Thứ Năm, 29 tháng 9, 2022

 DI SẢN THẾ GIỚI (661)

Arles
Hành chính
Quốc gia Quốc kỳ Pháp Pháp
Vùng Provence-Alpes-Côte d'Azur
Tỉnh Bouches-du-Rhône
Quận Arles
Tổng Thủ phủ của 2 tổng: Arles-Est và Arles-Ouest
Liên xã Cộng đồng Arles-Crau-Camargue-Montagnette
Xã (thị) trưởng Hervé Schiavetti (PCF)
(2008–2014)
Thống kê
Độ cao 0–57 m (0–187 ft)
(bình quân 10 m (33 ft)
Diện tích đất1 758,93 km2 (293,02 dặm vuông Anh)
INSEE/Mã bưu chính 13004/ 13200
Các công trình kiến trúc thời La Mã ở Arles
Di sản thế giới của UNESCO
France Arles Place Republique.JPG
Thông tin khái quát
Quốc gia Pháp
Kiểu Văn hóa
Tiêu chuẩn ii, iv
Tham khảo 164
Vùng UNESCO châu Âu và Bắc Mỹ
Công nhận 1981 (kỳ họp thứ 5)
Arles (Ác Là, tiếng Occitan Provençal: Arle [ˈaʀle]) là một thành phố thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône và vùng Provence-Alpes-Côte d'Azur của Pháp. Với lịch sử hơn 2.500 năm, đây là một trong những thành phố cổ nổi tiếng của Pháp và đã được UNESCO xếp hạng là Di sản thế giới vào năm 1981 nhờ các công trình cổ được xây dựng từ thời La Mã vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Lịch sử
Thương điếm Oppidum Celto-Ligure, tên ban đầu của Arles là một địa điểm thường được các thương nhân vùng Địa Trung Hải ghé thăm. Cùng với sự hình thành của Marseille (khoảng 600 TCN), thương điếm Oppidum cũng được phát triển thành một trại dân cư lấy tên là Théliné. Năm 46 TCN, Julius Caesar biến Arles thành một thuộc địa của đế quốc La Mã và bắt đầu quá trình phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng với rất nhiều công trình kiến trúc kiểu La Mã. Từ năm 536, Arles trở lại là một thành phố của người franc.
Di sản
Arles hiện nay còn lưu giữ được rất nhiều công trình kiến trúc có từ thời La Mã và Trung Cổ. Các công trình chính trong số này là:
Forum d'Arles (quảng trường chính): Được xây dựng khoảng năm 30 TCN dưới lần quy hoạch đô thị lần thứ nhất của người La Mã.
Théâtre antique (nhà hát La Mã): Được xây dựng vào cuối thế kỉ 1 TCN ngay sau khi Arles trở thành thuộc địa của đế chế La Mã. Những cuộc khảo cổ vào năm 1651 đã tìm thấy ở đây bức tượng nổi tiếng "Vénus d'Arles" (Thần Vệ Nữ Arles, hiện trưng bày tại Louvre).
Arène (đấu trường): Được xây dựng theo kiến trúc của các đấu trường La Mã vào khoảng năm 80, tức là ngay sau đấu trường La Mã nổi tiếng Colosseum ở Roma. Hiện nay nơi đây vẫn được sử dụng để tổ chức các cuộc biểu diễn đấu bò tót.
Cirque (rạp xiếc): Công trình La Mã lớn nhất của thành phố, được khánh thành năm 149.
Alyscamps (khu lăng mộ): Được xây dựng từ thời La Mã và được sử dụng đến hết thời Trung Cổ
Thermes de Constantin (nhà tắm công cộng): Được xây dựng từ thế kỉ 4 trên bờ sông Rhône.
Nhà thờ Saint-Trophime: Được xây dựng từ thế kỉ 12 trên nền của một nhà thờ xây từ thế kỉ 5.
Ngoài ra vào cuối thế kỉ 19, Arles còn là nơi sống và sáng tác của họa sĩ nổi tiếng Vincent Van Gogh. Van Gogh đã có rất nhiều bức tranh vẽ lại phong cảnh của Arles.
30922-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Kỷ lục thế giới (181)

Cụ ông cao tuổi nhất thế giới được Guinness ghi nhận là cụ Saturnino de la Fuente Garcia, người Tây Ban Nha. Cụ qua đời hồi tháng 1/2022, chỉ 1 tháng trước khi bước sang tuổi 113.
30922-st

 Giải Nobel (154)

