Afghanistan (9)
Cộng hoà Hồi giáo Afghanistan
د افغانستان اسلامي جمهوریت (ngôn ngữ?)
Da Afġānistān Islāmī Jumhoryat
جمهوری اسلامی افغانستان (ngôn ngữ?)
Jomhūrīyyeh Eslāmīyyeh Afġānestān
Flag of Afghanistan.svg National emblem of Afghanistan.svg
Da Afġānistān Islāmī Jumhoryat
جمهوری اسلامی افغانستان (ngôn ngữ?)
Jomhūrīyyeh Eslāmīyyeh Afġānestān
Flag of Afghanistan.svg National emblem of Afghanistan.svg
Tiêu ngữ
لا إله إلا الله، محمد رسول الله
"Lā ʾilāha ʾillā llāh, Muhammadun rasūlu llāh"
"Không có thánh thần ngoài Thượng đế, Muhammad là sứ giả của Thượng đế. (Shahada)
Quốc ca
Millī Surūd
ملي سرود
Chính phủ Cộng hoà Hồi giáo tổng thống chế
Tổng thống Ashraf Ghani
Điều hành cấp cao Abdullah Abdullah
Lập pháp Quốc hội:
Viện trưởng lão
Viện Nhân dân
Thủ đô Kabul
Thành phố lớn nhất Kabul
Địa lý
Diện tích 652.864 km² (hạng 40)
Múi giờ GMT +4.30 (UTC+4:30); mùa hè: UTC+4:30
Lịch sử
Độc lập
tháng 4 năm 1709 Nhà nước Afghan đầu tiên
1823 Tiểu vương quốc
19 tháng 8 năm 1919 Công nhận
9 tháng 6 năm 1926 Vương quốc
17 tháng 7 năm 1973 Bãi bỏ chế độ quân chủ
30 tháng 4 năm 1978 Xã hội chủ nghĩa
24 tháng 4 năm 1992 Nhà nước Hồi giáo
27 tháng 9 năm 1996
7 tháng 10 năm 2001 Taliban cai trị
لا إله إلا الله، محمد رسول الله
"Lā ʾilāha ʾillā llāh, Muhammadun rasūlu llāh"
"Không có thánh thần ngoài Thượng đế, Muhammad là sứ giả của Thượng đế. (Shahada)
Quốc ca
Millī Surūd
ملي سرود
Chính phủ Cộng hoà Hồi giáo tổng thống chế
Tổng thống Ashraf Ghani
Điều hành cấp cao Abdullah Abdullah
Lập pháp Quốc hội:
Viện trưởng lão
Viện Nhân dân
Thủ đô Kabul
Thành phố lớn nhất Kabul
Địa lý
Diện tích 652.864 km² (hạng 40)
Múi giờ GMT +4.30 (UTC+4:30); mùa hè: UTC+4:30
Lịch sử
Độc lập
tháng 4 năm 1709 Nhà nước Afghan đầu tiên
1823 Tiểu vương quốc
19 tháng 8 năm 1919 Công nhận
9 tháng 6 năm 1926 Vương quốc
17 tháng 7 năm 1973 Bãi bỏ chế độ quân chủ
30 tháng 4 năm 1978 Xã hội chủ nghĩa
24 tháng 4 năm 1992 Nhà nước Hồi giáo
27 tháng 9 năm 1996
7 tháng 10 năm 2001 Taliban cai trị
Ngôn ngữ chính thức tiếng Pashtun, tiếng Dari
Tôn giáo Hồi giáo
Dân số ước lượng (2016) 34.656.032 người (hạng 40)
Dân số 34,66 triệu (2016) người
Mật độ 50 người/km² (hạng 150)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 65,295 tỉ USD
Bình quân đầu người: 2,023 USD
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 21,056 tỉ USD
Bình quân đầu người: 572 USD
HDI (2014) 0,479 thấp (hạng 171)
Đơn vị tiền tệ Afghani (AFN)
Thông tin khác
Tên miền Internet .af
Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan (phiên âm tiếng Việt: Áp-ga-ni-xtan; tiếng Pashto: د افغانستان اسلامي جمهوریت Da Afġānistān Islāmī jomhoriyat; tiếng Dari: جمهوری اسلامی افغانستان jomhoriye-e Eslāmī-ye Afġānistān; Hán-Việt: "A Phú Hãn") là một quốc gia nằm giữa lục địa châu Á, có tên cũ là Nhà nước Hồi giáo Afghanistan (د افغانستان اسلامي دول Da Afghanistan Islami Dawlat). Tùy theo trường hợp nước này có thể bị coi là thuộc Trung và/hay Nam Á cũng như Trung Đông. Về mặt tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc và địa lý nước này có quan hệ với hầu hết các quốc gia láng giềng. Afghanistan có đường biên giới dài với Pakistan ở phía nam và phía đông, Iran ở phía tây, Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan ở phía bắc, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở khu vực viễn đông bắc. Cái tên Afghanistan có nghĩa "Vùng đất của người Afghan".
