Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

ở Antigua&Barbuda
1819-TTT
ở Sip
1819-TTT
Tháp gió ở Bahrain
1819-TTT
ở Luxembourg
1819-TTT
Quảng trường Liên hợp quốc Quagadougou ở Buốc ki na pha xô
1819-TTT
Trụ sở Nghị viện Liên bang Bỉ tại Bruxelles
1819-TTT
Chợ Phù thủy ở Bolivia

Mercado de las Brujas là chợ phù thủy nằm ở khu vực thu hút nhiều du khách nhất của thành phố La Paz. Những bào thai llama khô quắt treo lơ lửng hoặc buộc thành bó là hình ảnh mà du khách có thể nhìn thấy ở khắp nơi trong chợ.
Chợ trưng bày vô số mặt hàng kỳ lạ từ trong các sạp hàng cho tới tràn lan ra vỉa hè, mặt đường. Mercado de las Brujas là khu chợ nằm ở độ cao hơn 3649 m so với mực nước biển thuộc La Paz - thủ đô cao nhất thế giới.
Bước vào chợ, du khách sẽ có cảm giác choáng ngợp vì hàng hóa xếp thành núi từ sàn lên tới trần các sạp. Một trong những gian hàng ở chợ phù thủy La Paz bày bán những sản phẩm phục vụ cho các nghi lễ của người dân địa phương.
Bào thai llama khô là một trong những mặt hàng nổi tiếng và phổ biến ở chợ phù thủy. Nó được dùng để chôn dưới móng những ngôi nhà mới ở Bolivia nhằm xua đuổi các linh hồn ác quỷ.
Một hình ảnh khác rất đậm nét văn hóa Bolivia ở chợ phù thủy là những người phụ nữ Aymara mặc trang phục truyền thống với mũ đen, áo choàng... ngồi bán hàng. Họ được biết đến như những yatiri (hay thầy lang, phù thủy) mà mọi người tin là có sức mạnh kết nối với thế giới khác.
Chợ phù thủy La Paz bán các loại bùa chú, những loại cây chữa bệnh, xác ếch khô và vô số đồ lưu niệm, đồ thủ công mỹ nghệ như những bức tượng nhỏ khắc từ gỗ, đá... Chợ mở cửa hàng ngày từ 9h30 đến 19h.
Trong hình ảnh có thể có: 2 người
1819-TTT
Không có mô tả ảnh.

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, đang ngồi và món ăn




Không có mô tả ảnh.
Peterhof và cung điện mùa hè ở Saint Peterburg
1819-TTT
Hai ông khách gặp may, được hít nước hoa miễn phí
1819-TTT

Cá mập voi (C255)
Cá nhám voi hay cá mập voi (danh pháp hai phần: Rhincodon typus) là một thành viên đặc biệt trong phân lớp Elasmobranchii (cá mập, cá đuối) của lớp Cá sụn (Chondrichthyes). Nó là loài cá mập lớn nhất và cũng là một trong những loài cá hiện còn sống có kích thước lớn nhất.
Tên gọi
Loài này được nhận dạng lần đầu tiên năm 1828 ngoài bờ biển Nam Phi. Họ Rhincodontidae đã không được thông qua cho tới tận năm 1984. Tên gọi "cá nhám voi" có lẽ là do kích thước lớn của nó.
Phân bố và môi trường sống
Cá nhám voi sinh sống trong các đại dương thuộc vùng nhiệt đới và ôn đới ấm của thế giới. Được coi là sống ngoài đại dương nhưng chúng cũng tụ tập lại theo mùa ở một vài khu vực ven bờ như dải đá ngầm Ningaloo ở khu vực miền tây Úc cũng như Pemba và Zanzibar ở khu vực ven bờ đại dương của Đông Phi. Khu vực phân bố của chúng giới hạn trong khoảng vĩ độ ±30 ° tính từ các khu vực này. Cá nhám voi chủ yếu sống cô độc và ít khi thấy chúng bơi thành đàn. Người ta tin rằng chúng sống di trú, nhưng các chuyên gia vẫn không rõ chúng có thể di cư xa bao nhiêu (có thể là di trú xuyên đại dương).
Cơ thể học và hình dạng
Chiều dài của cá nhám voi khoảng từ 9–11 m, nặng từ 10-15 tấn. Chiều dài tối đa được kiểm chứng là 12,45 m, và khối lượng tối đa là 21,5 tấn. Những con số không chính thức có nơi ghi là 18 mét (59 ft). Cũng cần phân biệt loài này với cá nhám phơi nắng (Cetorhinus maximus), một loài cá lớn nhưng nhỏ hơn cá nhám voi.
Là thành viên của bộ Cá nhám râu (Orectolobiformes), nó là loại cá ăn uống theo cơ chế lọc bỏ. Nó có miệng rộng có thể lên tới 1,5m và chứa tới 300 răng nhỏ. Là một phần trong quá trình ăn uống của mình, nó có 5 cặp mang lớn. Hai mắt nhỏ nằm ngay ở phần trước của cái đầu rộng và bẹt. Thân của chúng có màu xám chuyển thành trắng ở phần bụng; với ba lằn gân rõ nét chạy dọc theo mỗi bên hông và da của chúng giống như 'bàn cờ đam' với các đốm màu vàng nhạt và các sọc. Các đốm này là duy nhất cho từng cá thể. Do vậy các đốm này có thể dùng để đánh dấu mỗi con cá nhám voi nhằm thực hiện việc kiểm đếm chính xác số lượng cá nhám voi. Tuy nhiên, cho tới nay người ta vẫn không biết rõ về số lượng của chúng. Lớp da của chúng có thể dày tới 10 cm. Cá nhám voi có hai cặp vây lưng và vây ngực. Đuôi của cá nhám voi non có vây trên lớn hơn vây dưới nhưng ở cá nhám voi trưởng thành thì đuôi có hình bán nguyệt hay hình trăng lưỡi liềm. Các lỗ thở của chúng nằm ngay sau mắt. Cá nhám voi không phải là những tay bơi lội cừ khôi; toàn thân của nó chuyển động khi nó bơi, kết quả là nó có vận tốc thấp rất bất thường cho các loại cá mập, vận tốc trung bình của nó chỉ là khoảng 5 km/h.
Ăn uống
Các nhám voi ăn các loại sinh vật phù du, tảo lớn, nhuyễn thể hay các loại mực và động vật có xương sống nhỏ. Các răng nhỏ li ti không giúp ích gì cho quá trình ăn uống của nó, thay vì thế nó hút nước chứa các sinh vật phù du vào qua miệng và đi qua mang lược (có chức năng giữ lại thức ăn) và sau đó bị tống ra khỏi bằng mang cung. Những gì mắc lại tại mang lược được nó nuốt hết. Cá nhám voi có thể luân chuyển nước với tốc độ tới 1,7 l/s (3,5 panh (pint) Hoa Kỳ/s). Tuy nhiên, cá nhám voi là loài tích cực săn mồi và chúng phát hiện các mục tiêu như các chỗ có nhiều sinh vật phù du hay cá nhờ các tín hiệu khứu giác chứ không phải luôn luôn chỉ là cơ chế 'hút bụi'.
Theo lời của những thủy thủ thì cá nhám voi tập trung tại các bãi đá ngầm ngoài khơi bờ biển Belize (vùng Caribe), là nơi có thể bổ sung thêm cho thức ăn thông thường của chúng các loại trứng cá chỉ vàng, được các loài cá này đẻ vào giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm trong khoảng thời gian 6-7 ngày kể từ ngày trăng tròn trong các tháng này.
Hành xử
Khi cần giải thích là phần lớn các loại cá mập không gây nguy hiểm cho con người thì loài này là một ví dụ điển hình. Những người thợ lặn có thể bơi xung quanh loài cá khổng lồ này mà không gặp phải vấn đề gì.
Cá nhám voi có thể gặp tại các khu vực biển của Việt Nam, Thái Lan, Maldives, Hồng Hải, tây Úc (dải đá ngầm Ningaloo), khu bảo tồn hải dương Gladden Spit ở Belize, và tại quần đảo Galapagos. Những thợ lặn may mắn cũng có thể gặp chúng tại Seychelles, Puerto Rico và Philipin (Donsol).
Sinh sản
Giống như phần lớn các loại cá mập khác, tập tính sinh sản của cá nhám voi vẫn chưa được rõ. Dựa trên nghiên cứu một quả trứng đơn lẻ tìm thấy ngoài khơi México vào năm 1956, người ta cho rằng chúng là loài đẻ trứng, nhưng con cá nhám voi cái có chửa bị bắt vào tháng 7 năm 1996 chứa tới 300 cá nhám voi con lại chỉ ra rằng chúng là loài đẻ con với sự phát triển của cơ chế đẻ trứng thay. Các trứng phát triển thành cá con trong cơ thể con mẹ bằng các nguồn dưỡng chất ngay trong trứng và con mẹ sẽ đẻ các con non dài 40 – 60 cm. Người ta tin rằng cá nhám voi đạt tới độ tuổi trưởng thành vào khoảng 30 năm và chúng có tuổi thọ ước tính khoảng 60 - 150 năm.
1819
ở Burundi
1819-TTT

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2019

Nhìn dáng đi đoán số mệnh
(Trích trong chuyện vặt về những người sợ chết)
Hình dáng người đi bộ cũng rất đa dạng. Đa số người đi có thân người vuông góc với mặt đất, đầu thẳng mắt nhìn phía trước, chân guồng, 2 tay vung theo nhịp chân bước. Trong số đi bộ hàng ngày có người đi nhưng mắt ngưỡng thiên. Có người lại so vai rụt cổ, mặt ngưỡng đất, thân người chúi về phía trước tạo thành 1 góc với mặt đất khoảng 80 độ. Cá biệt có người như một dấu á đặt đứng, phần cong lõm hướng về phía trước. Có một số người chúi về phía trước, thân người phía trước với mặt đất tạo thành góc đến 70 độ và đi rất nhanh. Người ta nghiệm ra rằng những người có dáng đi chúi về phía trước và vội vã như thế là người có số vất vả. Tôi hỏi lại hỏi cụ Cưởng hiện tượng này. Cụ bảo không biết lý giải thế nào nhưng tướng đi và số mệnh hình như có mối tương quan. Những người đi đứng khoan thai nhẹ nhàng toát ra vẻ ung dung tự tại. Mọi thứ đối với họ như đều có mục tiêu, kế hoạch, chương trình cụ thể chắc chắn nên họ luôn chủ động, bình tĩnh không phải hớt hải vội vàng. Ngược lại những người chân năm tay mười, đi đâu cũng vội vã, huỳnh huỵch rõ là có tính nôn nóng, xông xáo…và thường phải nhận những kết quả chẳng mấy ngọt ngào. Cụ kể cho tôi nghe chuyện của 1 ông Phó phẩy của đơn vị mà cụ công tác ở đó. Chuyện thế này:
Ông ấy tên là Với. Ông nhanh nhẹn hoạt bát từ lời nói đến dáng đi. Bất cứ đi đâu, việc gì, xa gần ông cứ chúi người lao lên phía trước. Ông hăng hái trong mọi việc, luôn đề xuất với lãnh đạo về mọi khâu công tác của đơn vị. Thấy ông đề xuất có lý lại hăng hái nhiệt tình, sẵn sàng và quyết tâm vượt khó nên ông Thủ trưởng đơn vị luôn giao cho ông những việc mới, việc khó. Vốn là 1 nhân viên không được đào tạo cơ bản, chủ yếu là ông công tác lâu năm nên tích lũy được kinh nghiệm nhất định. Vì vậy ông luôn phải gồng mình lên, lúc nào cũng lăn như bi trong chỉ đạo đốc thúc công việc. Một lần trên đường công tác về đơn vị, ông giục cậu lái xe gắng chạy nhanh để ông về giải quyết 1 việc đang chờ ông. Cậu lái xe vội vàng bốc ga chạy. Thật chẳng may, tăng ga được 1 đoạn thì xe ông phải tránh chiếc xe ngược chiều, xe ông đâm sầm vào cây cổ thụ bên đường. Ông, cậu lái xe và mấy cán bộ đi cùng bị thương. Riêng ông bị gẫy xương quai xanh, chấn thương đầu bất tỉnh. Tin ông bị tai nạn bất tỉnh lập tức được thông tin về gia đình ông. Vợ ông ở nhà vốn bị huyết áp cao, nghe tin chồng bị bất tỉnh thế là huyết áp của bà vọt lên và chết ngay tại chỗ. Đám ma bà, ông không thể về được. Mấy tuần sau ông được xuất viện, ông lại vội vã lao ra mộ bà thắp hương và sụt sùi khóc thương. Sau cái đận ấy, công việc ở đơn vị ông càng hăng say tíu tít đêm ngày như để quên đi cái đau, cái mất mát bất chợt của mình. Lúc nào ông cũng ào ào lao về phía trước. Chỉ tôị, khi về nhà ông lại phải gánh vác thêm phần việc của bà trước kia. Ông đã vất vả lại càng vất vả hơn. Đến đây cụ Cưởng kết luận câu chuyện bằng một câu lơ lửng và một lời khuyên:
- Chuyện ông Với là thế. Không biết những vất vả thiệt thòi của ông Với có liên quan gì đến dáng đi của ông ấy không. Theo tôi, có con cháu đến tuổi dựng vợ gả chồng thì nên tránh xa những người suốt đời cứ cắm cúi chúi đầu lao về phía trước ông ạ.
31719-TTT
Burundi (39)
Cộng hoà Burundi
République du Burundi (tiếng Pháp)
Republika y'Uburundi (tiếng Kirundi)
Flag of Burundi.svg Coat of arms of Burundi.svg
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống Pierre Nkurunziza
Thủ đô Gitega
Thành phố lớn nhất Bujumbura
Địa lý
Diện tích 27.834 km²
Diện tích nước 10 %
Múi giờ CAT (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập từ Bỉ
1 tháng 7 năm 1962
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Kirundi và Tiếng Pháp
Dân số ước lượng (2015) 11.178.921 người
Dân số (2008) 8.053.574 người
Mật độ 401,6 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 7,892 tỷ USD
Bình quân đầu người: 818 USD
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 2,742 tỷ USD
Bình quân đầu người: 284 USD
HDI (2015) 0,404 thấp (hạng 184)
Hệ số Gini (2006) 33
Đơn vị tiền tệ franc Burundi (FBu) (BIF)
Thông tin khác
Tên miền Internet .bi
Burundi ( /bəˈɹʊndɪ/ or /bəˈrʌndi/), tên chính thức Cộng hòa Burundi (tiếng Kirundi: [Republika y'Uburundi] lỗi: {{lang}}: văn bản có thẻ đánh dấu in xiên (trợ giúp), [buˈɾundi]; tiếng Pháp: République du Burundi, [buʁundi] hoặc [byʁyndi]) là một quốc gia ở đông châu Phi.
Lịch sử
Vào thế kỷ XV, những người du mục Tutsi (còn gọi là người Watutsi), được xem là một dân tộc từ Ethiopia đến, bắt đầu cuộc chinh phục người Hutu. Họ thành lập vương quốc Mwami và thống trị theo thể chế quân chủ chuyên chế. Những người châu Âu đầu tiên đến thám hiểm vùng hồ Tanganyika từ năm 1858.
Vùng lãnh thổ này bị sáp nhập vào Đông Phi thuộc Đức (1891) và cùng nước láng giềng tạo thành lãnh thổ Rwanda-Urundi đặt dưới sự ủy trị của Bỉ từ sau Chiến tranh thế giới thứ I.
Năm 1962, Burundi giành được độc lập và trở thành vương quốc dưới sự cai trị của Quốc vương Mwami Mwambutsa IV thuộc sắc tộc Tutsi. Cuộc nổi loạn của người Hutu diễn ra vào năm 1965 dẫn đến sự trả đũa man rợ của người Tutsi. Năm 1966, Mwambutsa bị con trai là Ntaré truất phế. Đến lượt người này, Quốc vương Ntaré, lại bị một sĩ quan người Tutsi là Michel Micombero lật đổ trong cùng năm ấy. Cuộc xung đột sắc tộc giữa người Hutu và nhóm thiểu số người Tutsi dẫn đến tàn sát lẫn nhau (1972-1973). Năm 1976, trung tá J. B. Bagaza chỉ huy nhóm sĩ quan người Tutsi lật đổ Tổng thống M. Micombero. Năm 1987, Tổng thống J. B. Bagaza bị một sĩ quan người Tutsi là P. Buyoya lật đổ trong cuộc đảo chính quân sự. Cuộc xung đột sắc tộc lại xảy ra năm 1988.
Tiến trình dân chủ hóa được xúc tiến từ năm 1988, cán cân quyền lực giữa người Hutu và người Tutsi được quân bình.
Hiến pháp năm 1992 thông qua thể chế đa đảng. Năm 1993, Melchi N'Dadaye, đại diện đầu tiên của người Hutu đắc cử Tổng thống, nhưng N'Dadaye bị quân đội thuộc nhóm người Tutsi ám sát. Người kế nhiệm là Tổng thống C. Ntaryamira cùng Tổng thống Juvénal Habyarimana của Rwanda bị chết trong vụ nổ máy bay tại thủ đô Kigali (Rwanda) năm 1994. Bạo lực lại bùng nổ giữa quân đội người Tutsi và người Hutu.
Năm 1996, quân đội tiến hành cuộc đảo chính và đưa Tổng thống P. Buyoya trở lại cầm quyền. Hơn 200.000 người bị giết kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu, cả quân đội người Tutsi và lực lượng nổi loạn người Hutu phải chịu trách nhiệm cuộc tàn sát này. Ông Nelson Mandela được chỉ định làm người trung gian hòa giải cho cuộc chiến này vào đầu năm 2000. Tháng 7 năm 2001, một Hiệp định hòa bình mong manh và thỏa thuận chia sẻ quyền lực được ký kết giữa Chính phủ và 18 phe nhóm chính trị, nhưng phe nổi loạn Hutu đấu tranh chống Chính phủ không đồng ý tham dự. Nội chiến lại tiếp tục trong năm 2002, những cố gắng nhằm ký một hiệp định ngừng bắn không đạt được thành công nào.
Tháng 7 năm 2005, Burundi đã bầu Hạ viện và Thượng viện theo chế độ đa đảng. Ngày 19 tháng 8 năm 2005, Hạ viện đã bầu ông Pierre Nkurunziza làm Tổng thống.
Chính trị
Chính trị của Burundi diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa tổng thống, theo đó Tổng thống Burundi là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu chính phủ, với một hệ thống chính trị đa đảng. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp trao cho cả chính phủ và lưỡng viện Quốc hội. Tổng thống được bầu trực tiếp bởi người dân. Tổng thống bổ nhiệm hai Phó tổng thống, hai Phó tổng thống sẽ thành lập nội các.
Quốc hội (Assemblée nationale) có 118 thành viên, được bầu cho một nhiệm kỳ năm năm. Thượng viện (Senat) có 49 thành viên, được bầu cho một nhiệm kỳ năm năm trong bầu cử của hội đồng xã.
Tình hình chính trị xã hội của Burundi nhiều năm không ổn định do tranh giành quyền lực giữa hai bộ tộc chính người Hutu và Tutsi. Sau cuộc bầu cử năm 2005 đến nay, tình hình Burundi được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại những thách thức về an ninh và phát triển.
Hành chính
Burundi được chia thành 17 tỉnh, 117 xã và 2.638 làng. Chính quyền cấp tỉnh được cấu trúc theo những ranh giới. Năm 2000, tỉnh Bujumbura được tách thành hai tỉnh, Bujumbura và Bunjumbura Mairie.
Các tỉnh là:
Bubanza
Bujumbura Mairie
Bujumbura Rural
Bururi
Cankuzo
Cibitoke
Gitega
Karuzi
Kayanza
Kirundo
Makamba
Muramvya
Muyinga
Mwaro
Ngozi
Rutana
Ruyigi
Địa lý
Quốc gia ở Trung Phi, Bắc giáp Rwanda, Đông và Nam giáp Tanzania, Tây giáp Cộng hòa Dân chủ Congo và hồ Tanganyika. Đất nước nằm trong đất liền, phần lớn lãnh thổ là đồi núi và cao nguyên.
Khí hậu
Burundi nằm trong vùng khí hậu xích đạo. Các vùng thấp ở rìa phía Bắc và phía Đông nóng ẩm, vùng cao nguyên và núi có khí hậu ôn hòa hơn. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 17OC dến 23OC. Lượng mưa trung bình khoảng 1.500 mm/năm, mùa mưa từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 12 đến tháng 1.
Môi trường
Đất bị xói mòn do chăn thả quá mức và mở rộng nông nghiệp; nạn phá rừng (diện tích rừng bị thu hẹp do không kiểm soát được tình trạng khai thác gỗ bừa bãi); nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng do mất nơi cư trú.
Kinh tế
Trong giai đoạn năm 1993 – 1999, do các cuộc nội chiến liên miên và lệnh cấm vận của nước ngoài (1996), GDP của Burundi giảm đi 20%, tỷ lệ vốn đầu tư giảm từ 18% xuống còn 6% và lạm phát năm 1999 lên tới 21%. Cuộc nội chiến kết thúc cùng với tình hình chính trị ổn định đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và sự giúp đỡ từ bên ngoài. Tuy nhiên, nước này vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do tình trạng nghèo đói, thất học, sự yếu kém trong quản lý hành chính và hệ thống luật pháp còn lỏng lẻo.
Burundi là một nước nông nghiệp lạc hậu. Ngành kinh tế lớn nhất là nông nghiệp với trên 90% dân số sống bằng nghề nông. Burundi có các loại khoáng sản quý như kim cương, vàng, niken, coban, platin, urani, wolfram... thu nhập từ kim cương chiếm 10% tổng giá trị hàng xuất khẩu.
Burundi là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Công nghiệp kém phát triển chủ yếu là chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp chiếm khoảng 35% GDP và sử dụng hơn 90% dân số. Burundi xuất khẩu chính là cà phê và chè, chiếm 90% thu nhập ngoại tệ. Mặc dù GDP Burundi tăng khoảng 4% hàng năm từ 2006 đến nay, nhưng hiện tại, đang tiềm ẩn những yếu kém (tỷ lệ đói nghèo cao, hệ thống pháp luật yếu, mạng lưới giao thông kém, các tiện ích quá tải, và năng lực hành chính thấp…) mang đến nguy cơ phá hoại kế hoạch cải cách kinh tế của Chính phủ Burundi. Burundi đang phụ thuộc nhiều vào viện trợ từ các nhà tài trợ song phương và đa phương.
Burundi là nước nghèo tài nguyên, công nghiệp kém phát triển. Kinh tế chủ yếu dựa vào trồng trọt (cà phê, ngô, đậu, lúa miến, chè, bông vải, dầu cọ) và chăn nuôi (dê, cừu, bò). Khoảng 90% dân số sống nhờ vào nông nghiệp. Các mặt hàng xuất khẩu gồm cà phê, chè và chuối. Kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu cà phê (chiếm đến 80% ngoại tệ thu được) Vì vậy khả năng thanh toán hàng hóa nhập khẩu không ổn định, tùy vào thị trường cà phê thế giới. Từ tháng 10 năm 1993, đất nước này trải qua những cuộc bạo động, xung đột lớn về sắc tộc làm khoảng 250.000 người chết và 800.000 người mất nhà cửa. Thực phẩm, thuốc men, điện nước không đủ đáp ứng.
- Tài nguyên thiên nhiên có kim cương, vàng, nikel, uranium, platinum, wolfram...
- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 33,3%, Công nghiệp 21%, Dịch vụ 45,8%
- Mặt hàng xuất khẩu: chủ yếu là cà phê, chè, bông và đường.
- Mặt hàng nhập khẩu: gạo, vải vóc, xăng dầu, thực phẩm.
- Bạn hàng nhập khẩu: Ả Rập Xê Út, Kenya, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga.
- Bạn hàng xuất khẩu: Thụy Sĩ, EU, Pakistan, Rwanda, Ai Cập.
- Burundi hiện là thành viên các tổ chức kinh tế IMF, WTO, COMESA.
GDP: 1,469 tỉ USD (2010)
GDP bình quân đầu người: 131 USD (2010)
Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 3,9% (2010)
Dân số
Dân số Burundi hiện nay khoảng 10.216.190 (2010). Dân số Burundi chủ yếu sống ở nông thôn, trong khi 11% dân số sống ở khu vực đô thị vào năm 2010. Mật độ dân số khoảng 315 người trên mỗi km vuông, là nước có mật độ dân số cao thứ hai trong tiểu vùng Sahara. Khoảng 85% dân số là người Hutu, 15% là người Tutsi, và ít hơn 1% là người Pygmy. Burundi có mức sinh cao thứ năm trên thế giới, tại 6,08 con sinh ra / người phụ nữ (2012 ước tính).
Tôn giáo
tỷ lệ
Công giáo Roma
65%
Tin Lành
26%
Tín ngưỡng
5%
Hồi giáo
3%
Khác
1%
Vô thần
1%
Ước tính Kitô giáo chiếm 75% dân sô trong đó Công giáo La Mã là nhóm lớn nhất chiếm 60%. Tin Lành và Anh giáo chiếm 15% còn lại. Ước tính có khoảng 20% ​​dân số tuân thủ các niềm tin tôn giáo bản địa truyền thống. Dân số Hồi giáo được ước tính ở mức 5%, đa số sống ở các vùng đô thị. Người Sunni chiếm đa số dân số Hồi giáo, còn lại là Shi'a.
31719