảnh ở trước Dinh. Sau khi Lucchese từ trần năm 1666, Giovanni Pietro Tencalla kế tục và hoàn tất công trình Vườn của Lucchese và xây lại Dinh theo kiểu kiến trúc gợi nhớ tới trường phái Torino của mình.
Sau khi Dinh này bị 1 trận hỏa hoạn lớn tàn phá vào tháng 3/1752, hai nghệ sĩ hàng đầu là Franz Anton Maulbertsch và Josef Stern, tới đây để trang trí các sảnh đường của Dinh. Ngoài các tranh của 2 nghệ sĩ này, Dinh còn có 1 bộ sưu tập nghệ thuật - thường được coi là chỉ kém bộ sưu tập ở Phòng trưng bày quốc gia tại Praha, trong đó có bức tranh thần thoại chót của Titian là bức The Flaying of Marsyas. Phần lớn tranh ở bộ sưu tập này là do Giám mục Karel tại Köln sưu tập được năm 1673. Dinh này cũng có bộ lưu trữ âm nhạc nổi tiếng và 1 thư viện gồm khoảng 33.000 đầu sách.
UNESCO đã đưa Dinh này và Vườn vào danh sách Di sản thế giới năm 1998, trong khóa họp thứ 22. Hồ sơ tuyển chọn đánh giá: "Dinh đẹp nhưng chưa phải là mẫu nổi bật của kiểu dinh cư ngụ của quý tộc hoặc sang trọng như hoàng thân, tồn tại khá nhiều tại châu Âu. Vườn cảnh, trái lại, thuộc loại rất hiếm và là mẫu Vườn kiểu Baroque còn khá nguyên vẹn" . Ngoài Vườn cảnh trên, Dinh cũng còn 1 Vườn kiểu Anh từ thế kỷ 19, đã chịu được trận lụt năm 1997.
Khu nội thất của Dinh đã được đạo diễn Miloš Forman dùng thay thế cho Dinh hoàng đế Hofburg ở Viên khi quay phim Amadeus (năm 1984), dựa trên cuộc đời của Wolfgang Amadeus Mozart (người chưa từng tới Kroměříž). Phòng tiếp kiến chính cũng được sử dụng trong phim Immortal Beloved (năm 1994), trong cảnh concerto dành cho piano.
29323-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)