Tôn giáo Hồi giáo
Dân số ước lượng (2016) 34.656.032 người (hạng 40)
Dân số 34,66 triệu (2016) người
Mật độ 50 người/km² (hạng 150)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 65,295 tỉ USD
Bình quân đầu người: 2,023 USD
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 21,056 tỉ USD
Bình quân đầu người: 572 USD
HDI (2014) 0,479 thấp (hạng 171)
Đơn vị tiền tệ Afghani (AFN)
Thông tin khác
Tên miền Internet .af
Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan (phiên âm tiếng Việt: Áp-ga-ni-xtan; tiếng Pashto: د افغانستان اسلامي جمهوریت Da Afġānistān Islāmī jomhoriyat; tiếng Dari: جمهوری اسلامی افغانستان jomhoriye-e Eslāmī-ye Afġānistān; Hán-Việt: "A Phú Hãn") là một quốc gia nằm giữa lục địa châu Á, có tên cũ là Nhà nước Hồi giáo Afghanistan (د افغانستان اسلامي دول Da Afghanistan Islami Dawlat). Tùy theo trường hợp nước này có thể bị coi là thuộc Trung và/hay Nam Á cũng như Trung Đông. Về mặt tôn giáo, ngôn ngữ, dân tộc và địa lý nước này có quan hệ với hầu hết các quốc gia láng giềng. Afghanistan có đường biên giới dài với Pakistan ở phía nam và phía đông, Iran ở phía tây, Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan ở phía bắc, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở khu vực viễn đông bắc. Cái tên Afghanistan có nghĩa "Vùng đất của người Afghan".
Afghanistan bao gồm nhiều nhóm sắc tộc, và nằm ở ngã tư đường giữa Đông và Tây. Nước này từng là một trung tâm thương mại và di cư cổ đại. Vùng này cũng đã trải qua nhiều lần bị xâm lược và chinh phục, gồm cả từ Đế quốc Ba Tư, Alexandros Đại đế, người Ả Rập Hồi giáo, các dân tộc người Turk và những người du mục Mông Cổ, Đế quốc Anh, Liên bang Xô Viết và cả Hoa Kỳ.
Ahmad Shah Durrani đã tạo lập đất nước Afghanistan ở giữa thế kỷ XVIII với tư cách một quốc gia lớn, có thủ đô tại Kandahar. Sau đó, đa phần lãnh thổ quốc gia đã bị nhượng lại cho các quốc gia xung quanh ở đầu thế kỷ XX, sau những cuộc xung đột khu vực. Ngày 19 tháng 8 năm 1919, sau cuộc chiến tranh Anh-Afghan lần thứ ba, đất nước này đã giành lại độc lập hoàn toàn từ Anh Quốc về đối ngoại.
Từ năm 1978, Afghanistan đã phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài và đẫm máu, với sự can thiệp từ nước ngoài dưới hình thức Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan và cuộc xung đột năm 2001 với Hoa Kỳ trong đó chính phủ Taliban cầm quyền đã bị lật đổ. Tháng 12 năm 2001, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc đã cho phép thành lập một Lực lượng Hỗ trợ An ninh quốc tế (ISAF). Lực lượng này, gồm binh lính NATO, đã hỗ trợ chính phủ của Tổng thống Hamid Karzai trong việc thiết lập an ninh trên toàn quốc. Năm 2005, Hoa Kỳ và Afghanistan đã ký kết một thoả thuận đối tác chiến lược cam kết mối quan hệ lâu dài giữa hai quốc gia. Cùng lúc ấy, khoảng 30 tỷ dollar Mỹ cũng đã được cộng đồng quốc tế rót vào cho việc tái thiết đất nước.
Cái tên Afghānistān dịch thành "Vùng đất của người Afghan". Tên ngày này xuất phát từ từ Afghan.
Nguồn gốc từ "Afghan"
Người Pashtuns đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ Afghan là tên gọi họ ít nhất từ thời kỳ Hồi giáo trở về sau. Theo W. K. Frazier Tyler, M. C. Gillet và nhiều học giả khác, "Từ Afghan lần đầu xuất hiện trong lịch sử ở thời Hudud-al-Alam năm 982. Bách khoa toàn thư Iran giải thích:
Người Pashtuns đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ Afghan là tên gọi họ ít nhất từ thời kỳ Hồi giáo trở về sau. Theo W. K. Frazier Tyler, M. C. Gillet và nhiều học giả khác, "Từ Afghan lần đầu xuất hiện trong lịch sử ở thời Hudud-al-Alam năm 982. Bách khoa toàn thư Iran giải thích:
"Từ một quan điểm sắc tộc và có tính hạn chế hơn, 'Afghān' là thuật ngữ những người Afghanistan nói tiếng Ba Tư (và nói chung những nhóm sắc tốc không sử dụng tiếng Paštō) chỉ người Paštūn. Sự cân bằng [của] Afghan [và] Paštūn đã được phổ biến rộng rãi cả bên trong và bên ngoài Afghanistan, bởi liên minh bộ tộc Paštūn chiếm ưu thế áp đảo trong nước, cả về dân số và chính trị."
Từ điển giải thích thêm:
Từ điển giải thích thêm:
"Thuật ngữ 'Afghān' có lẽ đã được dùng để chỉ người Paštūn từ những thời cổ đại. Dưới hình thức Avagānā, nhóm sắc tộc này lần đầu tiên đã được nhà thiên văn học Ấn Độ Varāha Mihira đề cập ở đầu thế kỷ thứ VI trong tác phẩm Brihat-samhita của ông."
Bằng chứng trong văn học Pashto truyền thống ủng hộ lý thuyết này, ví dụ trong những văn bản thế kỷ XVII nhà thơ Pashto Khushal Khan Khattak đã viết:
Bằng chứng trong văn học Pashto truyền thống ủng hộ lý thuyết này, ví dụ trong những văn bản thế kỷ XVII nhà thơ Pashto Khushal Khan Khattak đã viết:
"Rút kiếm ra và giết chết bất kỳ kẻ nào, kẻ nói Pashtun và Afghan không phải là một! người Ả Rập biết điều này và người Roma cũng thế: người Afghan là người Pashtun, người Pashtun là người Afghan!"