(1/ Đức 37, 2/ Hà Lan 9, 3/ Pháp 23, 4/ Thụy Sĩ 8; 5/ Anh 23; 6/ Thụy Điển 12; 7/ Đan Mạch 7; 8/ Na Uy 5; 9/ Scotland 2; 10/ Nga 2; 11/ Tây Ban Nha 3, 12/ Hung Ga Ry 4. 13/ Ba Lan 4, 14/ Áo 9, 15/ Ý 6, 16/ Mỹ 22; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 1; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 1; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 1; 26/ Arhentina 1;
Pearl S. Buck
Sinh 26 tháng 6 năm 1892
Virginia, Hoa Kỳ
Mất 6 tháng 3, 1973 (80 tuổi)
Danby, Vermont, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp Nhà văn
Quốc tịch Mỹ
Chủ đề Trung Quốc
Pearl Sydenstricker Buck (tên khai sinh: Pearl Comfort Sydenstricker; tên khác Trại Chân Châu tiếng Trung: 赛珍珠; 26 tháng 5 năm 1892 – 6 tháng 3 năm 1973) là nữ nhà văn Mỹ đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu (quyển The Good Earth) năm 1932 và giải Nobel Văn học năm 1938.
Tiểu sử
Pearl Buck sinh ở Hillsboro, West Virginia, là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc. Năm 15 tuổi, bà được gửi trọ học tại một trường dạy Anh văn ở Thượng Hải. Năm 17 tuổi, cha mẹ cho Pearl Buck về Mỹ, học tại trường Đại học Randolph Macon (tiểu bang Virginia). Năm 1917 bà kết hôn với một mục sư và theo chồng đi truyền giáo tại miền Bắc Trung Hoa. Từ năm 1922, bà dạy ở Đại học Nam Kinh và Kim Lăng.
Năm 1925, Pearl Buck bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên East Wind:West Wind (Gió Đông, gió Tây). Sau đó hàng loạt tiểu thuyết nổi tiếng khác về đề tài Trung Quốc ra đời, như The Good Earth (Đất lành), Sons (Những người con trai), A House Divided (Một nhà chia rẽ), The Mother (Người mẹ), The Child Who Never Grew (Đứa trẻ không bao giờ lớn)... trong đó tiểu thuyết The Good Earth được nhận giải Pulitzer năm 1931. Năm 1933, bà được Đại học Yale tặng bằng Cử nhân Văn chương Danh dự. Năm 1938, bà được Đại học West Virginia và Đại học St. Lawrence trao tặng bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực. Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Pearl Buck viết nhiều sách báo chính luận chống chủ nghĩa phát xít. Trong thập niên 1950, bà xuất bản một số tác phẩm về đề tài gia đình và xã hội Mỹ, ký bút danh I. Sedge. Năm 1951, Pearl Buck được bầu làm thành viên Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ. Năm 1955, bà li dị chồng và tái giá với giám đốc một hãng quảng cáo. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đô la. Bà mất năm 1973 tại Danby, Vermont (Mỹ).
Tác phẩm
East Wind:West Wind (Gió Đông, gió Tây, 1930), tiểu thuyết
The Good Earth (Đất lành, 1931), tiểu thuyết
Sons (Những người con trai, 1932), tiểu thuyết
The First Wife and Other Stories (Vợ cả và những câu chuyện khác, 1933), tiểu thuyết
All Men Are Brothers (Mọi người là anh em, 1933), bản dịch tiểu thuyết Thủy Hử
The Mother (Người mẹ, 1934), tiểu thuyết
A House Divided (Một nhà chia rẽ, 1935), tiểu thuyết
A Home of Earth (Nhà tranh vách đất, 1935), tiểu thuyết
The Exile (Lưu đày, 1936), tự truyện
Fighting Angel (Thiên thần chiến đấu, 1936), tự truyện
This Proud Heart (Trái tim kiêu hãnh, 1938), tiểu thuyết
Flight into China (Bay vào Trung Hoa, 1939), kịch
The Patriot (Người yêu nước, 1939), tiểu thuyết
Other Gods (Những thần minh khác, 1940), tiểu thuyết
Dragon Seed (Hạt giống của rồng, 1942), tiểu thuyết
The Spirit and The Flesh (Tinh thần và thể xác, 1944), tự truyện
The Dragon Fish (Cá hóa rồng, 1944), tiểu thuyết
Portrait of a Marriage (Chân dung một cuộc hôn nhân, 1945), tiểu thuyết
Talk about Russia (Câu chuyện về nước Nga, 1945), tiểu luận
Pavilion of Women (Gian riêng của phụ nữ, 1946), tiểu thuyết
Poeny (Mẫu đơn, 1948), tiểu thuyết
Kinsfolk (Tình ruột thịt, 1949), tiểu thuyết
The Angry Wife (Người vợ giận dữ, 1949), tiểu thuyết
The Child Who Never Grew (Đứa trẻ không bao giờ lớn, 1950), tiểu thuyết
The Hidden Flower (Cánh hoa e ấp, 1952), tiểu thuyết
My serveral worlds (Thế giới của riêng tôi, 1954), tự truyện
Imperial Woman (Người cung nữ, 1956), tiểu thuyết
Letter from Peking (Lá thư từ Bắc Kinh, 1957), tiểu thuyết
Voices in the House (Tiếng nói trong nhà, 1958), tiểu thuyết
The Townsman (Người thành phố, dưới tên John Sedges, 1958), tiểu thuyết
The Long Love (Tình yêu lâu dài, 1958), tiểu thuyết
A Desert Incident (Một sự kiện ở sa mạc, 1959), kịch
Command the Morning (Ra lệnh cho buổi sáng, 1959), tiểu luận
Santan Never Sleeps (Satan không bao giờ ngủ, 1962), truyện phim
Fairy Tales of the Orient (Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên, 1965), truyện thiếu nhi
Time is now (Bây giờ là thời điểm, 1967), tiểu thuyết
The New Year (Năm mới, 1968), tiểu thuyết
The Three Daughters of Madame Liang (Ba người con gái của Lương phu nhân, 1969), tiểu thuyết
The Promise (Hứa hẹn, 1943), tiểu thuyết
Water Buffalo Children (Mục đồng, 1943), truyện thiếu nhi
One Bright Day (Một ngày đẹp trời, 1950), truyện thiếu nhi
The Christmas Ghost (Con ma đêm Noel, 1966), truyện thiếu nhi
The Kennedy Women (Những người đàn bà trong gia đình Kennedy, 1970)
The Story Bible (Chuyện Kinh Thánh, 1971)
30922-st
Có thể là hình ảnh về 1 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Ở nm Ba Son.

Có thể là hình ảnh về 8 người và mọi người đang đứng
Tri Dung Phan

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

 Giải Nobel (153)

(1/ Đức 37, 2/ Hà Lan 9, 3/ Pháp 23, 4/ Thụy Sĩ 8; 5/ Anh 23; 6/ Thụy Điển 12; 7/ Đan Mạch 7; 8/ Na Uy 5; 9/ Scotland 2; 10/ Nga 2; 11/ Tây Ban Nha 3, 12/ Hung Ga Ry 4. 13/ Ba Lan 4, 14/ Áo 9, 15/ Ý 6, 16/ Mỹ 21; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 1; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 1; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 1; 26/ Arhentina 1;
Corneille Heymans
Sinh 28 tháng 3 năm 1892
Ghent, Flanders, Bỉ
Mất 18 tháng 7 năm 1968 (76 tuổi)
Knokke, Flanders
Quốc tịch Bỉ
Trường lớp Đại học Ghent
Nổi tiếng vì Vascular Presso- and Chemo-Receptors in Respiratory Control (blood pressure)
Giải thưởng giải Nobel Sinh lý và Y khoa (1938)
Sự nghiệp khoa học
Ngành Sinh lý học
Nơi công tác Đại học Ghent
Các nghiên cứu sinh nổi tiếng Paul Janssen
Corneille Heymans tên đầy đủ là Corneille Jean François Heymans (28.3.1892, Ghent, Flanders – 18.7.1968, Knokke, Flanders) là một nhà sinh lý học người Bỉ, đã đoạt giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1938 cho công trình nghiên cứu chỉ ra cho biết cách mà huyết áp và dung lượng oxy của máu được cơ thể đo lường và truyền lên não như thế nào.
Ông theo học trường Jesuit College of Sainte Barbe danh tiếng, sau đó học ở Đại học Ghent. Ông kế thừa người cha - Jean-François Heymans – làm giáo sư khoa dược lý học tại Đại học Ghent.
Heymans kết hôn với Berthe May - một bác sĩ nhãn khoa – năm 1929. Họ có bốn người con. Ông từ trần ngày 18.7.1968 ở Knokke do một cơn đột quị.
Giải thưởng & Vinh dự
Hố Heymans trên Mặt Trăng được đặt theo tên ông
giải Nobel Sinh lý và Y khoa (1938)
29922-st
Có thể là hình ảnh đen trắng về 1 người
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 Thuyết Big Bang sai? Vũ trụ không có chuyện giãn nở?

 Ukraine vừa bắt 2 tên thiếu tướng Nga.

 Ở nhà máy Ba Son.

Có thể là hình ảnh về 11 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
Hanh Nguyen, Hung Chu và 6 người khác
2 bình luận
Thích
Bình luận
Chia sẻ