Hàn Quốc (52)
Bài này nói về chính thể nằm tại phía nam bán đảo Triều Tiên. Trong tiếng Triều Tiên, Hàn Quốc còn nói về thực thể bao gồm toàn bộ bán đảo này.
Mục từ "Đại Hàn" dẫn đến bài này. Xin đọc về bài nói về tiết khí tại bài Đại hàn.
Đối với các định nghĩa khác, xem Hàn quốc.
Đại Hàn Dân Quốc
대한민국 (Hangul)
大韓民國 (Hanja)
Daehan Minguk (Romaja)
Centered taegeuk on a white rectangle inclusive of four black trigrams Centered taegeuk on a hibiscus syriacus surrounded by five stylized petals and a ribbon
Quốc kỳ Quốc huy
Seal of South Korea.png
대한민국의 국장 (Hàn)
Quốc ấn Đại Hàn Dân Quốc
Khẩu hiệu:
Hongik Ingan (Hoằng Ích Nhân Gian)
"홍익인간 (弘益人間)" (Hàn)
(de facto)
"Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại"
Quốc ca:
Aegukga
"애국가 (愛國歌)" (Hàn)
(de facto)
"Ái quốc ca"
Mục từ "Đại Hàn" dẫn đến bài này. Xin đọc về bài nói về tiết khí tại bài Đại hàn.
Đối với các định nghĩa khác, xem Hàn quốc.
Đại Hàn Dân Quốc
대한민국 (Hangul)
大韓民國 (Hanja)
Daehan Minguk (Romaja)
Centered taegeuk on a white rectangle inclusive of four black trigrams Centered taegeuk on a hibiscus syriacus surrounded by five stylized petals and a ribbon
Quốc kỳ Quốc huy
Seal of South Korea.png
대한민국의 국장 (Hàn)
Quốc ấn Đại Hàn Dân Quốc
Khẩu hiệu:
Hongik Ingan (Hoằng Ích Nhân Gian)
"홍익인간 (弘益人間)" (Hàn)
(de facto)
"Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại"
Quốc ca:
Aegukga
"애국가 (愛國歌)" (Hàn)
(de facto)
"Ái quốc ca"
Quốc kỳ ca
Arirang "아리랑" (de facto)
"A Lý Lang"
Arirang "아리랑" (de facto)
"A Lý Lang"
Vị trí của Hàn Quốc (xanh đậm) trên thế giới. Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền đối với lãnh thổ Bắc Triều Tiên, nhưng không kiểm soát. (xanh nhạt)
Vị trí của Hàn Quốc (xanh đậm) trên thế giới.
Vị trí của Hàn Quốc (xanh đậm) trên thế giới.
Thủ đô Seoul
37°33′B 126°58′Đ
Thành phố lớn nhất Thủ đô
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hàn Quốc
Ngôn ngữ kí hiệu Hàn Quốc
Sắc tộc Không có số liệu thống kê chính thức
Tôn giáo chính
56,9% Không tôn giáo
27,6% Kitô giáo
(19,7% Cơ Đốc giáo, 7,9% Công giáo Rôma)
15,5% Phật giáo Triều Tiên
Tên dân tộc
Người Hàn Quốc
Chính phủ Cộng hòa Tổng thống chế
- Tổng thống Moon Jae-in
- Chủ tịch Quốc hội Moon Hee-sang
Lập pháp Quốc hội Hàn Quốc
Thành lập
- Thành lập Cổ Triều Tiên
- Bị Nhật chiếm đóng 29 tháng 8 năm 1910
- Tuyên bố độc lập 1 tháng 3 năm 1919
- Chính phủ lâm thời 13 tháng 4 năm 1919
- Giải phóng, chia cắt Bắc Nam 15 tháng 8 năm 1945
- Hiến pháp 17 tháng 7 năm 1948
- Tuyên bố Chính phủ 15 tháng 8 năm 1948
Diện tích
- Tổng cộng 100,140 km2 (hạng 108)
38,690 mi2
- Mặt nước (%) 0,3(301 km2 / 116 mi2)
Dân số
- Ước lượng 2017 51.446.201 (hạng 26)
- Điều tra 2015 51.446.201
- Mật độ 507/km2 (hạng 23)
1,313/mi2
GDP (PPP) Ước lượng 2017
- Tổng số 2.029 nghìn tỷ USD (hạng 13)
- Bình quân đầu người 39,446 USD (hạng 28)
GDP (danh nghĩa) Ước lượng 2017
- Tổng số 1.498 nghìn tỷ USD (hạng 11)
- Bình quân đầu người 29,114 USD (hạng 27)
Gini? (2011) tăng theo hướng tiêu cực 29,5
thấp
HDI? (2015) 0,901
rất cao · hạng 18
Đơn vị tiền tệ Won (₩) / won 대한민국 원 (KRW)
Múi giờ Giờ chuẩn Hàn Quốc (UTC+09:00)
- Mùa hè (DST) không áp dụng (UTC+09:00)
Cách ghi ngày tháng
yyyy-mm-dd (năm-tháng-ngày)
Giao thông bên Phải
Mã điện thoại +82
Mã ISO 3166 KR
Tên miền Internet .kr, .한국
Trang web
www.korea.net
Hàn Quốc
South Korea (Hangul and Hanja).svg
"Hàn Quốc" trong văn tự Hangul (trên) và Hanja (dưới).