Ý nghĩa và nguồn gốc cái tên "Afghanistan"
Phần cuối của cái tên, -stān, là một hậu tố Ấn-Iran với nghĩa "địa điểm", nó rất thường xuất hiện trong các ngôn ngữ trong vùng.
Ý nghĩa và nguồn gốc cái tên "Afghanistan"
Phần cuối của cái tên, -stān, là một hậu tố Ấn-Iran với nghĩa "địa điểm", nó rất thường xuất hiện trong các ngôn ngữ trong vùng.
Thuật ngữ "Afghanistan", nghĩa "Vùng đất của người Afghan", từng được Babur, Hoàng đế Môgôn, đề cập tới ở thế kỷ XVI trong cuốn hồi ký của ông, để gọi những vùng lãnh thổ phía nam Kabul nơi người Pashtun sinh sống (được gọi là "Afghans" bởi người Babur). Về quốc gia "Afghanistan" hiện đại, Bách khoa toàn thư Hồi giáo đã viết:
"Afghānistān đã mang tên này từ giữa thế kỷ XVIII, khi quyền ưu của tộc người Afghan (Pashtun) bắt đầu được khẳng định: trước đó các tỉnh có tên gọi khác nhau, nhưng đất nước không phải là một đơn vị chính trị xác định, và các thành phần của nó không liên kết với nhau bởi sự đồng nhất chủng tộc hay ngôn ngữ. Trước kia từ này chỉ đơn giản có nghĩa 'vùng đất của người Afghan', một vùng lãnh thổ hạn chế không bao gồm nhiều phần hiện nay của quốc gia nhưng thực sự có bao gồm các vùng lãnh thổ hiện đã độc lập hay đang ở trong lãnh thổ Pakistan."
Cho tới thế kỷ XIX, cái tên này chỉ được sử dụng cho vùng đất truyền thống của người Pashtun, trong khi thực thể gồm cả vương quốc được gọi là Vương quốc Kabul, như đã được nhà sử học Anh Mountstuart Elphinstone nói tới. Những vùng khác của đất nước trong một số giai đoạn được thừa nhận như những vương quốc độc lập, như Vương quốc Balkh ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.
Cho tới thế kỷ XIX, cái tên này chỉ được sử dụng cho vùng đất truyền thống của người Pashtun, trong khi thực thể gồm cả vương quốc được gọi là Vương quốc Kabul, như đã được nhà sử học Anh Mountstuart Elphinstone nói tới. Những vùng khác của đất nước trong một số giai đoạn được thừa nhận như những vương quốc độc lập, như Vương quốc Balkh ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.
Với sự mở rộng và tập trung hóa của quốc gia, chính quyền Afghan đã chấp nhận và mở rộng cái tên "Afghanistan" cho toàn bộ vương quốc, sau khi cái tên dịch sang tiếng Anh của nó, "Afghanland", đã xuất hiện trong nhiều hiệp ước giữa British Raj và Triều đại Qajar Ba Tư, để chỉ những vùng đất phụ thuộc Triều đại Barakzai của người Pashtun tại Kabul. "Afghanistan" trở thành cái tên phổ biến chỉ toàn bộ vương quốc được công chúng phương Tây biết đến năm 1857 bởi Friedrich Engels khi ông viết về vương quốc này trong New American Cyclopædia. Nó đã trở thành tên chính thức khi nước này được cộng đồng quốc tế công nhận năm 1919, sau khi giành lại độc lập hoàn toàn từ người Anh và được tái xác nhận trong bản hiến pháp đất nước năm 1923.
Địa lý
Địa hình
Afghanistan là một nước nhiều đồi núi nằm kín trong lục địa tại vùng Trung Á, với các đồng bằng ở phía bắc và phía tây nam. Điểm cao nhất là Nowshak, độ cao 7.485 m (24.557 ft) trên mực nước biển. Phần lớn lãnh thổ có khí hậu khô và nguồn nước ngọt rất hạn chế. Afghanistan có khí hậu lục địa, với mùa hè nóng và mùa đông lạnh. Tại đất nước này thường xảy ra những trận động đất nhỏ, chủ yếu ở những vùng núi phía đông bắc Hindu Kush.
Địa hình
Afghanistan là một nước nhiều đồi núi nằm kín trong lục địa tại vùng Trung Á, với các đồng bằng ở phía bắc và phía tây nam. Điểm cao nhất là Nowshak, độ cao 7.485 m (24.557 ft) trên mực nước biển. Phần lớn lãnh thổ có khí hậu khô và nguồn nước ngọt rất hạn chế. Afghanistan có khí hậu lục địa, với mùa hè nóng và mùa đông lạnh. Tại đất nước này thường xảy ra những trận động đất nhỏ, chủ yếu ở những vùng núi phía đông bắc Hindu Kush.
Với diện tích 647.500 km² (249.984 mi²), Afghanistan là nước lớn thứ 41 trên thế giới (sau Myanma). Nước này hơi nhỏ hơn tiểu bang Texas của Hoa Kỳ.
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia gồm vàng, bạc, đồng, kẽm, liti, urani, và quặng sắt ở những vùng đông nam; đá quý và bán quý như lapis, ngọc lục bảo và azure ở vùng đông bắc; và tiềm năng dầu mỏ cùng khí gas khá lớn ở phía bắc. Đất nước này cũng có than, cromit, đá tan, barit, sulfur, chì, và muối. Tuy nhiên, những nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng khá quan trọng đó phần lớn vẫn chưa được khai thác vì những ảnh hưởng của cuộc xâm lược Xô viết và cuộc nội chiến sau đó. Những kế hoạch hiện đang được triển khai nhằm khai thác chúng trong tương lai.
Lịch sử
Tiền sử
Việc khai quật những địa điểm tiền sử của Louis Dupree, Đại học Pennsylvania, Viện Smithsonian và những tổ chức khác cho thấy, con người đã sống tại nơi hiện là Afghanistan từ ít nhất 50.000 năm trước, và các cộng đồng biết canh tác trong vùng là một trong số những cộng đồng xuất hiện sớm nhất trên thế giới.
Tiền sử
Việc khai quật những địa điểm tiền sử của Louis Dupree, Đại học Pennsylvania, Viện Smithsonian và những tổ chức khác cho thấy, con người đã sống tại nơi hiện là Afghanistan từ ít nhất 50.000 năm trước, và các cộng đồng biết canh tác trong vùng là một trong số những cộng đồng xuất hiện sớm nhất trên thế giới.
Cổ đại
Afghanistan là đất nước ngã tư đường nơi nhiều nền văn minh Ấn-Âu đã tương tác và thường xung đột với nhau, và đây cũng là một vị trí quan trọng của hoạt động thời cổ. Qua các giai đoạn, vùng này đã trở thành nơi sinh sống của nhiều sắc tộc, trong số đó có người Aryan (các bộ tộc người Ấn-Iran), như Kambojas, Bactria, Ba Tư, vân vân.
Afghanistan là đất nước ngã tư đường nơi nhiều nền văn minh Ấn-Âu đã tương tác và thường xung đột với nhau, và đây cũng là một vị trí quan trọng của hoạt động thời cổ. Qua các giai đoạn, vùng này đã trở thành nơi sinh sống của nhiều sắc tộc, trong số đó có người Aryan (các bộ tộc người Ấn-Iran), như Kambojas, Bactria, Ba Tư, vân vân.
Nước này cũng đã bị xâm lược hay chinh phục bởi nhiều dân tộc khác, gồm các đế quốc Media Ba Tư, Hy Lạp, người Kushan, người Hepthalite, người Ả Rập, người Thổ Nhĩ Kỳ, người Mông Cổ, Anh Quốc, Liên bang Xô Viết, và gần đây nhất là Hoa Kỳ và các đồng minh của họ. Mặt khác, những thực thể xuất hiện tại đây cũng đã xâm lược hay chinh phục các vùng xung quanh tại Cao nguyên Iran và Tiểu lục địa Ấn Độ để thành lập lên các đế chế của riêng họ.
Vùng hiện nay là Afghanistan trong đa phần lịch sử của mình từng là một phần của nhiều triều đại Ba Tư, như Đế quốc Achaemenid (559–330 trước Công Nguyên)
Khoảng giữa năm 2000 và 1200 trước Công Nguyên, những làn sóng người Aryan nói tiếng Ấn-Âu từ phía bắc sông Amu Darya được cho là đã tràn xuống các vùng phía bắc Afghanistan và sau đó mở rộng về phía nam về hướng Ấn Độ và phía đông tới Ba Tư, lập lên một quốc gia trong thời kỳ cai trị của người Medes và người Ba Tư Achaemenid và được biết đến với cái tên Aryānām Xšaθra hay Airyānem Vāejah. Sau này, dưới thời cầm quyền của đế quốc Ashkanian (Parthia), đế quốc Sassanid và sau đó được gọi là Erānshahr (Ba Tư: ايرانشهر - Īrānšahr) có nghĩa "Lãnh địa của người Aryan", gồm cả nhiều phần tại Lưỡng Hà, Kavkaz, Armenia, Azerbaijan, Iran và Trung Á hiện nay (Afghanistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, phần phía tây của Pakistan, vân vân, phụ thuộc vào những cách định nghĩa khác nhau).
Khoảng giữa năm 2000 và 1200 trước Công Nguyên, những làn sóng người Aryan nói tiếng Ấn-Âu từ phía bắc sông Amu Darya được cho là đã tràn xuống các vùng phía bắc Afghanistan và sau đó mở rộng về phía nam về hướng Ấn Độ và phía đông tới Ba Tư, lập lên một quốc gia trong thời kỳ cai trị của người Medes và người Ba Tư Achaemenid và được biết đến với cái tên Aryānām Xšaθra hay Airyānem Vāejah. Sau này, dưới thời cầm quyền của đế quốc Ashkanian (Parthia), đế quốc Sassanid và sau đó được gọi là Erānshahr (Ba Tư: ايرانشهر - Īrānšahr) có nghĩa "Lãnh địa của người Aryan", gồm cả nhiều phần tại Lưỡng Hà, Kavkaz, Armenia, Azerbaijan, Iran và Trung Á hiện nay (Afghanistan, Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, phần phía tây của Pakistan, vân vân, phụ thuộc vào những cách định nghĩa khác nhau).
Có suy xét cho rằng Bái hỏa giáo (đạo thờ lửa) đã bắt nguồn từ Afghanistan hiện nay trong khoảng năm 1800 tới 800 trước Công Nguyên[cần dẫn nguồn]. Các ngôn ngữ Đông Iran, như tiếng Avesta, có thể đã được sử dụng tại vùng này trong khoảng thời gian tương đương với sự xuất hiện của Bái hỏa giáo. Tới giữa thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, Đế chế Ba Tư của nhà Achaemenid đã chiếm chỗ Đế chế Media và gồm cả cái hiện gọi là Ba Tư của người Hy Lạp vào trong các biên giới của nó; và tới năm 330 trước Công Nguyên, Alexandros Đại đế đã xâm chiếm Afghanistan và chinh phục những vùng xung quanh. Sau một thời gian ngắn dưới sự cai trị của Alexandros, các quốc gia hậu thân của nền văn minh Hy Lạp cổ như Seleucid và Hy-Bactria đã chinh phục vùng này, trong khi nhà Maurya từ Ấn Độ đã sáp nhập vùng đông bắc trong một thời gian và du nhập Phật giáo vào đây cho tới khi vùng này lại quay trở lại thuộc quyền kiểm soát của người Bactria.
Trong thế kỷ thứ nhất, người Kushan đã lập ra một đế chế to với trung tâm ở nước Afghanistan ngày nay và bảo hộ Phật giáo. Người Kushan đã bị người Sassanid đánh bại ở thế kỷ thứ III. Dù nhiều vị vua cai trị tự gọi mình là người Kushan (và nói chung được gọi là người Kushano-Sassanian) tiếp tục cai trị ít nhất nhiều phần vùng ngày nay thuộc Afghanistan, có lẽ họ ít nhiều phụ thuộc người Sassanid. Tiếp sau người Kushan là người Hun Kidarite và tới lượt họ cũng bị thay thế trong bởi một triều đại ngắn ngủi nhưng đã đạt tới đỉnh cao quyền lực của người Hephthalite, ở nửa đầu thế kỷ thứ V. Người Hephthalite bị vị vua Khosrau I nhà Sasanid đánh bại năm 557, ông đã tái lập quyền lực của người Sasanid tại Ba Tư. Tuy nhiên, những người kế vị người Kushan và Hepthalite đã lập lên một triều đình nhỏ tại Kabulistan được gọi là Kushan-Hephthalite hay Kabul-Shahan và sau này triều đình đó đã bị đánh bại bởi các đội quân Hồi giáo.
Trung đại
Từ thời Trung Cổ, cho tới thế kỷ XVIII, vùng này được gọi là Khorasan. Vì vậy, nhiều trung tâm quan trọng của Khorāsān nằm tại Afghanistan ngày nay, như Balkh, Herat, Ghazni và Kabul.
Từ thời Trung Cổ, cho tới thế kỷ XVIII, vùng này được gọi là Khorasan. Vì vậy, nhiều trung tâm quan trọng của Khorāsān nằm tại Afghanistan ngày nay, như Balkh, Herat, Ghazni và Kabul.
Vùng Afghanistan đã trở thành trung tâm của nhiều đế chế lớn, gồm đế chế của người Samanid (875-999), Ghaznavid (977-1187), Đại Seljuk (1037-1194), Ghurid (1149-1212), và Timurid (1370-1506). Trong số đó, đế chế Ghaznavid của người Ghazni, và Timurid của Herat được coi là một trong những thời kỳ chói lọi nhất trong lịch sử Afghanistan.
Năm 1219, vùng này bị quân đội Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn tàn phá. Thời kỳ cầm quyền của họ tiếp tục tới dòng Y Nhi, và kéo dài cho tới tận cuộc xâm lược của Timur Lenk ("Tamerlane"), một vị vua cai trị từ Trung Á. Năm 1504, Babur, một hậu duệ của cả Timur Lenk và Thành Cát Tư Hãn, đã thành lập lên Đế quốc Môgôn với thủ đô tại Kabul. Tới đầu những năm 1700, Afghanistan bị kiểm soát bởi nhiều nhóm cầm quyền: người Uzbek ở phía bắc, nhà Safavid ở phía tây, và vùng còn lại thuộc người Môgôn, hay do các bộ lạc Afghan tự trị.
Năm 1709, Mirwais Khan Hotak, một người Afghan (Pashtun) địa phương thuộc dòng họ Ghilzai, đã lật đổ và giết chết Gurgin Khan, vị quan cai trị Kandahar của người Safavid. Mirwais Khan đã đánh bại người Ba Tư, đang tìm cách cải đạo người dân Kandahar từ dòng Hồi giáo Sunni sang Shi'a. Mirwais giữ vùng Kandahar cho tới khi ông mất năm 1715 và được con trai là Mir Mahmud Hotaki kế vị. Năm 1722, Mir Mahmud dẫn một đội quân Afghanistan tới Isfahan (hiện thuộc Iran), cướp bóc thành phố và tự phong mình thành Vua Ba Tư. Tuy nhiên, đại đa số dân vẫn bất tuân với chế độ của người Afghanistan và đứng lên khởi nghĩa, và sau cuộc thảm sát hàng ngàn thường dân tại Isfahan của người Afghanistan – gồm cả hơn ba ngàn học giả tôn giáo, các vị quý tộc, và các thành viên gia đình Safavid – triều đại Hotaki cuối cùng đã bị lật đổ khỏi quyền lực bởi Nader Shah của Ba Tư - một viên tướng trung thành của nhà vua Safavid.
Năm 1738, Nader Shah và quân đội của mình, gồm bốn ngàn người Pashtun và dòng họ Abdali, đã chinh phạt vùng Kandahar; cùng năm ấy ông chiếm đóng Ghazni, Kabul và Lahore. Ngày 19 tháng 6 năm 1747, Nader Shah bị ám sát, có lẽ bởi chính người cháu trai là Ali Qoli. Cùng năm ấy, một trong những chỉ huy quân đội của Nader và cũng là vệ sĩ riêng của ông, Ahmad Shah Abdali, một người Pashtun từ dòng họ Abdali, đã kêu gọi triệu tập một đại hội loya jirga sau khi Nader Shah băng hà. Người Afghan đã tụ tập tại Kandahar và chọn Ahmad Shah làm vua. Từ đó, ông thường được coi là người sáng lập nước Afghanistan hiện đại. Sau khi lên làm vua, ông đã đổi danh hiệu hay tên dòng họ thành "Durrani", xuất phát từ từ Durr trong tiếng Ba Tư, có nghĩa "Ngọc Châu".
Tới năm 1751, Ahmad Shah Durrani và đội quân Afghan đã chinh phục toàn bộ Afghanistan, Pakistan, Khorasan và tỉnh Kohistan của Iran, cùng Delhi tại Ấn Độ ngày nay. Tháng 10 năm 1772, Ahmad Shah về nghỉ tại nhà mình ở Maruf, Kandahar, và qua đời trong yên bình. Con trai ông, Timur Shah Durrani, lên nắm quyền và dời thủ đô từ Kandahar tới Kabul. Timur mất năm 1793 và được con trai là Zaman Shah Durrani kế vị.
Hiện đại
Trong thế kỷ XIX, sau những cuộc chiến tranh Anh-Afghanistan (giai đoạn 1839-42, 1878-80, và 1919) và sự thăng tiến của triều đại Barakzai, Afghanistan chứng kiến phần lớn lãnh thổ cũng như quyền tự trị của mình rơi vào tay Anh Quốc. Anh nắm giữ ảnh hưởng rất lớn, và chỉ tới khi Vua Amanullah Khan lên ngôi năm 1919 Afghanistan mới giành lại được quyền độc lập hoàn toàn của mình trong các vấn đề ngoại giao (xem "The Great Game"). Trong giai đoạn can thiệp Anh tại Afghanistan, các lãnh thổ của sắc tộc Pashtun bị chia theo Đường Durand. Điều này sẽ dẫn tới sự căng thẳng trong quan hệ giữa Afghanistan và Ấn Độ thuộc Anh – và sau này là nhà nước Pakistan mới thành lập – về cái sẽ được gọi là cuộc tranh cãi Pashtunistan.
Trong thế kỷ XIX, sau những cuộc chiến tranh Anh-Afghanistan (giai đoạn 1839-42, 1878-80, và 1919) và sự thăng tiến của triều đại Barakzai, Afghanistan chứng kiến phần lớn lãnh thổ cũng như quyền tự trị của mình rơi vào tay Anh Quốc. Anh nắm giữ ảnh hưởng rất lớn, và chỉ tới khi Vua Amanullah Khan lên ngôi năm 1919 Afghanistan mới giành lại được quyền độc lập hoàn toàn của mình trong các vấn đề ngoại giao (xem "The Great Game"). Trong giai đoạn can thiệp Anh tại Afghanistan, các lãnh thổ của sắc tộc Pashtun bị chia theo Đường Durand. Điều này sẽ dẫn tới sự căng thẳng trong quan hệ giữa Afghanistan và Ấn Độ thuộc Anh – và sau này là nhà nước Pakistan mới thành lập – về cái sẽ được gọi là cuộc tranh cãi Pashtunistan.
Giai đoạn ổn định dài nhất tại Afghanistan là trong khoảng 1933 tới 1973, khi đất nước nằm dưới quyền cai trị của Vua Zahir Shah. Tuy nhiên, năm 1973, anh/em rể của Zahir Shah là Sardar Daoud Khan, đã thực hiện một cuộc đảo chính không đổ máu. Daoud Khan và toàn thể gia đình sau này đã bị giết hại năm 1978, khi Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan theo chủ nghĩa cộng sản tiến hành một cuộc đảo chính gọi là Cuộc cách mạng Saur vĩ đại và chiếm giữ quyền bính.
Sự đối đầu và nhiều cuộc xung đột bên trong nhiều chính phủ cộng sản tiếp diễn. Như một phần của cuộc Chiến tranh lạnh, năm 1979 Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski bắt đầu ngầm cung cấp tài chính và huấn luyện cho các lực lượng Mujahideen chống chính phủ thông qua cơ quan an ninh mật Pakistan được gọi là Inter Services Intelligence (ISI), họ là những người Hồi giáo bất mãn trong nước chống lại thuyết vô thần cộng sản của chế độ Mác xít. Nhằm ủng hộ cho các lực lượng cộng sản Afghanistan, Liên bang Xô viết —trích dẫn Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Láng giềng thân thiện năm 1978 đã được ký kết giữa hai quốc gia— can thiệp vào nước này ngày 24 tháng 12 năm 1979. Theo các phương tiện truyền thông và các nguồn tin chính thức của chính phủ, khoảng 110.000 tới 150.000 quân Xô viết, với sự hỗ trợ của 100.000 hay hơn nữa quân đội ủng hộ cộng sản Afghan, đã hiện diện tại nước này. Giai đoạn chiếm đóng của Xô viết dẫn tới cuộc di cư hàng loạt của hơn 5 triệu người Afghan tới các trại tị nạn ở nước Pakistan, Iran và các nước láng giềng khác. Hơn 3 triệu người đã định cư tại Pakistan, hơn 1 triệu người tại Iran và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Đối mặt với nhiều sức ép quốc tế và con số hơn 15.000 binh lính thiệt mạng sau các cuộc đụng độ với các lực lượng Mujahideen được Hoa Kỳ, Pakistan, và các chính phủ khác huấn luyện, quân đội Xô viết đã phải rút đi sau mười năm, năm 1989.
Việc rút quân đội Xô viết khỏi Cộng hòa Dân chủ Afghanistan được coi là một thắng lợi về ý thức hệ tại Hoa Kỳ, nước đã hỗ trợ Mujahideen qua ba đời tổng thống nhằm ngăn cản sự mở rộng ảnh hưởng Xô viết tới vùng Vịnh Péc xích nhiều dầu mỏ. Sau khi quân đội Xô viết rút đi năm 1989, Hoa Kỳ và các đồng minh của họ đã mất sự chú ý tới Afghanistan và giúp đỡ rất ít cho việc khôi phục đất nước đã bị tàn phá sau chiến tranh cũng như gây ảnh hưởng tới các sự kiện tại đó. Liên bang Xô viết đã tiếp tục ủng hộ Tổng thống Najibullah (cựu lãnh đạo cơ quan an ninh mật, KHAD) cho tới khi ông mất chức năm 1992. Tuy nhiên, thiếu sự hiện diện của các lực lượng Xô viết, chính phủ thân cộng sản không thể giữ được ưu thế và dần mất lãnh thổ vào tay các lực lượng du kích.
Kết quả của những cuộc chiến là đại đa số giới trí thức cùng các tầng lớp tinh hoa Afghanistan đã rời bỏ đất nước ra nước ngoài, một khoảng trống quyền lãnh đạo nguy hiểm xuất hiện. Những cuộc chiến tiếp tục giữa nhiều phe phái Mujahideen, cuối cùng dẫn tới sự nổi lên của các lãnh chúa địa phương. Những trận đánh đẫm máu nhất trong cuộc nội chiến diễn ra năm 1994, khi hơn 10.000 người bị giết hại tại Kabul. Sự hỗn loạn và tình trạng tham nhũng lan tràn tại đất nước Afghanistan thời hậu Xô viết và là nguyên nhân dẫn tới sự xuất hiện của Taliban, chủ yếu là người Pashtun thuộc vùng Helmand và Kandahar.
Taliban đã phát triển thành một lực lượng chính trị-tôn giáo, và cuối cùng chiếm Kabul năm 1996. Tới cuối năm 2000, Taliban đã chiếm được 95% lãnh thổ đất nước, chỉ còn lại sự đối đầu của các cứ điểm (Liên minh Bắc Afghan) mạnh chủ yếu ở phía bắc Tỉnh Badakhshan. Taliban đã tìm cách áp đặt một các giải thích bộ Luật Sharia Hồi giáo hà khắc và sau này bị coi là những người ủng hộ khủng bố, chủ yếu vì đã cung cấp chốn nương thân cho mạng lưới Al-Qaeda của Osama bin Laden.
Trong bảy năm cầm quyền của Taliban, đa số dân cư nước này phải sống trong tình trạng hạn chế đến cùng cực các quyền tự do và sự vi phạm vào quyền sống của họ. Phụ nữ bị cấm làm việc, trẻ em gái không được đi học. Những người chống đối bị trừng phạt ngay lập tức. Những người cộng sản bị tiêu diệt một cách có hệ thống và trộm cắp bị trừng phạt bằng cách chặt chân hoặc tay. Tuy nhiên, tới năm 2001 Taliban đã hầu như tiêu diệt được việc trồng cây thuốc phiện tại Afghanistan.
Sau những vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ tung ra Chiến dịch Tự do Bền vững, một chiến dịch quân sự nhằm tiêu diệt mạng lưới Al-Qaeda đang hoạt động tại Afghanistan và lật đổ chính phủ Taliban. Hoa Kỳ đã liên minh với Liên minh Miền bắc Afghan để thực hiện mục tiêu của mình.
Tháng 12 năm 2001, các lãnh tụ chính của các nhóm đối lập Afghan đã gặp gỡ tại Bonn, Đức, và đồng ý về một kế hoạch thành lập một chính phủ dân chủ mới dẫn tới việc Hamid Karzai, một người Pashtun từ thành phố miền nam Kandahar, trở thành chủ tịch Chính quyền Lâm thời Afghan.
Hamid Karzai đã trở thành Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan năm 2004, sau một cuộc bầu cử lần đầu tiên được tổ chức tại nước này.
Sau Loya Jirga toàn quốc năm 2002, Karzai đã được các đại biểu chọn lựa làm Tổng thống tạm quyền của Afghanistan. Năm 2003, nước này đã triệu tập một Loya Jirga (Hội đồng các Thủ lĩnh) lập hiến và phê chuẩn một hiến pháp mới vào năm sau đó. Hamid Karzai được bầu làm tổng thống trong cuộc bầu cử toàn quốc tháng 10 năm 2004. Những cuộc bầu cử lập pháp được tổ chức tháng 9 năm 2005. Quốc hội – cơ quan lập hiến do bầu cử tự do đầu tiên tại Afghanistan từ năm 1973 – nhóm họp tháng 9 năm 2005, và đáng chú ý trong cuộc bầu cử này phụ nữ được tham gia với tư cách cử tri, ứng cử viên và cả người được bầu.
Sau Loya Jirga toàn quốc năm 2002, Karzai đã được các đại biểu chọn lựa làm Tổng thống tạm quyền của Afghanistan. Năm 2003, nước này đã triệu tập một Loya Jirga (Hội đồng các Thủ lĩnh) lập hiến và phê chuẩn một hiến pháp mới vào năm sau đó. Hamid Karzai được bầu làm tổng thống trong cuộc bầu cử toàn quốc tháng 10 năm 2004. Những cuộc bầu cử lập pháp được tổ chức tháng 9 năm 2005. Quốc hội – cơ quan lập hiến do bầu cử tự do đầu tiên tại Afghanistan từ năm 1973 – nhóm họp tháng 9 năm 2005, và đáng chú ý trong cuộc bầu cử này phụ nữ được tham gia với tư cách cử tri, ứng cử viên và cả người được bầu.
Tuy đất nước tiếp tục được khôi phục và tái xây dựng, cuộc đấu tranh chống sự nghèo đói, cơ sở hạ tầng lạc hậu, số lượng mìn dày đặc và nhiều loại vũ khí chưa nổ khác, cũng như việc trồng cấy và buôn bán bất hợp pháp thuốc phiện đang là vấn đề nghiêm trọng. Afghanistan tiếp tục phải đối phó với cuộc nổi loạn của Taliban, những mối đe doạ tấn công từ một số thành viên al Qaeda còn sót lại, và sự bất ổn, đặc biệt tại miền bắc, đã gây ra tình trạng các lãnh chúa bán độc lập.
Đầu năm 2007, các báo cáo về sự hiện diện ngày càng tăng của Taliban tại Afghanistan dẫn tới việc Hoa Kỳ phải xem xét tiến hành các chiến dịch quân sự lớn hơn, dài hơn và thậm chí phải tăng quân số. Theo một báo cáo do Robert Burns thuộc Associated Press đưa ra ngày 16 tháng 1 năm 2007, "Các quan chức quân sự Mỹ đã chỉ ra bằng chứng mới cho thấy quân đội Pakistan, vốn có những mối quan hệ từ lâu với phong trào Taliban, đã cố tình làm ngơ cho những cuộc xâm nhập của tổ chức này." Tương tự, "Một sĩ quan tình báo quân sự Mỹ đã nói với các phóng viên, số lượng những cuộc tấn công của bọn phiến loạn đã tăng 300 phần trăm từ tháng 9 năm 2006, khi chính phủ Pakistan đưa thỏa thuận hòa bình với các lãnh đạo bộ tộc vào thức hiện ở vùng miền bắc Waziristan, dọc theo biên giới phía đông của Afghanistan."
Sản xuất thuốc phiện tăng mạnh, chiếm một phần ba tới hai phần ba GDP quốc gia. Chính quyền Taliban giảm được 95% sản lượng thuốc phiện trong khoảng thời gian 1999-2001, nhưng sau sự sụp đổ của Taliban vào năm 2001, quyền lực của các thủ lĩnh quân sự và trùm ma túy đã quay trở lại. Năm 2010, Afghanistan đứng thứ 175/177 trên thế giới về nạn tham nhũng, 175/186 về chỉ số phát triển con người, và từ năm 2004 tại đây sản xuất 5.300 tấn thuốc phiện mỗi năm. Người anh em của tổng thống Karzai, Ahmed Wali Karzai, là trùm ma túy được CIA hậu thuẫn. Sau suộc tấn công lớn của Mỹ vào tỉnh Kandahar năm 2011, đại tá Abdul Razziq được phong chức cảnh sát trưởng tỉnh này, việc gia tăng các hoạt động buôn lậu heroin đã đem lại cho ông ta 60 triệu USD mỗi năm.
Chính phủ Mỹ đã chi hàng chục tỷ đô la cho viện trợ phát triển tại Afghanistan trong hơn 15 năm và hơn một nghìn tỷ đô la chi phí quân sự trong cùng thời kỳ . Sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, Tổng thống Karzai đã rời bỏ quyền lực và Ashraf Ghani trở thành Tổng thống vào tháng 9 năm 2014. Cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Afghanistan - cuộc chiến dài nhất trong lịch sử - chính thức kết thúc vào ngày 28 tháng 12 năm 2014. Tuy nhiên, hàng ngàn lính NATO do Mỹ lãnh đạo vẫn ở trong nước để đào tạo và cố vấn cho các lực lượng chính phủ Afghanistan. Chiến sự tại Afghanistan từ 2001 - hiện tại đã dẫn đến hơn 90.000 người chết và hơn 100.000 người đã bị thương .
Bất chấp quân đội của Mỹ và NATO đã đóng quân ở Afghanistan hơn 15 năm nay, Taliban vẫn tiếp tục hiện diện. Chính phủ Afghanistan cũng cáo buộc Nga đã cung cấp vũ khí cho quân Taliban để tổ chức này hoạt động trên khắp Afghanistan, phía Nga phủ nhận và gọi đó là những cáo buộc vô căn cứ nhằm đổ lỗi cho sự thất bại trong việc triệt hạ Taliban. Theo ước tính của Lầu Năm Góc, khoảng 56% lãnh thổ của Afghanistan nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. Theo một cuộc thăm dò của đài BBC, khoảng 70% diện tích lãnh thổ Afghanistan hiện đang có hoạt động của Taliban, trong đó 4% do Taliban kiểm soát hoàn toàn và 66% lãnh thổ do quân chính phủ kiểm soát nhưng vẫn có sự xuất hiện của phiến quân Taliban. Chính phủ Afghanistan (thân Mỹ) báo cáo rằng họ kiểm soát phần lớn các khu vực, nhưng các cuộc tấn công gần đây của Taliban và các nhóm dân quân Hồi giáo đã vươn tới một số khu vực ở thủ đô Kabul và các vùng lân cận.
Một cuộc khảo sát được tiến hành vào năm 2015 cho thấy 77% người Afghanistan vẫn ủng hộ sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại nước này; 67% cũng ủng hộ sự hiện diện của lực lượng các nước NATO. Mặc dù đất nước còn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề, 80% người Afghanistan vẫn giữ quan điểm rằng việc Mỹ đem quân vào Afghanistan và lật đổ Taliban vào năm 2001 là một điều tốt. 53% người Afghanistan đổ lỗi cho Taliban hoặc al-Qaeda đã gây nên tình trạng hỗn loạn và bạo lực của đất nước hiện nay trong khi chỉ có 12% đổ lỗi cho Hoa Kỳ .
(Còn tiếp)
(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét