Thứ Năm, 19 tháng 6, 2025

 Giải Nobel (381)

1/ MỸ 160; 2/ ĐỨC 64, 3/ ANH 60; 4/ PHÁP 39; 5/Thụy Điển 27; 6/ Thụy Sĩ 16; 7/ Áo 13; 8/ Hà Lan 12; 9/ Đan Mạch 12; 10/ Ý 11; 11/ Bỉ 10; 12/ Nga 12;13/ Na Uy 8; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 6. 16/ Ba Lan 7; 17/ Nhật Bản 6; 18/ Úc 5; 19/ Scotland 4; 20/ Argentina 4; 21/ Canada 5; 22/ Phần Lan 3; 23/ Ấn Độ 3; 24/ Ireland 3; 25/ NewZealand 2; 26/ Ucraine 1; 27/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 28/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 29/ Liên Xô 3; 30/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1; 31/ Chi lê 2; 32/ Nam Phi 2; 33/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 2; 34/ Iceland 1; 35/ Sec 1; 36/ Hy Lạp 2; 37/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;38/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;39/ Irael 1; 40/ Guatemala 1;41/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 42/ Xứ Wales 1. 43/ Việt Nam 1.44/ Rumani 1; 45/ Croatia 1; 46/ Nam Tư 1; 47/ Tổ chức Ân xá quốc tế 1. 48/ Ai Cập 1; 49/ Israel 1; 50/ Pakistan 1; 51/ Colombia 1; 52/ Mexico 1; 53/ Tiệp Khắc 1; 54/ Hiệp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân 1; 55/ Đài Loan 1; 56/ Nigieria 1
Donald J. Cram
Donald James Cram (22.4.1919 – 17.6.2001) là nhà hóa học người Mỹ đã đoạt giải Nobel Hóa học năm 1987, chung với Jean-Marie Lehn và Charles J. Pedersen "cho công trình của họ về phát triển và sử dụng các phân tử có những tác động qua lại giữa các cấu trúc chuyên biệt của khả năng chọn lọc cao". Họ là những người sáng lập ra lãnh vực Hóa học chủ-khách.
Tiểu sử
Cram được sinh ra và lớn lên ở Chester, Vermont, trong một gia đình nhập cư. Cha ông là người Scotland, còn mẹ ông là người Đức. Cha ông qua đời trước khi ông được 4 tuổi. Ông lớn lên nhờ chương trình Aid to Families with Dependent Children, và học làm việc từ khi còn nhỏ, như hái trái cây, giao báo bằng cách quẳng vào trước nhà người ta, và sơn nhà cửa cho người ta đổi lấy việc học đàn dương cầm. Khi được 8 tuổi, ông đã làm ít nhất là 18 công việc khác nhau.
Cram theo học trường trung học Winwood High School ở Long Island, New York. Từ năm 1938 tới 1941, ông học trường Rollins College ở Winter Park, Florida nhờ một học bổng danh dự quốc gia, nơi ông làm việc như nhân viên phụ tá trong phân khoa hóa học, và tham gia hoạt động kịch nghệ, ca đoàn nhà thờ, các hội sinh viên Lambda Chi Alpha, Phi Society, cùng Zeta Alpha Epsilon. Chính tại Rollins mà ông nổi tiếng về việc làm ra trang thiết bị hóa học của riêng mình. Năm 1941, ông đậu bằng cử nhân hóa học.
Năm 1942, ông đậu bằng thạc sĩ ngành hóa hữu cơ ở Đại học Nebraska–Lincoln, với luận văn "Amino ketones, mechanism studies of the reactions of heterocyclic secondary amines with -bromo-, -unsaturated ketones", dưới sự cố vấn của Norman O. Cromwell.
Năm 1947, Cram đậu bằng tiến sĩ ngành hóa hữu cơ ở Đại học Harvard, với luận án mang tên "Syntheses and reactions of 2-(ketoalkyl)-3-hydroxy-1,4-naphthoquinones" dưới sự hướng dẫn của Louis Fieser.
Sự nghiệp
Từ năm 1942 tới 1945, Cram làm nghiên cứu hóa học ở các phòng thí nghiệm của Merck & Co, nghiên cứu về penicillin dưới sự cố vấn của Max Tishler. Ông là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ của Hội Hóa học Hoa Kỳ tại Học viện Công nghệ Massachusetts, với John D. Roberts. Cram là người khởi xướng quy luật Cram, đưa ra một mô hình để dự đoán kết quả việc tấn công ái lực hạt nhân (nucleophilic attack) của các hợp chất carbonyl. Ông đã xuất bản hơn 350 bài khảo cứu khoa học và 8 sách về hóa hữu cơ, cùng dạy các sinh viên sau cử nhân và sau tiến sĩ của 21 quốc gia khác nhau.
Nghiên cứu
Cấu trúc tinh thể của một Nitrobenzene liên kết bên trong hemicarcerand do Cram và các cộng sự viên báo cáo
Cram đã mở rộng công trình đột phá của Charles J. Pedersen trong 'tổng hợp các ête vòng, các hợp chất hữu cơ hai chiều có khả năng nhận biết và lựa chọn kết hợp với các ion của một số nguyên tố kim loại. Ông tổng hợp các phân tử đã đưa môn hóa học này vào 3 chiều, tạo ra một mảng các phân tử có hình dạng khác nhau mà có thể tương tác có chọn lọc với các hóa chất khác vì các cấu trúc 3 chiều bổ sung của chúng. Công trình của Cram là một bước tiến lớn tới sự tổng hợp các enzyme và các phân tử tự nhiên khác mà cách hoạt động hóa học đặc biệt là do cấu trúc đặc trưng của chúng. Ông cũng nghiên cứu cả Hóa học lập thể. Quy luật Cram (cảm ứng không đối xứng) được đặt theo tên ông.
Giáo sư
Cram được bổ nhiệm làm giáo sư phụ tá ở Đại học California tại Los Angeles năm 1947, trở thành giáo sư chính thức năm 1955 và đã làm việc ở đây tới năm 1987. Ông thường gẩy đàn guitar và hát các bài dân ca để mua vui cho các sinh viên trong lớp.
Đời tư
Người vợ đầu của ông là Jean Turner, một bạn học cùng lớp ở Rollins College, cũng đậu bằng cử nhân năm 1941, rồi bằng thạc sĩ xã hội học ở Đại học Columbia. Người vợ thứ hai là Jane, cựu giáo sư hóa học ở Mt. Holyoke College. Cram chọn không sinh con "vì tôi sẽ là một người cha tồi hoặc một nhà khoa học kém cỏi".
Năm 2001, Cram qua đời vì bệnh ung thư ở tuổi 82.
Tác phẩm
Cram, Donald J. (1994). Container Molecules and their Guests. Jane M. Cram. Great Britain: Royal Society of Chemistry. tr. 223 pp. ISBN 0854045074.
Cram, Donald J. (1990). From Design to Discovery. Washington, DC: American Chemical Society. tr. 146pp.
Cram, Jane M. (1978). The Essence of Organic Chemistry. Donald J. Cram. Reading, Massachusetts: Addison-Wesley. tr. 456pp.
Hendrickson, James B. (1970). Organic Chemistry. Donald J. Cram, George S. Hammond. Reading, Massachusetts: McGraw-Hill. tr. 1279pp. 3rd ed.
Richards, John (1967). Elements of organic chemistry. Don Cram, George S. Hammond. New York: McGraw-Hill. tr. 444pp.
Cram, Donald J. (1965). Fundamentals of Carbanion Chemistry. New York: Academic Press. tr. 289pp.
Cram, Donald J. (1964). Organic Chemistry. George S. Hammond. New York: McGraw-Hill. tr. 846pp. 2nd ed.
Cram, Donald J. (1959). Organic Chemistry. George S. Hammond. New York: McGraw-Hill. tr. 712pp. 1st ed.
Giải thưởng và Vinh dự
Giải Hóa học của Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ
Giải thưởng Nhà nước về Khoa học, Hoa Kỳ, 1993
Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc tế
Giải Tolman của Hội Hóa học Hoa Kỳ, 1984
Giải Willard Gibbs, 1985
Giải Arthur C. Cope, 1974
Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ, 1967
"Giải thưởng cho Công trình sáng tạo trong Hóa hữu cơ tổng hợp" của Hội Hóa học Hoa Kỳ, 1965
Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ, 1961
Giải Nobel Hóa học 1987
20625-st

 DI SẢN THẾ GIỚI (994)

Cidade Velha
Cidade Velha (tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là "thành phố cổ" còn được gọi là Santiago de Cabo Verde), hay đơn giản chỉ gọi là Sidadi trong tiếng Creole Cabo Verde, là một thành phố nằm ở phía nam đảo Santiago, Cabo Verde. Được thành lập vào năm 1462, nó là khu định cư lâu đời nhất tại Cabo Verde và đã từng là thủ đô của Cabo Verde. Sau khi được gọi là Ribeira Grande, tên của nó được đổi thành Cidade Velha vào cuối thế kỷ 18. Nó cũng là nơi đặt trụ sở của vùng đô thị Ribeira Grande de Santiago.
Nằm ngoài khơi bờ biển tây bắc châu Phi, đây từng là khu định cư thuộc địa châu Âu đầu tiên ở vùng nhiệt đới. Một số thiết kế ban đầu được lên kế hoạch tỉ mỉ tại đây vẫn còn nguyên vẹn, bao gồm một pháo đài hoàng gia, hai nhà thờ và quảng trường thị trấn thế kỷ 16. Ngày nay, Cidade Velha là một điểm dừng vận chuyển Đại Tây Dương và là trung tâm của văn hóa Creole. Nó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2009.
Lịch sử
Sau khi đảo này được phát hiện, thị trấn được António da Noli đặt tên là Ribeira Grande (tiếng Bồ Đào Nha để chỉ con sông lớn) vào năm 1462. Năm 1466, khu định cư tại đây trở thành hải cảng quan trọng trong việc buôn bán nô lệ từ Guinea-Bissau và Sierra Leone tới Brasil và khu vực Caribe. Công cuộc buôn bán nô lệ xuyên châu lục này đã biến Cidade Velha thành thành phố giàu có thứ hai trong địa hạt của đế quốc Bồ Đào Nha.
Cảng Cidade Velha là điểm dừng chân của 2 nhà hàng hải lớn: Vasco da Gama vào năm 1497 trên đường tới Ấn Độ của ông và của Christopher Columbus vào năm 1498, trong chuyến đi thứ ba của ông tới châu Mỹ.
Cidade Velha có nhà thờ thuộc địa cổ nhất trên thế giới, xây dựng năm 1495. Pháo đài Real de São Filipe nhìn xuống thị trấn. Nó được xây dựng năm 1590 để bảo vệ thuộc địa của người Bồ Đào Nha trước các cuộc tấn công của người Pháp và Anh. Tuy nhiên, nó bị cướp biển người Pháp cướp phá năm 1712. Thủ phủ sau đó được di chuyển tới Praia năm 1770
Dân cư
Theo số liệu năm 1990, Cidade Velha có 2.148 dân.
Dân cư Cidade Velha (1990–2005)
1990 2000 2005
2.148 — —
Các đô thị gần nhất
Rui Vaz, đông bắc
Praia, đông
Các khu vực đáng chú ý
Giá treo cổ Pelourinho - Nằm tại quảng trường thị trấn (praça) và có lịch sử về chế độ nô lệ tại Ribeira Grande từ năm 1513. Nó được dựng lên năm 1520.
Pháo đài Real de São Filipe, xây dựng năm 1590. Là pháo đài được xây dựng để tấn công cướp biển và bảo vệ thuộc địa Bồ Đào Nha trước người Pháp và Anh. Nó nằm ở độ cao 120 m trên mực nước biển.
Di sản thế giới
Khu di sản thế giới có diện tích 2,091 km², vùng đệm có diện tích 17,956 km². Thị trấn Ribeira Grande, đổi tên thành Cidade Velha vào cuối thế kỷ 18, là tiền đồn thuộc địa châu Âu đầu tiên trong khu vực nhiệt đới. Nằm ở phía nam đảo Santiago, thị trấn có đặc trưng là một số dấu tích ấn tượng trên các đường phố nguyên thủy, bao gồm 2 nhà thờ, một pháo đài hoàng gia và quảng trường Pelourinho với cột đá cẩm thạch trang trí công phu có từ thế kỷ 16.
20625-st
Có thể là hình ảnh về Làng chài Camogli và Santorini
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Loài người cực tham lam và hiếu sát. Trên quả đất này không có giây phút nào loài người dừng việc giết nhau.

 CÁC SỰ KIỆN NGÀY 20/6

967. N20/6/451: Tướng Flavius Aetius chỉ huy quân Tây La Mã giành chiến thắng quyết định trước quân Hung của Attila trong trận Châlons.
968. N20/6/1837: Nữ vương Victoria bắt đầu trị vì, bà là quân chủ trị vì lâu nhất trong lịch sử Anh Quốc.
969. N20/6/1867: Chiến tranh Pháp–Đại Nam: Pháp chiếm thành Vĩnh Long lần thứ 2.
970. N20/6/1894: Tại Hồng Kông, Alexandre Yersin công bố phát hiện vi khuẩn gây bệnh dịch hạch.
971. N20/6/1895: Hoàng đế Đức Wilhelm II khánh thành kênh đào Kiel băng qua bán đảo Jylland, hiện là thủy đạo nhân tạo bận rộn nhất trên thế giới.
972. N20/6/1895: Triều Thanh và đại diện chính phủ Pháp ký kết Công ước Gérard tại Bắc Kinh, xác định đường biên giới của Vân Nam với Bắc Kỳ và Ai Lao.
973. N20/6/1907: Phùng Tất Đắc, nhà biên soạn người Việt bút hiệu Lãng Nhân (m. 2008).
974. N20/6/1944: Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận chiến biển Philippines kết thúc với chiến thắng quyết định của Hải quân Hoa Kỳ.
975. N20/6/1947: Ngày mất của Bugsy Siegel, tội phạm khét tiếng người Hoa Kỳ (s. 1906).
976. N20/6/1958: Ngày mất của Kurt Alder, nhà hóa học Đức, nhận giải Nobel hóa học 1950 (s. 1902).
977. N20/6/1967: Võ sĩ quyền anh Muhammad Ali bị thu hồi đai vô địch quyền anh hạng nặng thế giới và bị toà án phạt 5 năm tù cùng 10.000 đô la Mỹ vì bất phục tùng lệnh nhập ngũ. Bản án này sau đó bị Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ hủy bỏ.
978. N20/6/1967: Ngày sinh Nicole Kidman, nữ diễn viên Mỹ nổi tiếng.
979. N20/6/1970: Ngày sinh Lý Gia Hân, nữ diễn viên, Hoa hậu Hồng Kông năm 1988.
980. N20/6/1978: Ngày sinh Frank Lampard, cựu cầu thủ bóng đá người Anh.
981. N20/6/1991: Quốc hội Liên bang Đức phê chuẩn dời đô từ Bonn về Berlin.
982. N20/6/1991: Ngày sinh Diệu Nhi, nữ diễn viên người Việt Nam.
983. N20/6/ (2001): Ngày tị nạn Thế giới.
984. N20/6/2011: Ngày mất của Vương Văn Bắc, chính khách, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa (s. 1927).
TTT st&tc
Tất cả cảm xúc:
Bìnhda Nguyen

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025

 DI SẢN THẾ GIỚI (993)

Phế tích Loropéni
Phế tích Loropéni là một di sản cổ xưa nằm gần thị trấn Loropéni ở miền nam Burkina Faso. Nó đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2009 trở thành di sản thế giới đầu tiên tại quốc gia này. Với diện tích 11.130 mét vuông (119.800 foot vuông), tàn tích này bao gồm các bức tường đá của một pháo đài cổ có niên đại ít nhất 1.000 năm. Khu định cư được người Lohron hoặc Kulango chiếm đóng và phát triển thịnh vượng nhờ vào hoạt động buôn bán vàng xuyên Sahara, đạt đến đỉnh cao giữa thế kỷ 14 và 17. Nó đã bị bỏ rơi vào đầu thế kỷ 19.
19625-st
Không có mô tả ảnh.
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Giải Nobel (380)

1/ MỸ 159; 2/ ĐỨC 64, 3/ ANH 60; 4/ PHÁP 39; 5/Thụy Điển 27; 6/ Thụy Sĩ 16; 7/ Áo 13; 8/ Hà Lan 12; 9/ Đan Mạch 12; 10/ Ý 11; 11/ Bỉ 10; 12/ Nga 12;13/ Na Uy 8; 14/ Hung gary 7; 15/ Tây Ban Nha 6. 16/ Ba Lan 7; 17/ Nhật Bản 6; 18/ Úc 5; 19/ Scotland 4; 20/ Argentina 4; 21/ Canada 5; 22/ Phần Lan 3; 23/ Ấn Độ 3; 24/ Ireland 3; 25/ NewZealand 2; 26/ Ucraine 1; 27/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 28/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 3; 29/ Liên Xô 3; 30/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1; 31/ Chi lê 2; 32/ Nam Phi 2; 33/ Cao ủy LHQ về người tị nạn 2; 34/ Iceland 1; 35/ Sec 1; 36/ Hy Lạp 2; 37/ Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế 1;38/ Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc 1;39/ Irael 1; 40/ Guatemala 1;41/ Tổ chức lao động quốc tế 1. 42/ Xứ Wales 1. 43/ Việt Nam 1.44/ Rumani 1; 45/ Croatia 1; 46/ Nam Tư 1; 47/ Tổ chức Ân xá quốc tế 1. 48/ Ai Cập 1; 49/ Israel 1; 50/ Pakistan 1; 51/ Colombia 1; 52/ Mexico 1; 53/ Tiệp Khắc 1; 54/ Hiệp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân 1; 55/ Đài Loan 1; 56/ Nigieria 1
Karl Alexander Müller
Karl Alexander Müller (20 tháng 4 năm 1927 – 9 tháng 1 năm 2023) là nhà vật lý người Thụy Sĩ đã đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1987 chung với Johannes Georg Bednorz cho công trình nghiên cứu của họ về Siêu dẫn nhiệt độ cao ở vật liệu gốm.
Tiểu sử
Thời trẻ
Karl Müller sinh tại Basel, Thụy Sĩ, ngày 20.4.1927, nhưng gia đình ông đã di chuyển ngay sang Salzburg, Áo, nơi cha ông học âm nhạc. Sau đó mẹ con ông di chuyển về Dornach, gần Basel. Rồi họ lại di chuyển về Lugano, trong vùng nói tiếng Ý của Thụy Sĩ, nơi ông học nói tiếng Ý lưu loát. Mẹ ông qua đời khi ông lên 11 tuổi.
Sau cái chết của người mẹ, Müller được đưa vào học ở trường "Evangelical College" tại Schiers, trong miền đông Thụy Sĩ. Ông học ở đây 7 năm, từ năm 1938 tới 1945, đậu bằng tú tài. Sau đó ông ghi tên học Vật lý học và Toán học ở ETH Zürich, tại đây các giáo trình của giáo sư Wolfgang Pauli đã gây ấn tượng mạnh nơi ông. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc một năm, rồi trở lại học tiếp và nộp luận án tiến sĩ cuối năm 1957.
Sự nghiệp
Müller gia nhập Viện tưởng niệm Battelle (Battelle Memorial Institute) ở Genève, sớm trở thành người quản lý nhóm cộng hưởng từ. Trong thời gian này, ông làm giảng viên ở Đại học Zürich, và làm việc trong IBM Zürich Research Laboratory (Phòng thí nghiệm nghiên cứu của hãng IBM ở Zürich), tại Rüschlikon từ năm 1963 cho tới khi nghỉ hưu.
Khi còn là sinh viên chưa tốt nghiệp, Müller nghiên cứu về hiệu ứng Hall ở thiếc, một bán kim loại, dưới sự hướng dẫn của giáo sư G. Busch. Sau đó ông nghiên cứu trong một năm về hệ thống máy chiếu Eidophor tầm rộng ở "Ban nghiên cứu Công nghiệp" của ETH Zürich.
Các nghiên cứu của ông ở phòng thí nghiệm nghiên cứu của hãng IBM trong hầu hết 15 năm đều tập trung vào SrTiO3 (stronti titanate) và các hợp chất perovskit liên quan. Ông nghiên cứu các đặc tính quang-chromic của chúng khi pha với các ion kim loại chuyển tiếp khác nhau; các đặc tính liên kết hóa học, sắt điện của chúng cùng các hện tượng tới hạn của các chuyển tiếp pha (phase transition) cơ cấu của chúng.
Công trình đoạt giải Nobel
Trong đầu thập niên 1980, Müller bắt đầu tìm kiếm các chất có thể trở nên siêu dẫn ở nhiệt độ cao. Mức siêu dẫn cao nhất (Tc) có thể đạt tới ở thời đó là khoảng 23 K. Năm 1983 Müller tuyển Johannes Georg Bednorz vào Phòng thí nghiệm của IBM, để giúp ông thử nghiệm có hệ thống các oxide khác nhau. Năm 1986 hai người đã thành công trong việc thực hiện tính siêu dẫn ở lanthanum barium copper oxide (oxide đồng bari lanthan) (LBCO) ở nhiệt độ 35 K. Hơn 75 năm trước đó, nhiệt độ tới hạn đã tăng từ 11 K năm 1911 tới 23 K năm 1973 và giữ nguyên trong 13 năm. Như vậy mức 35 K là vô cùng cao theo các tiêu chuẩn hiện hành của việc nghiên cứu tính siêu dẫn. Khám phá này đã khuyến khích rất nhiều nghiên cứu bổ sung về siêu dẫn nhiệt độ cao, dẫn đến việc phát hiện ra các hợp chất như Bismuth strontium calcium copper oxide (BSCCO) (Tc = 107 K) và Yttrium barium copper oxide (YBCO) (T'c = 92 K).
Họ đã báo cáo công trình phát hiện của họ trên "Zeitschrift für Physik" (Tạp chí Vật lý) số tháng 4 năm 1986. Trước cuối năm đó, Shoji Tanaka ở Đại học Tokyo rồi Chu Kinh Vũ ở Đại học Houston riêng từng người đều xác nhận kết quả trên kia của họ. Ít tháng sau Chu Kinh Vũ đã đạt được tính siêu dẫn ở 93 K.
Năm 1987 Müller và Bednorz cùng được trao chung giải Nobel Vật lý — thời gian ngắn nhất giữa công trình khám phá và việc trao giải từ trước tới nay.
Đời tư
Müller kết hôn với Ingeborg Marie Louise Winkler trong mùa xuân năm 1956. Họ có một con trai, Eric, sinh trong mùa hè năm 1957, và một con gái, Silvia, sinh năm 1959.
Giải thưởng và Vinh dự
Viện sĩ nước ngoài Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ (1989),
Giải Tsukuba đặc biệt (1989)
Giải Fritz London Memorial thứ 13 (1987)
Giải Dannie Heineman (1987)
Giải Robert Wichard Pohl (1987)
Giải Hewlet Packard (1988)
Giải Marcel-Benoist (1986)
Giải Nobel Vật lý (1987) (chung với Johannes Georg Bednorz)
Giải Minnie Rosen (1988)
19625-st
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản
Thích
Bình luận
Chia sẻ