Hangul 한국
Hanja 韓國
Romaja quốc ngữ Han(-)guk
McCune–Reischauer Han’guk
Đại Hàn Dân Quốc
Hangul 대한민국
Hanja 大韓民國
Romaja quốc ngữ Daehan Min(-)guk
McCune–Reischauer Taehan Min’guk
Hàn Quốc (Tiếng Triều Tiên: 한국/ 韓國/ Hanguk), tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (Tiếng Triều Tiên: 대한민국/ 大韓民國/ Daehan Minguk; Tiếng Anh: Republic of Korea – Korea Republic), hay còn được gọi bằng các tên gọi khác như là Đại Hàn, Nam Hàn, Nam Triều Tiên hoặc Cộng hòa Triều Tiên, là một quốc gia có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên. Phía bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, phía đông tiếp giáp với biển Nhật Bản và phía tây là biển Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là thành phố Seoul, trung tâm đô thị lớn thứ tư trên thế giới với dân số ước tính đạt tới hơn 30 triệu người và là một thành phố toàn cầu quan trọng. Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,210 km vuông. Với dân số vào khoảng hơn 50 triệu người, Hàn Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ 2 (chỉ xếp sau Cộng hoà Nhân dân Bangladesh) trong số các quốc gia có diện tích đáng kể trên thế giới.
37°33′B 126°58′Đ
Thành phố lớn nhất Thủ đô
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hàn Quốc
Ngôn ngữ kí hiệu Hàn Quốc
Sắc tộc Không có số liệu thống kê chính thức
Tôn giáo chính
56,9% Không tôn giáo
27,6% Kitô giáo
(19,7% Cơ Đốc giáo, 7,9% Công giáo Rôma)
15,5% Phật giáo Triều Tiên
Tên dân tộc
Người Hàn Quốc
Chính phủ Cộng hòa Tổng thống chế
- Tổng thống Moon Jae-in
- Chủ tịch Quốc hội Moon Hee-sang
Lập pháp Quốc hội Hàn Quốc
Thành lập
- Thành lập Cổ Triều Tiên
- Bị Nhật chiếm đóng 29 tháng 8 năm 1910
- Tuyên bố độc lập 1 tháng 3 năm 1919
- Chính phủ lâm thời 13 tháng 4 năm 1919
- Giải phóng, chia cắt Bắc Nam 15 tháng 8 năm 1945
- Hiến pháp 17 tháng 7 năm 1948
- Tuyên bố Chính phủ 15 tháng 8 năm 1948
Diện tích
- Tổng cộng 100,140 km2 (hạng 108)
38,690 mi2
- Mặt nước (%) 0,3(301 km2 / 116 mi2)
Dân số
- Ước lượng 2017 51.446.201 (hạng 26)
- Điều tra 2015 51.446.201
- Mật độ 507/km2 (hạng 23)
1,313/mi2
GDP (PPP) Ước lượng 2017
- Tổng số 2.029 nghìn tỷ USD (hạng 13)
- Bình quân đầu người 39,446 USD (hạng 28)
GDP (danh nghĩa) Ước lượng 2017
- Tổng số 1.498 nghìn tỷ USD (hạng 11)
- Bình quân đầu người 29,114 USD (hạng 27)
Gini? (2011) tăng theo hướng tiêu cực 29,5
thấp
HDI? (2015) 0,901
rất cao · hạng 18
Đơn vị tiền tệ Won (₩) / won 대한민국 원 (KRW)
Múi giờ Giờ chuẩn Hàn Quốc (UTC+09:00)
- Mùa hè (DST) không áp dụng (UTC+09:00)
Cách ghi ngày tháng
yyyy-mm-dd (năm-tháng-ngày)
Giao thông bên Phải
Mã điện thoại +82
Mã ISO 3166 KR
Tên miền Internet .kr, .한국
Trang web
www.korea.net
Hàn Quốc
South Korea (Hangul and Hanja).svg
"Hàn Quốc" trong văn tự Hangul (trên) và Hanja (dưới).
Hangul 한국
Hanja 韓國
Romaja quốc ngữ Han(-)guk
McCune–Reischauer Han’guk
Đại Hàn Dân Quốc
Hangul 대한민국
Hanja 大韓民國
Romaja quốc ngữ Daehan Min(-)guk
McCune–Reischauer Taehan Min’guk
Hàn Quốc (Tiếng Triều Tiên: 한국/ 韓國/ Hanguk), tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (Tiếng Triều Tiên: 대한민국/ 大韓民國/ Daehan Minguk; Tiếng Anh: Republic of Korea – Korea Republic), hay còn được gọi bằng các tên gọi khác như là Đại Hàn, Nam Hàn, Nam Triều Tiên hoặc Cộng hòa Triều Tiên, là một quốc gia có chủ quyền thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía nam của bán đảo Triều Tiên. Phía bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, phía đông tiếp giáp với biển Nhật Bản và phía tây là biển Hoàng Hải. Thủ đô của Hàn Quốc là thành phố Seoul, trung tâm đô thị lớn thứ tư trên thế giới với dân số ước tính đạt tới hơn 30 triệu người và là một thành phố toàn cầu quan trọng. Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,210 km vuông. Với dân số vào khoảng hơn 50 triệu người, Hàn Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ 2 (chỉ xếp sau Cộng hoà Nhân dân Bangladesh) trong số các quốc gia có diện tích đáng kể trên thế giới.
Những chứng cứ khảo cổ học cho thấy bán đảo Triều Tiên đã có con người sinh sống từ Thời đại đồ đá cũ. Lịch sử Triều Tiên bắt đầu khi nhà nước Cổ Triều Tiên được thành lập vào năm 2333 TCN bởi Đàn Quân. Sau thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên, Triều Tiên trải qua triều đại Cao Ly (Goryeo) và triều đại Triều Tiên (Joseon) trong một đất nước thống nhất cho đến cuối thời kỳ Đế quốc Đại Hàn vào năm 1910, khi đó, toàn bộ bán đảo Triều Tiên đã bị Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập lãnh thổ sau sự kiện Thống sứ Nhật Bản tại Triều Tiên là Itō Hirobumi bị An Jung-geun – một nhà hoạt động cách mạng vì nền độc lập dân tộc của Triều Tiên ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân vào ngày 26 tháng 10 năm 1909. Sau khi được quân đội Đồng Minh giải phóng và bị chia cắt vào giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc gia này trở thành hai nhà nước với hai hệ tư tưởng đối lập nhau là Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên – trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng ý thức hệ và được hậu thuẫn từ phía Liên bang Xô viết thì Nam Triều Tiên (tức Đại Hàn Dân Quốc) lại chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ về ý thức hệ và được sự hậu thuẫn, giúp đỡ, viện trợ của Hoa Kỳ, điều này đã dẫn đến những mâu thuẫn dân tộc giữa hai miền Triều Tiên (vốn đã ở trong tình trạng căng thẳng, thù địch suốt nhiều năm liền) - nay ngày càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Những mâu thuẫn này sau đó đã dẫn đến kết cục là một giải pháp quân sự tàn khốc – cuộc chiến tranh Triều Tiên (25 tháng 6 năm 1950 – 27 tháng 7 năm 1953), hậu quả làm hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị thương tật, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình của mình. Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc đã được thành lập từ trước đó – vào năm 1948 như một nền dân chủ. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc bằng một hiệp định ngừng bắn được ký kết trước sự chứng kiến của đại diện các bên tham chiến tại làng đình chiến Panmunjom thuộc Khu phi quân sự Triều Tiên. Trong các thập niên từ năm 1960 tới 1990, kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục hoàn toàn, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn, bền vững trên thế giới.
Hàn Quốc hiện là một nước cộng hòa nghị viện và theo hệ thống chính phủ Tổng thống chế, lãnh thổ bao gồm 16 đơn vị hành chính. Hàn Quốc là một quốc gia phát triển có mức sống và chỉ số phát triển con người thuộc vào loại rất cao, có nền kinh tế phát triển theo phân loại của Ngân hàng Thế giới và IMF, và đồng thời là một cường quốc khu vực tại Đông Á cũng như là một cường quốc tầm trung trên thế giới. Hàn Quốc hiện đang là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á sau nền kinh tế của các quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, xếp thứ 11 trên thế giới theo GDP danh nghĩa, xếp hạng 13 theo sức mua tương đương (tính đến hết năm 2018 theo các số liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Liên Hiệp Quốc và Ngân hàng Thế giới). Nền kinh tế quốc dân chủ yếu dựa vào xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn như: công nghiệp nặng, điện tử tiêu dùng, xe hơi, tàu biển, máy móc, hóa dầu, robot, viễn thông, dược phẩm, thiết bị quân sự,... Ngoài ra, Hàn Quốc cũng là quốc gia đi đầu trong các ngành dịch vụ, du lịch và giải trí. Hàn Quốc là nước thành viên của các tổ chức toàn cầu như: Liên hiệp quốc, WTO, OECD, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), UNESCO, khối APEC, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), IAEA, ITU, UNESCAP, WB, UPU, IMF, ICAO, Interpol và Nhóm các nền kinh tế lớn G-20. Quốc gia này cũng đồng thời là thành viên sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Đông Á, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và là một đồng minh không thuộc khối NATO của Hoa Kỳ. Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã tạo ra và liên tục tăng cường mạnh mẽ sự phổ biến văn hóa Hàn Quốc trên phạm vi toàn thế giới đặc biệt là ở khu vực châu Á, hay còn được biết đến với tên gọi "Làn sóng Hàn Quốc (한류/韓流/Hàn lưu)".
Tên gọi
Hai tên gọi khác nhau "Đại Hàn" và "Triều Tiên" khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau. Ví dụ như trong tiếng Anh, "Đại Hàn" và "Triều Tiên" đều dịch là "Korea", trong tiếng Pháp đều dịch là "Corée", trong tiếng Nga đều dịch là "Корея" (chuyển tự Latin: Koreya)... vì chúng đều bắt nguồn từ tên gọi của vương quốc Cao Ly, là quốc gia từng tồn tại trên bán đảo này từ năm 918 đến năm 1392. Thời kỳ này, tên gọi Cao Ly đã được thông qua các thương nhân người Ả-rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia phương Tây.
Hai tên gọi khác nhau "Đại Hàn" và "Triều Tiên" khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau. Ví dụ như trong tiếng Anh, "Đại Hàn" và "Triều Tiên" đều dịch là "Korea", trong tiếng Pháp đều dịch là "Corée", trong tiếng Nga đều dịch là "Корея" (chuyển tự Latin: Koreya)... vì chúng đều bắt nguồn từ tên gọi của vương quốc Cao Ly, là quốc gia từng tồn tại trên bán đảo này từ năm 918 đến năm 1392. Thời kỳ này, tên gọi Cao Ly đã được thông qua các thương nhân người Ả-rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia phương Tây.
Từ năm 1392, toàn bộ bán đảo này nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Chosun). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống trên bán đảo này. Sau khi hai miền bán đảo bị chia cắt, lãnh thổ phía bắc tiếp tục kế thừa quốc hiệu này nên gọi mình là Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên; trong khi đó vùng lãnh thổ phía nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc", kế thừa từ quốc hiệu "Đế quốc Đại Hàn" (Daehan) mà lãnh thổ này đã mang trong giai đoạn 1897-1910 (dưới sự đô hộ của Đế quốc Nhật Bản). Trong đó, chữ "Dân quốc" (chữ Hán: 民國) trong Đại Hàn Dân quốc (大韓民國) được vay mượn từ tiếng Trung Quốc, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì được dịch tương đương như cộng hoà quốc (共和國, nước cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân quốc" và "Cộng hoà quốc" đều được dịch là "Republic", trong tiếng Pháp đều được dịch là "République", trong tiếng Nga đều được dịch là "республика" (chuyển tự Latin: Respublika).
Ở Việt Nam trước năm 1975, báo chí Việt Nam Cộng hòa gọi nước này là "Đại Hàn". Sau năm 1975, tên gọi của nước này dần được chuyển dịch qua các ngôn ngữ phương Tây rồi mới sang tiếng Việt mà thành "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên". Bằng công hàm số KEV-398 ngày 23 tháng 3 năm 1994 gửi Bộ Ngoại giao Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đã đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của họ là Đại Hàn Dân quốc, gọi tắt là Hàn Quốc (từ "Hàn" ở đây không phải là "Lạnh", đó là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc, nghĩa là "Lớn"), không gọi là Cộng hoà Triều Tiên hoặc Nam Triều Tiên, vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến tên gọi của miền bắc (tức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên). Bộ Ngoại giao Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau đó ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi các cơ quan bộ, tổng cục, các cơ quan thông tin, tuyên truyền và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu "Từ nay gọi Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là Hàn Quốc, không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa".
Lịch sử
Khái quát
Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về nam. Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết đã không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.
Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản thống trị Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai. Năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền. Liên bang Xô viết chiếm đóng miền bắc cho đến vĩ tuyến 38 và Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về nam. Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết đã không thể đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.
Vào tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã đề ra một giải pháp tiến hành tổng bầu cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của một Ủy ban Liên hợp quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại 2 miền Triều Tiên đã khước từ việc tuân theo giải pháp này. Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó đã đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử tại các địa phương với sự giúp đỡ của Ủy ban Liên Hiệp Quốc. Những cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành riêng rẽ vào ngày 10 tháng 5 năm 1948, tại những tỉnh nằm ở phía nam vĩ tuyến 38. Vĩ tuyến này đã trở thành đường chia cắt bán đảo Triều Tiên thành hai miền nam và bắc Triều Tiên.
Điều này dẫn tới việc thành lập các chính phủ riêng biệt ở miền bắc và miền nam, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở phía bắc và Đại Hàn Dân quốc ở phía nam, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên.
Căng thẳng tăng lên giữa hai chính phủ ở miền bắc và miền nam cuối cùng dẫn tới Chiến tranh Triều Tiên, khi ngày 25 tháng 6 năm 1950, Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, buộc tội miền nam đã vượt qua trước, và tấn công – Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân quốc, còn đứng đằng sau Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô và Trung Quốc. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953, khi lực lượng Liên Hiệp Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến Chiến tranh Triều Tiên. Vùng phi quân sự Triều Tiên phân chia hai nước, và bán đảo Triều Tiên bị chia cắt cho đến ngày nay.
Hơn 3 triệu người đã thiệt mạng hoặc bị thương và hàng chục triệu người khác bị mất nhà cửa hoặc vĩnh viễn chia lìa những người thân trong gia đình trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.
Sau đó Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là có chủ quyền hợp pháp trên toàn bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng này khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đến thập niên 1970 quan hệ hai bên dần được cải thiện. Hai bên Triều Tiên đã chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, cả hai nước được công nhận để chính thức gia nhập Liên hiệp quốc cùng một lúc. Hàn Quốc đã đầu tư kinh tế và là nước chủ yếu viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua chương trình lương thực Thế giới WEP của Liên hiệp quốc.
Năm 1948, Lý Thừa Vãn đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở khu vực nam bán đảo Triều Tiên và trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc. Lý Thừa Vãn thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp rất thẳng tay những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng lại bị nạn tham nhũng nặng nề, kinh tế đất nước phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình rất lớn của người dân. Ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang Honolulu (Mỹ) và sống tỵ nạn tại đây cho tới cuối đời. Cho tới nay dư luận ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.
Chính phủ kế nhiệm của Chang-Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung Hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963 Park Chung Hee chính thức trở thành tổng thống. Park Chung Hee trở thành nhà độc tài thứ 2 tại Hàn Quốc.
Thông qua hoạt động của “Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia”, Park Chung Hee đã giải tán Quốc hội và các đảng phái chính trị đối lập hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung Hee ban hành các sắc lệnh cấm công nhân mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm nhân viên thân chính phủ bên trong các tổ chức công đoàn của công nhân để giám sát và kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Quân đội Hàn Quốc được sử dụng như đạo quân lê dương đánh thuê cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ và do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park Chung Hee.
Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung Hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng tăng. Năm 1971, Park Chung Hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia “dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế”. Tới tháng 10/1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó chấm dứt bầu cử trực tiếp và chính thức suy tôn Park Chung Hee làm "Tổng thống trọn đời”. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.
Ngày 16/10/1979, tại Trường Đại học Pusan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18/10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26/10/1979, Park Chung Hee đã bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc cơ quan tình báo quốc gia Hàn Quốc (NIS). Sau đó Kim Jae-gyu đã bị tử hình nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae Kyu là người có công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.
Thời đại Park Chung Hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung Hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo Hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung Hee.
Năm 1980, Chung Doo-hwan được một hội đồng bầu cử bầu lên làm tổng thống. Ngày 18/5/1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Nam Jeolla đã xảy ra vụ nổi dậy Gwangju khi người dân địa phương đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát địa phương để chống lại cảnh sát chính phủ của Chung Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ của sinh viên địa phương. Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương, vòi rồng, xe tăng - xe bọc thép đã được điều động đến, 4 giờ sáng ngày 27/5/1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân.
Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chung Doo Hwan ta bắt đầu loại bỏ các chính trị gia đối lập khỏi chính trường, và thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Hàn Quốc thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt "Samcheong Education Troops", để tiến hành chương trình “giáo dục thanh lọc”. Khoảng 40 nghìn người đã bị bắt đưa đến các cơ sở của Samcheong Education Troops. Số liệu thống kê về sau cho thấy có khoảng 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người bị chết sau đó. Vào năm 1986, Chung Doo Hwan ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động, và rất nhiều tổ chức bị đàn áp như Liên minh Dân chủ Thống nhất và Phong trào Nhân dân.
Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn của đã dẫn tới cái chết của Park Jong-Cheol, sinh viên của trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu và tra tấn tàn bạo của chế độ Chung và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho "Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu", từ ngày 26 đến ngày 29, có đến hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân", được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu “Bãi bỏ hiến pháp xấu xa” và “Xóa bỏ chế độ độc tài”. Dưới áp lực ấy, chính quyền Chung Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29/10/1987. Mặc cho tội ác thảm sát của mình, Chung Doo-hwan vẫn nắm vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới tận năm 1988. Năm 1996, ông ta bị chính phủ mới kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát và bị kết án tử hình (sau đó được giảm xuống còn chung thân, tuy vậy ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-Sam ân xá vào ngày 22 /12/1997).
Các cuộc nổi dậy đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào thập niên 1990 với đường lối đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Tới năm 1987 hiến pháp được sửa đổi, theo đó, nhân dân Hàn Quốc lại được quyền trực tiếp bầu ra tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của Hàn Quốc. Thủ đô Seoul của Hàn Quốc đã được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của quốc gia này. Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.
Các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-won (1987) và Kim Young-Sam (1992). Vị tổng thống thứ sáu là Roh Tae-won cũng bị kết án vì tội hối lộ, tham nhũng. Năm 1997, Tổng thống Kim Dae-jung được trao giải Nobel hoà bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi "Chính sách Ánh dương" với Bắc Triều Tiên do Tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Cuối năm đó, ông Kim đã nhận được giải thưởng Nobel Hòa bình do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao tặng, giải thưởng nhằm vinh danh cho những nỗ lực to lớn, thiết thực của ông vì nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2003 học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm chức Tổng thống Hàn Quốc. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh Moo-hyun cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, và ông Roh tự sát vào ngày 23/5/2009 bằng cách nhảy xuống từ một mỏm núi khi các cuộc điều tra đang tiếp diễn, do vậy nhiều người nghi ngờ vụ tự sát của ông là do sức ép từ các thế lực khác.
Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo nhà nước và các doanh nghiệp Hàn Quốc. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ won từ một công ty mà ông Lee Myung-bak bí mật sở hữu.
Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cố Tổng thống - nhà độc tài Park Chung Hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại đồng thời là vị Tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt bà Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc bà Park đã tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân của bà Park) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như các công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.
Như vậy, tính đến năm 2018, trong số 11 Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có một người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.
Tái thống nhất với Bắc Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam. Tổng thống Roh Moo-hyun đã nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi.
Năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Cuộc gặp gỡ này được xem như là sự thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ giữa hai miền Triều Tiên.
(Còn tiếp)
11019
11019


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét