Hàn Quốc
(Tiếp theo)
Quan hệ ngoại giao
CHDCND Triều Tiên
CHDCND Triều Tiên
Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận rất sôi nổi ở Hàn Quốc hiện nay, thậm chí, người ta đã đề cập đến khả năng thể chế chính trị "một quốc gia, hai chế độ" để tái thống nhất bán đảo, nhưng hiện vẫn chưa có hiệp định hoà bình nào được ký kết, khiến cho đề xuất trên hay các ý kiến khác mới chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ, tuyên truyền hoặc phát biểu, diễn thuyết ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có thể bị kết án lên tới 10 năm tù giam. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại nó vẫn chưa được thực thi.
Cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều tuyên bố chủ quyền của mình đối với toàn bộ bán đảo và các hòn đảo xa bờ, cả hai cũng đồng thời coi chính quyền của họ là chính quyền hợp pháp duy nhất trên bán đảo Triều Tiên. Những nỗ lực hòa giải giữa hai miền vẫn tiếp tục tiếp diễn kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tuy nhiên tiến trình hòa giải này hứa hẹn vẫn sẽ còn phức tạp sau các vụ thử tên lửa đạn đạo của CHDCND Triều Tiên thời gian gần đây, khiến cho mối quan hệ giữa hai miền trở nên căng thẳng. Năm 2017, tân Tổng thống Moon Jae-in lên nắm quyền, hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi lớn nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nhà nước. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2014, số người Hàn Quốc được hỏi có cái nhìn tích cực về CHDCND Triều Tiên chỉ chiếm 3%, tuy nhiên theo một cuộc khảo sát khác vào năm 2017 của chính phủ, có tới 56% người Hàn Quốc ủng hộ việc thống nhất với miền Bắc.
Vào năm 2018, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã tổ chức 3 hội nghị thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4, tháng 5, và tháng 9.
Nhật Bản
Mặc dù là 2 nước láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á, người dân, đặc biệt là các thế hệ trung và cao tuổi Hàn Quốc đa phần đều có cái nhìn rất tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu là do họ đã từng phải chịu ách cai trị tàn bạo của Nhật Bản trong vòng 35 năm kể từ khi Nhật chiếm Bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai nước mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.
Mặc dù là 2 nước láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á, người dân, đặc biệt là các thế hệ trung và cao tuổi Hàn Quốc đa phần đều có cái nhìn rất tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu là do họ đã từng phải chịu ách cai trị tàn bạo của Nhật Bản trong vòng 35 năm kể từ khi Nhật chiếm Bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai nước mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.
Trong giai đoạn bán đảo Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (1910-1945), hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với thực dân Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là "Ngụy quân". Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, đến năm 2019, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng “xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu”.
Hai quốc gia hiện cũng đang có những tranh chấp trong việc tuyên bố chủ quyền đối với đảo Liancourt. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của họ , dẫn đến những tranh cãi gay gắt và hiện nay vẫn chưa tìm được biện pháp giải quyết. Ngoài ra, giữa 2 nước gần đây cũng bắt đầu xảy ra những mâu thuẫn liên quan đến vấn đề thương mại, bắt nguồn từ việc toà án Tối cao Hàn Quốc ra bản án buộc các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản như Mitsubishi, Toyota, Sumitomo,... phải bồi thường thiệt hại cho những người Hàn Quốc bị ép buộc lao động khổ sai trong thời kỳ Phát xít Nhật chiếm đóng Triều Tiên, Nhật Bản không đồng ý vì cho rằng vấn đề đó đã được giải quyết từ hiệp ước năm 1965 khi nước này tiến hành bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, đồng thời áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu các nguyên vật liệu dùng trong công nghệ cao sang Hàn Quốc và gạch tên nước này khỏi danh sách các quốc gia được hưởng ưu đãi thương mại từ Chính phủ Nhật Bản , Hàn Quốc đáp trả bằng các biện pháp tương tự, trong đó bao gồm việc chấm dứt hiệp định chia sẻ thông tin tình báo chung đã được ký kết với Nhật Bản từ trước đó (hay còn được biết đến với tên gọi Thỏa thuận An ninh chung về Thông tin Quân sự (GSOMIA)), dẫn đến nguy cơ bùng phát một cuộc "Chiến tranh thương mại" mới với tính chất và mức độ rủi ro tương tự như Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, đáng lo ngại hơn, cuộc chiến này sẽ nổ ra giữa 2 nền kinh tế hàng đầu tại châu Á, gây gián đoạn chuỗi cung ứng cho các sản phẩm công nghệ cao trên toàn cầu đồng thời đẩy giá thành của các sản phẩm công nghệ đó lên cao, mặc dù đã có một số cuộc gặp cấp cao được tổ chức, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một cuộc đàm phán song phương chính thức nào để giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trên.
