Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023

 Giải Nobel (198)

(1/ MỸ 47; 2/ ĐỨC 45, 3/ ANH 30; 4/ PHÁP 24; 5/ Hà Lan 9; 6/ Thụy Sĩ 13; 7/ Thụy Điển 14; 8/ Đan Mạch 9; 9/ Na Uy 5; 10/ Scotland 3; 11/ Nga 2; 12/ Tây Ban Nha 3, 13/ Hung Ga Ry 5. 14/ Ba Lan 5, 15/ Áo 10, 16/ Ý 6; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 2; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 2; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 2; 26/ Arhentina 1; 27/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;28/ Phần Lan 2; 29/ Chi lê 1;
30/Argentina 1; 31/ Nhật Bản 1; 32/ Nam Phi 1;
Felix Bloch
Felix Bloch (1905-1983)
Sinh 23 tháng 10, 1905
Zürich, Thụy Sĩ
Mất 10 tháng 9, 1983 (77 tuổi)
Zürich, Thụy Sĩ
Quốc tịch Thụy Sĩ
Trường lớp ETH Zürich và Đại học Leipzig
Nổi tiếng vì Cộng hưởng từ hạt nhân
Vách Bloch (Bloch Wall)
Sóng Bloch
Phương trình Bloch (Sóng)
Giải thưởng Giải Nobel Vật lý (1952)
Sự nghiệp khoa học
Ngành Vật lý học
Nơi công tác Đại học California tại Berkeley
Đại học Stanford
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Werner Heisenberg
Felix Bloch (23.10.1905 – 10.9.1983) là nhà vật lý học người Mỹ gốc Thụy Sĩ, đã đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1952 chung với Edward Mills Purcell.
Cuộc đời và Sự nghiệp
Bloch sinh trong một gia đình người Do Thái tại Zürich, Thụy Sĩ, là con của Gustav và Agnes Bloch. Ông học tiểu và trung học ở đây, sau đó vào học đại học ở trường ETH Zürich. Ban đầu ông học ngành Khoa học kỹ thuật, nhưng năm sau đã đổi sang ngành Vật lý học. Trong thời gian này ông theo học các bài giảng và tham gia các nhóm học tập chuyên đề (seminar) của giáo sư Peter Debye cùng Hermann Weyl ở ETH Zürich và Erwin Schrödinger ở Đại học Zürich gần đó. Một bạn sinh viên cùng tham gia các nhóm học tập chuyên đề này với ông là John von Neumann.
Tốt nghiệp năm 1927, ông tiếp tục học Vật lý ở Đại học Leipzig với giáo sư Werner Heisenberg, và đậu bằng tiến sĩ năm 1928. Bản luận án tiến sĩ của ông thiết lập lý thuyết lượng tử của chất rắn, sử dụng các sóng Bloch để mô tả các điện tử.
Ông được giữ lại ở Học viện châu Âu, học và nghiên cứu với Wolfgang Pauli ở Zürich, Niels Bohr ở Copenhagen và Enrico Fermi ở Roma, sau đó trở lại Đại học Leipzig giữ chức privatdozent (tương đương giảng viên).
Năm 1933, ngay sau khi Hitler lên nắm quyền, ông rời khỏi Đức, di cư sang Hoa Kỳ làm việc ở Đại học Stanford năm 1934. Cuối năm 1938, Bloch bắt đầu làm việc với máy gia tốc 37" ở Đại học California tại Berkeley để xác định mômen lưỡng cực từ của neutron. Bloch trở thành giáo sư môn Vật lý lý thuyết đầu tiên ở Đại học Stanford. Năm 1939, ông nhập quốc tịch Mỹ. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai ông nghiên cứu về năng lượng hạt nhân ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, sau đó từ chức để tham gia dự án radar ở Đại học Harvard.
Sau chiến tranh, ông tập trung vào nghiên cứu về cảm ứng hạt nhân và Cộng hưởng từ hạt nhân, là những nguyên lý cơ bản của Chụp cộng hưởng từ. Năm 1946 ông đề xuất các Phương trình Bloch trong đó xác định sự phát triển thời gian của việc từ hóa hạt nhân (nuclear magnetization).
Năm 1952, ông và Edward Mills Purcell được trao Giải Nobel Vật lý cho "việc phát triển các cách thức và phương pháp mới của họ cho việc đo chính xác từ hạt nhân (nuclear magnetic)".
Năm 1954–1955, ông làm Tổng giám đốc đầu tiên của CERN trong một năm. Năm 1961, ông làm giáo sư Vật lý học ở Đại học Stanford.
1323-st
Có thể là hình ảnh về 1 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

 DI SẢN THẾ GIỚI (724)

Các nhà thờ Moldavia
Di sản thế giới UNESCO
Vị trí Suceava, Romania
Tiêu chuẩn Văn hóa:(i), (iv)
Tham khảo 598bis
Công nhận 1993 (Kỳ họp 17)
Mở rộng 2010
Tọa độ 47°46′42″B 25°42′46″Đ
Các nhà thờ Moldavia là một nhóm gồm 8 Nhà thờ Chính thống Rumani của Moldavia nằm ở hạt Suceava, phía bắc Moldavia, România. Các nhà thờ này được xây khoảng giữa năm 1487 và 1532. Từ năm 1993 UNESCO đã công nhận các nhà thờ này là Di sản thế giới. Nhà thờ Phục sinh trong tu viện Sucevița đã được thêm vào danh sách vào năm 2010.
Danh sách
Image Name Location Built Founder
Biserica Arbore13.jpg Nhà thờ Chém đầu thánh Gioan Baotixita Arbore 1502 Luca Arbore
Biserica Manastirii Humorului si Turnul lui Vasile Lupu.jpg Nhà thờ Cái chết của Đức Mẹ đồng trinh Mănăstirea Humorului 1530 Toader Bubuiog
Manastirea Moldovita, vedere laterala.jpg Nhà thờ Truyền tin Vatra Moldoviței 1532 Petru Rareș
Biserica Inaltarea Sf. Cruci din Patrauti12.jpg Nhà thờ Tôn vinh Thánh Giá Pătrăuți 1487 Ștefan cel Mare
BisericaSfNicolaeProbota 02.JPG Nhà thờ Thánh Nicholas Probota 1530 Petru Rareș
Mănăstirea Sfântul Ioan cel Nou.jpg Nhà thờ Thánh George Suceava 1522 Bogdan III
Voronet, Manastirea.jpg Nhà thờ Thánh George Voroneț 1488 Ștefan cel Mare
Biserica si curtea manastirii Sucevita.jpg Nhà thờ Phục Sinh Sucevița 1581 Gheorghe Movilă
Các nhà thờ đáng chú ý khác
Tên Vị trí Xây dựng Thành lập
Tu viện Agapia Agapia, Neamț 1643 Gavriil Coci
Tu viện Bogdana Rădăuți, Suceava 1360 Bogdan I
Tu viện Cetățuia Iași, Iași 1672 Gheorghe Duca
Tu viện Dragomirna Mitocu Dragomirnei, Suceava 1609 Anastasie Crimca
Tu viện Galata Iași, Iași 1584 Petru Șchiopul
Tu viện Golia Iași, Iași 1660 Ioan Golia
Tu viện Neamț Vânători-Neamț, Neamț 1497 Ștefan cel Mare
Tu viện Putna Putna, Suceava 1466 Ștefan cel Mare
Tu viện Trei Ierarhi Iași, Iași 1639 Vasile Lupu
Tu viện Văratec Văratec, Neamț 1785 Olimpiada
Tu viện Agapia
Tu viện Agapia
Tu viện Bogdana
Tu viện Bogdana
Tu viện Cetățuia
Tu viện Cetățuia
Tu viện Dragomirna
Tu viện Dragomirna
Tu viện Galata
Tu viện Galata
Tu viện Golia
Tu viện Golia
Tu viện Neamț
Tu viện Neamț
Tu viện Putna
Tu viện Putna
Tu viện Trei Ierarhi
Tu viện Trei Ierarhi
Tu viện Văratec
Tu viện Văratec
28223-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2023

 Hơ hớ, cóc cần chuyên môn gì sất, cứ qua đợt ný nuận cc, xếp ghế nào là xào ghế ấy.

 KỶ LỤC THẾ GIỚI (228)

Người đàn ông sống thọ nhất được Guinness công nhận là cụ Dumitru Comănescu ở Romania. Cụ qua đời vào ngày 27/6/2020, chưa đầy một tháng sau khi được công nhận, hưởng thọ 111 tuổi 219 ngày.
27223-st

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2023

 DI SẢN THẾ GIỚI (723)

Châu thổ sông Danube
Di sản thế giới UNESCO
Vị trí Hạt Tulcea, România
Tiêu chuẩn Tự nhiên: vii, x
Tham khảo 588
Công nhận 1991 (Kỳ họp 15)
Diện tích 312.440 ha
Tọa độ 45°5′0″B 29°30′0″Đ
Đất ngập nước Ramsar
Đề cử 21 tháng 5 năm 1991
Số tham khảo 521
Châu thổ sông Danube (tiếng Romania: Delta Dunării phát âm [ˈdelta ˈdunərij] (Speaker Icon.svg listen); tiếng Ukraina: Дельта Дунаю, Deľta Dunayu, phát âm tiếng Ukraina: [dɛlʲˈtɑ dunɑˈju]) là châu thổ sông lớn thứ hai tại châu Âu, sau châu thổ sông Volga, và là châu thổ nguyên sơ nhất châu lục. Phần lớn châu thổ sông Danube nằm trên lãnh thổ Rumani (hạt Tulcea), và một phần nhỏ nằm ở Ukraina (tỉnh Odessa). Diện tích xấp xỉ của châu thổ là 4,152 km2 (2 dặm vuông Anh) trong đó có 3.446 km2 (1.331 dặm vuông Anh) ở Rumani. Tính cả đầm phá Razim–Sinoe (rộng 1.015 km2 (392 dặm vuông Anh), trong đó 865 km2 (334 dặm vuông Anh) là diện tích mặt nước) nằm ở phía nam phần chính châu thổ, thì tổng diện tích châu thổ sông Danube là 5.165 km2 (1.994 dặm vuông Anh). Quần thể phá Razim–Sinoe liên quan đến châu thổ chính cả về sinh thái lẫn địa lý, và cả hai tạo thành khu vực được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.
Địa lý
Châu thổ sông Danube hiện đại bắt đầu hình thành sau năm 4000 TCN trong một vịnh của biển Đen khi mực nước biển tăng lên như hiện tại. Một dải cát đã chặn vịnh Danube nơi dòng sông ban đầu hình thành châu thổ. Khi vịnh được lấp đầy bởi trầm tích, vùng đồng bằng mở rộng ra bên ngoài phía cửa sông tạo thành một số phần lồi. gồm St. George I (3500–1600 TCN), Sulina (1600–0 TCN). Một số nhánh khác tạo thành hồ và đầm phá tiếp giáp gồm Chilia I và II ở phía bắc và Dunavatz ở phía nam. Phần lớn phù sa ở vùng châu thổ và sự mở rộng diện tích bề mặt của nó dưới dạng phần lồi do xói mòn đất liên quan đến việc phá rừng trong lưu vực sông Danube vào thiên niên kỷ thứ 1 và thứ 2. Nhà địa chất học Liviu Giosan trong tờ New York Times nói rằng, có lẽ 40% châu thổ này được hình thành trong 1000 năm qua. Tìm thấy nó giống như khoảnh khắc Eureka.
26223-st
Không có mô tả ảnh.
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Đồ tể Pu sẽ vơ tiếp 1 triệu lính ném sang Ukraine

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2023

 Giải Nobel (197)

(1/ MỸ 46; 2/ ĐỨC 45, 3/ ANH 30; 4/ PHÁP 24; 5/ Hà Lan 9; 6/ Thụy Sĩ 12; 7/ Thụy Điển 14; 8/ Đan Mạch 9; 9/ Na Uy 5; 10/ Scotland 3; 11/ Nga 2; 12/ Tây Ban Nha 3, 13/ Hung Ga Ry 5. 14/ Ba Lan 5, 15/ Áo 10, 16/ Ý 6; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 2; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 2; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 2; 26/ Arhentina 1; 27/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;28/ Phần Lan 2; 29/ Chi lê 1;
30/Argentina 1; 31/ Nhật Bản 1; 32/ Nam Phi 1;
Pär Lagerkvist
Pär Fabian Lagerkvist
Sinh 23 tháng 5 năm 1891
Växjö, Thụy Điển
Mất 11 tháng 7 năm 1974
Stockholm, Thụy Điển
Nghề nghiệp Nhà thơ, Nhà viết kịch, Nhà văn
Quốc tịch Thụy Điển
Pär Fabian Lagerkvist (23 tháng 5 năm 1891 - 11 tháng 7 năm 1974) là nhà văn, nhà thơ Thụy Điển đoạt giải Nobel Văn học năm 1951.
Tiểu sử
Ngay từ nhỏ Pär Lagerkvist đã yêu thích văn chương và có ý định trở thành nhà văn. Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1912, ông bắt đầu in thơ và truyện. Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ nhất ông đi Đan Mạch, Pháp, Ý và sống ở đó nhiều năm. Sáng tác của ông đề cập đến những vấn đề muôn thuở: cái Thiện và cái Ác trong con người. Năm 1925, ông cho ra đời cuốn tự truyện Gäst hos verkligheten (Vị khách của thực tại) mang quan điểm nhân đạo, được viết bằng ngôn ngữ giản dị nhưng mang tính nghệ thuật cao.
Năm 1940, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Thụy Điển. Tiểu thuyết Barabbas (1950) là đỉnh cao sáng tác của Lagerkvist, kể lại truyện về nhân vật Barabbas trong Kinh Thánh, ngay lập tức được dịch sang 9 thứ tiếng và được dựng thành phim năm 1962 (Barabbas). Năm sau, nhà văn nhận giải Nobel vì "những tác phẩm mang sức mạnh nghệ thuật và những tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi muôn đời vẫn đứng trước loài người". Tiểu thuyết Barabbas là tuyệt tác của Lagerkvist về nỗ lực của con người tìm kiếm đức tin, đề cập đến những vấn đề cấp thiết nhất của tồn tại con người một cách hết sức xác thực và dũng cảm. Ngoài văn xuôi, thơ và kịch của ông cũng rất nổi tiếng ở Thụy Điển. Par Lagerkvist mất tại Stockholm.
Tác phẩm
Människor (Những con người, 1912), truyện dài
Järn och människor (Sắt và người, 1915), tập truyện
Ångest (Nỗi buồn, 1916), thơ
Den svara stunden (Thời khắc khú khăn I, II, III, 1918), kịch
Himlens hemlighet (Bớ mật thiên đường, 1919), kịch
Det eviga leendet (Nụ cười vĩnh cửu, 1920), truyện dài
Den lyckliges väg (Con đường của người hạnh phúc, 1921), thơ
Den osynlige (Người vô hình, 1923), kịch
Onda sagor (Những truyền thuyết anh hùng đáng sợ, 1924), tập truyện ngắn
Gäst hos verkligheten (Vị khách của thực tại, 1925), tự truyện
Hjärtats sånger (Bài ca trái tim, 1926), thơ
Det besegrade livet (Cuộc sống bị chinh phục, 1927), tự truyện
Han som fick leva om sitt liv (Người đó sống hết cuộc đời, 1928), kịch
Vid lägereld (Bên đống lửa, 1932), tập thơ
Människan utan själ (Người không có tâm hồn, 1936), kịch
Sång och strid (Thơ và cuộc chiến, 1940), tập thơ
Dvärgen (Thằng lùn, 1944), tiểu thuyết
Låt människan leva (Hãy để cho mọi người được sống, 1949), kịch
Barabbas (1950), tiểu thuyết
Aftonland (Xứ sở hoàng hôn, 1953), tập thơ
Sibyllan (1956), tiểu thuyết
Ahasverus dod (Cái chết của Ahasverus, 1960), tiểu thuyết
Pilgrim på havet (Người hành hương trên biển, 1962), tiểu thuyết
Mariamne (1967), tiểu thuyết
Một số bài thơ
Trích từ tập "Xứ sở hoàng hôn"
Em rồi sẽ trở thành một trong những người thượng cổ
Mặt đất sẽ nhớ về em như đất nhớ hoa cỏ, nhớ rừng
nhớ những chiếc lá kim.
Như đất nhớ
như núi đồi nhớ gió.
Sự yên lặng của em sẽ như biển, vĩnh hằng.
Cuộc đời ta chỉ là khoảnh khắc
Cuộc đời ta chỉ là khoảnh khắc
nếu so với sự tồn tại của linh hồn
và trong phút chốc
sự giải thoát
đã vội vàng trên đôi cánh tới không trung.
Như một bông hoa hạnh nhân
Như một bông hoa hạnh nhân
Người yêu của tôi đẹp dịu dàng
Ngọn gió hãy hát lên, ngọn gió
Nàng đẹp vô cùng!
Như một bông hoa hạnh nhân
Làn da trắng, nét trẻ trung
Chỉ cơn gió ban mai biết được
Nàng đẹp vô cùng.
Như một bông hoa hạnh nhân
Người yêu của tôi đẹp dịu dàng
Nhưng bóng tối xung quanh tôi vây kín
Liệu nàng có hạnh phúc ở đây không?
Sâu như mất mát
Cái gì có thể sâu hơn sự mất mát
Cái gì lấp đầy con tim hơn là sự trống trơn
Cái gì làm ngập cõi lòng bằng việc đi tìm cái không
Em biết đấy mà em chẳng biết.
Người ta mang lại cho em sự bình yên ấm áp
Cháy trong lửa của em, yên bình trong ngọn lửa của tay em
Nhưng hạnh phúc của người đâu so được
sự trống vắng của anh
và khi em với người ta hòa nhập
là chống lại sự cô đơn của anh.
Hãy giữ anh bằng bàn tay vô hình
Hãy giữ anh bằng bàn tay vô hình
Và xin làm ơn – đừng thả
Hãy đưa anh qua những cây cầu bình minh
Trên miệng vực kinh hoàng
Nơi bóng đêm em đang giam giữ.
Nhưng làm sao giữ mãi được bóng đêm
Và trên cây cầu ít nữa buổi chiều đổ xuống
Còn sau đấy – là đêm
Và anh, có thể sẽ rất cô đơn.
Bạn xa
Tôi có bạn xa, người mà tôi không biết
Người bạn xa ở bên kia đại dương
Tôi quan tâm đến người bạn thường xuyên
Bạn là ai – người mà tôi không biết
Mà có thể là không có ở trần gian?
Bạn là ai, người làm đầy tôi bằng sự không có mặt của mình?
Bạn là ai, sự không có mặt kia làm đầy thế giới?
Chiếc thuyền của cuộc sống
Chẳng bao lâu bạn sẽ chết và không biết bạn đang lướt
trên thuyền của cuộc sống đi sang bờ bến khác
nơi buổi sáng chờ trên những bãi bồi kia.
Đừng hốt hoảng. Đừng sợ giây phút giã từ.
Sẽ có một bàn tay cẩn trọng
sửa lại cánh buồm cho bạn
để lướt như bay
từ đêm sang ngày.
Bạn đừng lo lắng
theo bờ im lặng
và bằng con đường nhung
của hoa cỏ hoàng hôn.
Ước muốn
Anh là ngôi sao, phản chiếu ở trong em.
Hãy cứ để cho tâm hồn em lặng ngừng.
Nếu không thì anh không thể nào phản chiếu.
Đấy là nơi trú ẩn của anh. Anh chẳng có gì hơn.
Nhưng có thể hồn em cũng lặng yên
Bởi ánh sáng của anh vẫn rung trong đó.
Tất cả trên đời này là hư không
Tất cả trên đời này là hư không
Nhưng có một điều gì đấy lớn lên
Như đám mây giữa bấu trời xanh
Đang hấp thụ vào mình tất cả.
Và ngay trong giờ phút đó
Em ngỡ rằng mình quan trọng vô cùng
Nhưng phút chốc trở nên mất giá
Em ra đi, cát bụi mang theo mình
Em cũng là cát bụi.
Tất cả trên đời này là hư không
Tôi muốn biết
Tôi muốn biết – chỉ nhận được câu hỏi
Tôi muốn ánh sáng – chỉ được bỏng nhức nhối.
Tôi muốn một điều gì đó thật khó tin
Nhưng chỉ nhận được cuộc đời như vậy.
Tôi tiếc thương mình. Nhưng không ai hiểu tôi muốn gì.
Tất cả được trang điểm
Tất cả được trang điểm bằng ánh hoàng hôn.
Tất cả tình yêu nằm ở trung tâm.
bầu trời trong ánh sáng đục
trên mặt đất
trên ngôi mộ vĩnh hằng.
Tất cả thật dịu dàng, bàn tay âu yếm.
Chúa Trời làm gần những bờ bến xa xăm.
Cái ở xa, ta nhìn thấy thật gần.
Tất cả ta được trời ban
nhưng chỉ cho ta mượn.
Những gì của tôi sẽ lấy về đúng hạn
và sắp tới đấy sẽ bị thu hồi.
Chỉ vĩnh viễn cỏ cây, mặt đất, bầu trời.
Và tôi sẽ lang thang thơ thẩn
một mình tôi, không dấu vết trên đời.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
(ur "Aftonland")
Engong skall du vara en av dem som levat fёr lеngesen.
Jorden skall minnas dig sо som den minns grеset och skogarna,
det multnade lёvet.
Sо som myllan minns
och sо som bergen minns vindarna.
Din frid skall vara o;ndlig sо som havet.
Vad еr vaart liv, den korta stunden
Vad еr vaart liv, den korta stunden,
mot livet som vaar sjel tillhёr,
ur tiden lёses den
obunden
och med sin vinge himlen rёr.
Som ett blommande mandeltrеd
Som ett blommande mandeltrеd
еr hon som jag har kеr.
Sjung du vind, sjung sakta fёr mig
om hur ljuvlig hon еr.
Som ett blommande mandeltrеd,
sо spеd, sо ljus och skеr.
Bara du, ёmmaste morgonvind,
vet hur ljuvlig hon еr.
Som ett blommande mandeltrеd
еr hon som jag har kеr.
Nеr det nu mёrknar sо tungt omkring mig,
kan hon vеl leva hеr?
Djupt som saknad
Vad еr djupt som saknad.
Vad fyller vоra hjеrtan sо som tomhet.
Vad uppfyller sjеlens; som lеngtan efter nоgot som inte finns,
som den vet inte finns.
Andra fоr ro hos dig.
Andra brinner i din eld, vilar i dina lеgande armar.
Men vad еr deras lycka
mot min tomhet,
deras glеdande fёrening med dig
mot min ensamhet.
Hоll mig i din okеnde hand
Hоll mig i din okеnde hand
och slеpp mig inte.
Fёr mig pо morgonljusa broar
ёver de svindlande djup
dеr du hоller mёrkret fеngslat.
Men mёrkret f;ngslar man inte lеnge.
Snart skall det vara afton ёver dina broar
och natt.
Och kanske skall jag vara mycket ensam.
En frеmling
En frеmling еr min vеn, en som jag inte kеnner.
En frеmling lоngt lоngt borta.
Fёr hans skull еr mitt hjеrta fullt av nёd.
Fёr att han inte finns hos mig.
Fёr att han kanske inte alls finns?
Vem еr du som uppfyller mitt hjеrta med din frоnvaro?
Som uppfyller hela vеrlden med din frоnvaro?
Livsboten
Snart еr du dёd och vet ej att du glider
pо livets bоt bort mot de andra landen
dеr morgon vеntar dig pа dolda strеnder.
Oroas ej. Rёds ej i uppbrottstimman.
En vеnlig hand lugnt ordnar
bоtens segel,
som fоr dig bort fron
kvеllens land till dagens.
Gо utan еngslan ner
i strandens tystnad,
den mjuka stigen genom
skymningsgrеset.
Vill
Jag еr stjеrnan som speglar sig i dig.
Din sjеl skall vara stilla,
annars kan jag inte spegla mig i den.
Din sjеl еr mitt hem. Jag har inget annat.
Men hur skulle du kunna vara stilla
nеr mitt ljus skеlver i din sjеl.
Det mesta еr sо betydelselёst
Det mesta еr sо betydelselёst.
Men so finns det nogonting oerhёrt som stiger upp som
ett glёdande moln pо himlen
och fёrtеr allt.
Dо blir allting fёrvandlat
och det som nyss tycktes dig av stёrsta vеrde
har inget vеrde alls fёr dig mer.
Och du gоr bort genom alltings aska
och еr sjеlv aska.
Det mesta еr sо betydelselёst.
Jag ville veta
Jag ville veta men fick bara froga,
jag ville ljus men fick bara brinna.
Jag begerde det oerhёrda
men fick bara leva.
Jag beklagade mig. Men ingen fёrstod vad jag mente.
Det еr vackrast nеr det skymmer
Det еr vackrast nеr det skymmer.
All den kоrlek himlen rymmer
ligger samlad i ett dunkelt ljus
ёver jorden,
ёver markens hus.
Allt еr ёmhet, allt еr smekt av hеnder.
Herren sjelv utplenar fjеrran strеnder.
Allt еr nеra, allt еr lоngt ifrоn.
Allt еr givet
menniskan som lоn.
Allt еr mitt, och allt skall tagas frоn mig,
inom kort skall allting tagas fron mig.
Trеden, molnen, marken dеr jag gоr.
Jag skall vandra -
ensam, utan spоr.
24223-st
Có thể là hình ảnh đen trắng về 1 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