Thứ Năm, 30 tháng 1, 2025

 Bộ trưởng quốc phòng Ukraine bị điều tra về tham nhũng?

 DI SẢN THẾ GIỚI (895)

Crespi d'Adda
Crespi d'Adda là một làng lịch sử ở Capriate San Gervasio, Lombardy, miền Bắc Ý. Đây là một khu định cư lịch sử và là ví dụ nổi bật về một thị trấn công sở thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 được xây dựng ở châu Âu và Bắc Mỹ bởi các nhà công nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu của người lao động. Địa điểm này vẫn còn nguyên vẹn và được sử dụng một phần cho các mục đích công nghiệp, mặc dù điều kiện kinh tế và xã hội thay đổi đang đe dọa đến sự tồn tại của nó. Năm 1995, nó được UNESCO liệt kê vào danh sách Di sản thế giới.
Lịch sử
Năm 1869, Cristoforo Benigno Crespi, một người sản xuất dệt may đến từ Busto Arsizio đã mua một thung lũng dài 1 km giữa hai con sông Brembo và Adda, phía nam của Capriate, với ý định xây dựng một nhà máy sợi bông bên bờ sông Adda. Ông đã giới thiệu các quy trình kéo sợi, dệt, hiện đại và hoàn thiện nhất trong số các nhà máy sợi của mình. Sau đó, một nhà máy thủy điện ở Trezzo sull'Adda trên sông Adda được xây dựng chỉ cách đó vài km vào năm 1906 nhằm phục vụ cho công việc sản xuất sợi bông. Khu định cư được xây dựng năm 1878 bên cạnh nhà máy sợi, và được cung cấp các dịch vụ xã hội như phòng khám sức khỏe, trường học, nhà hát, nghĩa trang, nhà nguyện và nhà thờ.
Cả ngôi làng và nhà máy được chiếu sáng bởi hệ thống đèn điện khiến nó trở thành làng đầu tiên tại Ý có ánh sáng công cộng hiện đại. Nhà ở của công nhân lấy cảm hứng từ nước Anh nằm dọc theo những con đường song song với nhà máy về phía đông. Một con đường rợp bóng cây ngăn cách khu sản xuất với khu dân cư. Ngoài nhà máy sợi ban đầu là tác phẩm của kiến trúc sư Angelo Colla thì toàn bộ ngôi làng được kiến trúc sư Ernesto Pirovano thiết kế. Trong khoảng 50 năm, dưới sự giúp sức của kỹ sư Pietro Brunati, Pirovano điều hành việc xây dựng ngôi làng.
Năm 1889, con trai của Cristoforo là Silvio Benigno Crespi bắt đầu làm việc trong nhà máy với tư cách là giám đốc, sau khi dành thời gian ở Oldham, Anh. Các ngôi nhà với sân vườn được thiết kế và áp dụng vào năm 1892 để tạo ra sự hài hòa và tránh xung đột công nghiệp
Đến năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và chính sách tài khóa của Phát xít Ý dẫn đến việc gia đình Crespi buộc phải bán đi toàn bộ các nhà máy sợi cho STI, một doanh nghiệp dệt may của Ý. Sau đó, nơi đây thuộc sở hữu lần lượt của các công ty Rossarl e Varzi vào năm 1970, sau đó là Legler đã bán đi hầu hết các ngôi nhà. Cuối cùng nó nằm trong tay tập đoàn công nghiệp Polli nhưng số người lao động đã giảm hẳn xuống chỉ còn khoảng 600 người so với 3.200 trong thời kỳ hoàng kim.
Năm 2004, các nhà máy ở đây đã ngưng sản xuất.
30125-st
Có thể là hình ảnh về tháp chuông và Sông Arno
Thích
Bình luận
Gửi
Chia sẻ

 Giải Nobel (312)

1/ MỸ 108; 2/ ĐỨC 58, 3/ ANH 50; 4/ PHÁP 36; 5/Thụy Điển 22; 6/ Thụy Sĩ 13; 7/ Áo 12; 8/ Hà Lan 11; 9/ Đan Mạch 11; 10/ Bỉ 9; 11/ Nga 9; 12/ Ý 8;13/ Na Uy 8; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 5. 16/ Ba Lan 5; 17/ Nhật Bản 5; 18/ Scotland 4; 19/ NewZealand 2; 20/ Ucraine 1; 21/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 22/ Ấn Độ 2; 23/ Úc 4; 24/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 25/ Canada 4; 26/ Ireland 3; 27/ Argentina 3; 28/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;29/ Phần Lan 3; 30/ Chi lê 2; 31/ Nam Phi 1; 32/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 1; 33/ Iceland 1; 34/ Sec 1; 35/ Nam Tư 1; 36/ Liên Xô 3; 37/ Hy Lạp 1; 38/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;39/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;40/ Irael 1; 41/ Guatemala 1;42/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 43/ Xứ Wales 1. 44/ Việt Nam 1.45/ Rumani 1
Ben Roy Mottelson
Ben Roy Mottelson (sinh ngày 9 tháng 7 năm 1926 - mất ngày 13 tháng 5 năm 2022) là nhà Vật lý Đan Mạch gốc Mỹ, đã đoạt giải Nobel Vật lý năm 1975 cùng với Aage Niels Bohr (nhà Vật lý Đan Mạch) và Leo James Rainwater (nhà vật lý Hoa Kỳ).
Tiểu sử tóm tắt và Sự nghiệp
Ben Roy Mottelson sinh tại Chicago (tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ). Học cấp trung học tại trường "Trung học Xã Lyons" ở La Grange, Illinois. Đậu cử nhân ở trường Đại học Purdue năm 1947 và được cấp bằng Tiến sĩ năm 1950 tại trường Đại học Harvard.
Thập niên 1950 Ben Roy Mottelson được một học bổng sang nghiên cứu ở Viện Vật lý lý thuyết Copenhagen (nay là Viện Niels Bohr). Ở đây Mottelson làm việc chung với Aage Niels Bohr, nhằm chứng minh thuyết của Leo James Rainwater liên quan tới cấu trúc của hạt nhân nguyên tử. Năm 1971 Mottelson nhập quốc tịch Đan Mạch. Năm 1975 cả ba người đều được giải Nobel Vật lý cho việc tìm ra sự liên quan giữa chuyển động tập thể và chuyển động của các hạt trong hạt nhân nguyên tử và cho việc khai triển lý thuyết về cấu trúc hạt nhân dựa trên sự liên quan này. Mottelson đã viết chung với Aage Niels Bohr tác phẩm chính về "Cấu trúc hạt nhân". Quyển 1 nhan đề "Single-Particle Motion" (1969) và quyển 2 "Nuclear Deformations" (1975).
Ben Roy Mottelson cũng là thành viên của Hội đồng Bảo trợ Tập san các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin of the Atomic Scientists).
Giải thưởng
Giải Nguyên tử vì Hòa bình 1969
Giải Nobel Vật lý 1975
30125-st
Không có mô tả ảnh.
Thích
Bình luận
Gửi
Chia sẻ

Thứ Tư, 29 tháng 1, 2025

 Giải Nobel (312)

1/ MỸ 108; 2/ ĐỨC 58, 3/ ANH 50; 4/ PHÁP 36; 5/Thụy Điển 22; 6/ Thụy Sĩ 13; 7/ Áo 12; 8/ Hà Lan 11; 9/ Đan Mạch 10; 10/ Bỉ 9; 11/ Nga 9; 12/ Ý 8;13/ Na Uy 8; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 5. 16/ Ba Lan 5; 17/ Nhật Bản 5; 18/ Scotland 4; 19/ NewZealand 2; 20/ Ucraine 1; 21/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 22/ Ấn Độ 2; 23/ Úc 4; 24/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 25/ Canada 4; 26/ Ireland 3; 27/ Argentina 3; 28/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;29/ Phần Lan 3; 30/ Chi lê 2; 31/ Nam Phi 1; 32/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 1; 33/ Iceland 1; 34/ Sec 1; 35/ Nam Tư 1; 36/ Liên Xô 3; 37/ Hy Lạp 1; 38/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;39/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;40/ Irael 1; 41/ Guatemala 1;42/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 43/ Xứ Wales 1. 44/ Việt Nam 1.45/ Rumani 1
Aage Niels Bohr
Aage Niels Bohr (19 tháng 6 năm 1922 – 8 tháng 9 năm 2009) là một nhà vật lý người Đan Mạch, đã đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1975.
Cuộc đời và Sự nghiệp
Bohr sinh ngày tại Copenhagen, là con thứ tư của nhà vật lý nổi tiếng đã đoạt giải Nobel Niels Bohr và bà Margrethe Bohr, nhũ danh Nørlund. Thời thơ ấu, ông sống bên nhiều nhà vật lý như Wolfgang Pauli và Werner Heisenberg, những người làm việc chung với cha ông ở "Viện Vật lý lý thuyết" (nay là Viện Niels Bohr) ở Đại học Copenhagen.
Ông bắt đầu học tại Đại học Copenhagen từ năm 1940 (vài tháng sau khi Đức quốc xã chiếm đóng Đan Mạch). Năm 1943 Aage Niels Bohr theo cha cùng gia đình chạy sang Thụy Điển, rồi sang Anh; sau đó ông theo cha sang làm việc ở Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos với tư cách phụ tá và thư ký của cha. Hai cha con thuộc toán khoa học gia nước Anh tham gia Dự án Manhattan (dự án bí mật nghiên cứu vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ).
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Aage N. Bohr trở về Đan Mạch trong tháng 8 năm 1945, học tiếp ở Đại học Copenhagen và đậu bằng thạc sĩ vật lý năm 1946 và tiếp tục nghiên cứu cấu trúc nguyên tử ở "Viện Niels Bohr".
Đầu năm 1948, ông sang làm việc ở Viện nghiên cứu cao cấp Princeton ở New Jersey. Từ tháng 1 năm 1949 tới tháng 8 năm 1950 ông làm việc ở Đại học Columbia.
Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm giáo sư vật lý ở Đại học Copenhagen. Sau khi người cha qua đời năm 1962, ông kế vị cha làm giám đốc Viện Niels Bohr cho tới năm 1970. Ông cũng là thành viên trong Ban giám đốc Viện Vật lý lý thuyết Bắc Âu (Nordita) từ khi mới thành lập năm 1957, rồi trở thành giám đốc viện này năm 1975.
Công trình đoạt giải Nobel
Năm 1950, trong một bài khảo cứu James Rainwater của Đại học Columbia đã đưa ra một mô hình hạt nhân có thể giải thích được việc bố trí điện tích không theo dạng hình cầu. Bohr, lúc đó đang viếng thăm Đại học Columbia, cũng đưa ra ý kiến tương tự, và cho đăng một bào khảo cứu khoảng 1 tháng sau bài của Rainwater thảo luận cùng một vấn đề như Rainwater. Sau đó Bohr phát triển xa hơn với một bài khảo cứu xuất bản năm 1951 trong đó bàn cách toàn diện mối liên quan giữa các dao động trên bề mặt của hạt nhân với chuyển động của chính các nucleon.
Khi trở về Copenhagen năm 1950, Bohr bắt đầu làm việc chung với Ben Mottelson để so sánh công trình lý thuyết với các dữ liệu thực nghiệm. Trong 3 bài khảo cứu được xuất bản năm 1952–1953, Bohr và Mottelson đã chứng minh sự phù hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm, ví dụ chỉ ra rằng các mức năng lượng của một số hạt nhân có thể được mô tả bởi một phổ quay vòng. Công trình này đã kích thích các nghiên cứu mới về lý thuyết và thực nghiệm. Kết quả là ông đã đoạt Giải Nguyên tử vì Hòa bình năm 1969.
Bohr, Mottelson và Rainwater được trao chung Giải Nobel Vật lý năm 1975 "cho việc phát hiện mối liên kết giữa chuyển động tập thể và chuyển động hạt trong hạt nhân nguyên tử cùng việc phát triển lý thuyết về cấu trúc hạt nhân nguyên tử dựa trên mối liên kết này".
Aage N. Bohr tiếp tục cộng tác mật thiết với Ben Roy Mottelson (nhà vật lý Đan Mạch gốc Mỹ), cùng viết chung 2 tác phẩm về cấu trúc của nguyên tử, quyển 1 là Single-Particle Motion (1969) và quyển 2 là Nuclear Deformations (1975).
Ông nghỉ hưu năm 1992 và qua đời ngày 8 tháng 9 năm 2009 tại Copenhagen.
Đời tư
Aage N. Bohr kết hôn với Marietta Soffer tháng 3 năm 1950 tại Thành phố New York. Họ có ba người con: Vilhelm Bohr, Tomas Bohr và Margrethe Bohr.
Giải thưởng
Giải Nguyên tử vì Hòa bình 1969
Huy chương H. C. Ørsted (của Đan Mạch) 1970
Giải Nobel Vật lý năm 1975 (chung với Ben Roy Mottelson và James Rainwater (người Hoa Kỳ)
Huy chương Ole Rømer (của Đan Mạch) năm 1976 (chung với Ben Roy Mottelson)
29125-st
Có thể là hình ảnh về 1 người
Thích
Bình luận
Sao chép
Chia sẻ

 Nải chuối này ở Nghi Tàm Hà Nội. Khách trả 7 triệu đồng nhưng chủ nhân không bán.

Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
Quang Hung Tran, Nguyễn Dũng và 16 người khác