Hoa Kỳ
Mối quan hệ đồng minh chiến lược, chặt chẽ giữa hai nước được bắt đầu từ ngay sau Thế Chiến II, sau khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Theo quyết định của Hội nghị Yalta, Hoa Kỳ đã tạm thời tiếp quản miền nam bán đảo Triều Tiên trong vòng ba năm (trong khi đó Liên Xô tiếp quản miền Bắc). Năm 1948, với sự ủng hộ của Mỹ, Lý Thừa Vãn đã thành lập nên nhà nước Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc). Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, quân đội Hoa Kỳ đã được gửi đến để giúp đỡ nhà nước Hàn Quốc non trẻ chống lại các cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Sự tham chiến của Hoa Kỳ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn thất bại gần như chắc chắn của Hàn Quốc trước quân đội Bắc Triều Tiên. Sau Chiến tranh, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì một số lượng rất lớn các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Hàn Quốc. Tại hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2009 tại Luân Đôn, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng: Hàn Quốc – là "một trong những đồng minh thân cận nhất và cũng là một trong những người bạn tuyệt vời nhất của Hoa Kỳ". Hàn Quốc hiện là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO của Hoa Kỳ cùng với các quốc gia: Argentina, Australia, Bahrain, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kuwait, Maroc, New Zealand, Philippines, và Thái Lan.
Mối quan hệ đồng minh chiến lược, chặt chẽ giữa hai nước được bắt đầu từ ngay sau Thế Chiến II, sau khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Theo quyết định của Hội nghị Yalta, Hoa Kỳ đã tạm thời tiếp quản miền nam bán đảo Triều Tiên trong vòng ba năm (trong khi đó Liên Xô tiếp quản miền Bắc). Năm 1948, với sự ủng hộ của Mỹ, Lý Thừa Vãn đã thành lập nên nhà nước Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc). Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào năm 1950, quân đội Hoa Kỳ đã được gửi đến để giúp đỡ nhà nước Hàn Quốc non trẻ chống lại các cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Sự tham chiến của Hoa Kỳ đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn thất bại gần như chắc chắn của Hàn Quốc trước quân đội Bắc Triều Tiên. Sau Chiến tranh, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì một số lượng rất lớn các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Hàn Quốc. Tại hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2009 tại Luân Đôn, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng: Hàn Quốc – là "một trong những đồng minh thân cận nhất và cũng là một trong những người bạn tuyệt vời nhất của Hoa Kỳ". Hàn Quốc hiện là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO của Hoa Kỳ cùng với các quốc gia: Argentina, Australia, Bahrain, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kuwait, Maroc, New Zealand, Philippines, và Thái Lan.
Dân cư
Vào tháng 4 năm 2016, dân số Hàn Quốc được Văn phòng Thống kê Quốc gia ước tính là khoảng 50,8 triệu người, với dân số ở trong độ tuổi lao động và tổng tỷ suất sinh tiếp tục có xu hướng suy giảm . Hàn Quốc là nước có mật độ dân số rất cao, ước tính lên tới 505 người trên mỗi km vuông vào năm 2015 , nhiều hơn 10 lần so với mức trung bình toàn cầu. Hầu hết người Hàn Quốc sống ở khu vực thành thị, do quá trình di cư ồ ạt khỏi các vùng nông thôn trong quá trình mở rộng kinh tế nhanh chóng của đất nước trong những năm 1970, 1980 và 1990 . Thành phố thủ đô là Seoul cũng là thành phố lớn nhất và là trung tâm công nghiệp chính của đất nước. Theo điều tra dân số năm 2005, khu vực nội thành Seoul có dân số hơn 10 triệu người. Khu vực đô thị Seoul có hơn 30 triệu dân (khoảng hơn một nửa dân số Hàn Quốc), trở thành khu vực đô thị lớn thứ hai thế giới. Các thành phố lớn khác bao gồm Busan (3,5 triệu), Incheon (3,0 triệu), Daegu (2,5 triệu), Daejeon (1,4 triệu), Gwangju (1,4 triệu) và Ulsan (1,1 triệu).
Vào tháng 4 năm 2016, dân số Hàn Quốc được Văn phòng Thống kê Quốc gia ước tính là khoảng 50,8 triệu người, với dân số ở trong độ tuổi lao động và tổng tỷ suất sinh tiếp tục có xu hướng suy giảm . Hàn Quốc là nước có mật độ dân số rất cao, ước tính lên tới 505 người trên mỗi km vuông vào năm 2015 , nhiều hơn 10 lần so với mức trung bình toàn cầu. Hầu hết người Hàn Quốc sống ở khu vực thành thị, do quá trình di cư ồ ạt khỏi các vùng nông thôn trong quá trình mở rộng kinh tế nhanh chóng của đất nước trong những năm 1970, 1980 và 1990 . Thành phố thủ đô là Seoul cũng là thành phố lớn nhất và là trung tâm công nghiệp chính của đất nước. Theo điều tra dân số năm 2005, khu vực nội thành Seoul có dân số hơn 10 triệu người. Khu vực đô thị Seoul có hơn 30 triệu dân (khoảng hơn một nửa dân số Hàn Quốc), trở thành khu vực đô thị lớn thứ hai thế giới. Các thành phố lớn khác bao gồm Busan (3,5 triệu), Incheon (3,0 triệu), Daegu (2,5 triệu), Daejeon (1,4 triệu), Gwangju (1,4 triệu) và Ulsan (1,1 triệu).
Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số. Dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia sớm khắc phục được khủng hoảng, vì vậy mà một số lượng lớn lao động từ các nước châu Á khác (như Trung Quốc, Philippines, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia, Myanmar, Lào, Campuchia, Đông Timor,...) cũng như từ các nước thuộc khu vực châu Phi đã đổ về đây để tìm kiếm việc làm trong các bộ phận tại những nhà máy công nghiệp nặng lớn. Một bộ phận không nhỏ người Hoa Kỳ, Anh và người Pháp cũng đang sống và làm việc tại Hàn Quốc, họ tập trung tại một khu vực của thành phố Seoul có tên là động Itaewon (Lê Thái Viện). Ở đây người ta cũng có thể tìm thấy một khu "Làng Liên hiệp quốc" bên cạnh rất nhiều đại sứ quán và các công ty nước ngoài.
Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên hiện đang sinh sống tại nước ngoài, ví dụ như tại Trung Quốc và nhiều nước thuộc vùng Trung Á (nguyên nhân là do nhà độc tài Liên Xô cũ Iosif Vissarionovich Stalin đã đưa hàng ngàn người Triều Tiên tới đó trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt, Trung Quốc Đại Lục và chính tại Hàn Quốc là nơi có đông đảo cộng đồng người đào tẩu Bắc Triều Tiên đang lao động, sinh sống, làm việc). Trong thời kỳ bị Nhật đô hộ, một số người cũng đã bị đưa sang Nhật Bản. Sự bất ổn về chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đã dẫn tới việc nhiều người Hàn Quốc đã di cư sang châu Âu, Nhật Bản, Canada, Nga và Hoa Kỳ. Từ khi tình hình trong nước trở lại ổn định, một số đã trở về lại quê hương và mang cho mình hai quốc tịch, những người gốc Hàn (Hàn Kiều) nổi tiếng trên thế giới có thể kể đến như là: Son Masayoshi - Tỷ phú, doanh nhân, lập trình viên, nhà phát minh, nhà đầu tư, nhà kinh tế học, nhà sáng lập và đồng thời là tổng giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn viễn thông đa quốc gia Nhật Bản SoftBank, chủ tịch đương nhiệm của Sprint Corporation và SoftBank Mobile, nhà từ thiện nổi tiếng - người giàu nhất Nhật Bản và bản thân ông cũng là một trong những Hàn Kiều, nhà đầu tư nổi tiếng và quyền lực nhất trên thế giới nói chung cũng như trong giới công nghệ nói riêng theo đánh giá và xếp loại của tạp chí Forbes danh tiếng; Taizo Son - Tỷ phú, doanh nhân, nhà đầu tư người Nhật gốc Hàn, CEO của Mistletoe Inc., chủ tịch của công ty game di động GungHo Inc. - em trai của Masayoshi Son ; Dr. Jim Yong Kim - Giáo sư y khoa tại Viện Đại học Harvard, Cựu Chủ tịch của World Bank; Randall Park - Nam diễn viên điện ảnh kiêm nhà biên kịch phim nổi tiếng người Mỹ gốc Hàn Quốc ; Sung Kim - nhà ngoại giao người Mỹ gốc Hàn Quốc và Đại sứ Hoa Kỳ hiện tại tại Philippines cũng như cựu Đặc phái viên, người đại diện đặc biệt của Hoa Kỳ về Chính sách Bắc Triều Tiên , John Cho - diễn viên điện ảnh Hollywood nổi tiếng, Kogonada - Nhà làm phim tài năng người Mỹ gốc Hàn (nổi tiếng với bộ phim điện ảnh chính kịch/lãng mạn Columbus (2017), Sung Kang, diễn viên nổi tiếng (đóng vai Han Lue trong loạt phim bom tấn The Fast and the Furious), Juju Chang - một nhà báo nổi tiếng, MC chính của kênh truyền hình tin tức ABC News (Úc), Margaret Cho - diễn viên hài kịch, Herbert Choy - Cựu thẩm phán Tòa án Tối cao Liên bang Hoa Kỳ, Jay Park - Rapper, Dancer, ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, vũ công, biên đạo múa, doanh nhân và diễn viên người Mỹ gốc Hàn Quốc, David Chang - Đầu bếp, doanh nhân, tác giả sách và là một ngôi sao truyền hình thực tế nổi tiếng, Steven Choi - Chính trị gia hàng đầu về chính sách thuộc Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ, Paull Shin - Chính trị gia, thành viên, cựu Chủ tịch của Thượng viện tiểu bang Washington, người Mỹ gốc Hàn đầu tiên từng được bầu vào cơ quan lập pháp của bang Washington,...
Tỷ lệ sinh của Hàn Quốc là thấp nhất thế giới trong năm 2009 . Nếu tỉ lệ này tiếp tục được duy trì, dân số của Hàn Quốc dự kiến sẽ giảm 13% xuống còn 42,3 triệu người vào năm 2050 . Tỷ lệ sinh trung bình hàng năm của Hàn Quốc là khoảng 9 ca sinh trên 1000 người . Tuy nhiên, tỷ lệ sinh đã tăng 5,7% kể từ năm 2010 và Hàn Quốc không còn là quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới . Theo báo cáo năm 2011 từ The Chosun Ilbo, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc (1,23 trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ) cao hơn so với Đài Loan (1,15) và Nhật Bản (1,21) . Tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc trong năm 2008 là 79,10 tuổi (đứng thứ 34 trên thế giới) nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 81 tuổi . Hàn Quốc là nước có sự sụt giảm mạnh nhất về dân số ở độ tuổi lao động trong số các quốc gia thuộc OECD . Năm 2015, Cục Thống kê Quốc gia ước tính rằng dân số của đất nước sẽ đạt đến đỉnh điểm vào năm 2035.
Áp lực cuộc sống và nạn tự sát
Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên những áp lực rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử tới kiếm việc làm, kết hôn... Do các áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc thuộc mức rất cao trên thế giới. Năm 2012, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc là 28,9 vụ/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung Quốc và cao hơn 2,5 lần so với mức trung bình trên toàn thế giới. Tự sát là nguyên nhân số một trong những ca tử vong của thanh thiếu niên (từ 10 tới 30 tuổi).
Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên những áp lực rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử tới kiếm việc làm, kết hôn... Do các áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc thuộc mức rất cao trên thế giới. Năm 2012, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc là 28,9 vụ/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung Quốc và cao hơn 2,5 lần so với mức trung bình trên toàn thế giới. Tự sát là nguyên nhân số một trong những ca tử vong của thanh thiếu niên (từ 10 tới 30 tuổi).
Hiện nay, ngày càng có nhiều người già Hàn Quốc đang phải sống và qua đời trong cô độc. Những biến động ở Hàn Quốc từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990 khiến nhiều người mất việc, và họ bị tụt lại trong sự cạnh tranh gay gắt trong xã hội. Nhiều người cao tuổi không có tiền tiết kiệm khi về hưu trong khi con cái lại không đủ khả năng chu cấp cho họ. Trợ cấp xã hội dành cho những người ngoài độ tuổi 50 chỉ ở mức tương đối thấp. Chỉ số Hưu trí toàn cầu Mercer Melbourne 2015 xếp hạng Hàn Quốc đứng thứ 24 trong 25 quốc gia có nền kinh tế lớn, chỉ cao hơn Ấn Độ. Năm 2014, chỉ 45% người Hàn Quốc trong độ tuổi từ 55 đến 79 có lương hưu và chi tiêu trung bình hàng tháng của họ là 431 USD, bằng 82% mức chi phí sinh hoạt tối thiểu cho một người. Khoảng 30% người cao tuổi Hàn Quốc có thu nhập hàng tháng dưới mức nghèo tuyệt đối. Cứ 4 người cao tuổi Hàn Quốc lại có một người mắc chứng trầm cảm, tỷ lệ tự sát của nhóm người cao tuổi cao gấp đôi so với mức trung bình cả nước.
Hàn Quốc là nước xếp cao nhất trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và liên tục có số vụ tự sát thuộc hàng đầu trong các nước phát triển. Nhà ga tàu điện ngầm ở Seoul dựng hàng rào để ngăn người nhảy xuống lúc tàu đến, và 8 cây cầu trong thành phố đều lắp đặt hệ thống camera nhằm phát hiện người có ý định tự sát. Quốc gia này là nơi thường xuyên diễn ra các vụ tự tử của sinh viên, ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên thể thao, các chính trị gia và cả những người nổi tiếng, trong đó bao gồm vụ tự sát của cựu tổng thống Roh Moo-hyun vào năm 2009. Trong chưa đầy 4 tháng đầu năm 2011, bốn sinh viên và một giáo sư trường đại học Kaist - ngôi trường danh tiếng bậc nhất Hàn quốc - đã lần lượt tự sát.
Theo một chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Quốc gia Seoul và cũng là thành viên trong Hiệp hội ngăn chặn tự sát ở Hàn Quốc, tự sát tập thể khá phổ biến ở nước này và có xu hướng tăng cao. Tỷ lệ này tăng mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và tiếp tục tăng sau đó. Trong vòng 5 năm trước 2007, tỉ lệ tự sát ở Hàn Quốc tăng gấp đôi. Năm 2011, trước tình hình này, một số người đứng ra tổ chức những khoá học chết thử, với lý do "trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ". Mục đích của chương trình này là muốn người tham gia "nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn" thay vì tìm đến cái chết.
Ở các gia đình có 2 vợ chồng cùng đi làm, đàn ông chỉ dành khoảng 40 phút làm việc nhà hoặc trông con, ít hơn so với phụ nữ là trung bình 3 giờ một ngày. Theo thống kê, số giờ làm việc trung bình của người Hàn Quốc là 2.113 giờ một năm, đứng thứ hai trong số các quốc gia thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và chỉ xếp sau México. Tuy nhiên, nhiều cuộc khảo sát gần đây đã cho thấy thực tế còn tệ hơn và có xu hướng giống Nhật Bản, nơi thường xuyên có người lao động chết hoặc tự kết liễu bản thân do lao lực, stress và kiệt sức. Đã xuất hiện cụm từ mới phản ánh tình trạng này ở Hàn Quốc là "Kawarosa" (có nghĩa là chết vì làm việc quá sức trong tiếng Hàn).
(Còn tiếp)
Ảnh: Phụ nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok.
61019
(Còn tiếp)
Ảnh: Phụ nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok.
61019

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét