Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Hàn Quốc
(Tiếp theo và hết)
Kinh tế
Hàn Quốc hiện đang dẫn đầu thế giới về công nghiệp bán dẫn.
Hàn Quốc sở hữu một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (được xây dựng trên nền tảng của kinh tế thị trường), hỗn hợp, tự do và phát triển cao bậc nhất Châu Á. Hiện nay Hàn Quốc đã được xếp vào nhóm những quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Cùng với các nền kinh tế của Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore, kinh tế Hàn Quốc được các nhà kinh tế học xem như là một ví dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành.
Đầu những năm 1950, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 11 trên thế giới. Năm 2005 GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng 789 tỉ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) ước đạt khoảng 1.097 tỉ USD. Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt là 16.270 USD và 22.620 USD (xếp thứ 33 và 34 thế giới).
Kinh tế Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới từ đầu những năm 1960 cho đến cuối những năm 1990, và vẫn tiếp tục tăng trưởng đều đặn trong thập niên 2000, do đó Hàn Quốc cùng với các quốc gia và vùng lãnh thổ Hồng Kông, Singapore và Đài Loan thường được ví như Bốn con Rồng của Châu Á.
Năm 1997, như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc bị khủng hoảng kinh tế nặng nề. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo: tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng nền kinh tế thị trường, giảm bớt quyền lực của các nhà tài phiệt nắm giữ các tập đoàn lớn, coi trọng các công ty vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trị – kinh doanh. Mặt khác, chính phủ đã áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", huy động quốc dân quyên góp tiền vàng ủng hộ chính phủ. Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủng hoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ của IMF. Dự trữ ngoại tệ đã đạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003). Hàn Quốc tiếp tục duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trong thập niên 2010, đạt mức từ 6,2% đến 8% trong năm 2010 , tuy vậy đến năm 2016 đã tụt xuống chỉ còn hơn 2,6%.
Từ những năm 1970, nhiều công ty, tập đoàn lớn của Hàn Quốc bắt đầu tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới. Những tập đoàn Tài phiệt khổng lồ (Chaebol), do các gia tộc kỹ nghệ đại tư bản (kế thừa và phát triển trực tiếp theo mô hình từ các Zaibatsu của Nhật Bản) điều hành, kiểm soát, nắm trong tay quyền lực và khả năng chi phối nền kinh tế Hàn Quốc qua nhiều thế hệ có thể kể tới như Samsung, Hyundai, Kia, LG, Lotte, CJ, SK, Shinsegae hay Daewoo. Việt Nam mới chỉ được làm quen với một vài lĩnh vực của các tập đoàn này. Ví dụ như ở Hàn Quốc Samsung cũng rất năng động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chế tạo máy, thương mại điện tử và bất động sản. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á, nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã bị đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo, Chaebol từng một thời có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn mạnh bậc nhất đối với nền kinh tế xứ Hàn đã sụp đổ, phải tái cơ cấu và buộc phải bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ.
Hàn Quốc đã truy tố hơn 100 người, trong đó có một cựu quan chức nhà nước hàng đầu trong vụ tham nhũng trong một vụ bê bối trên xác nhận an toàn giả mạo cho các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân của mình. Nền kinh tế lớn thứ tư của châu Á đã phải từng phải ngừng hoạt động một loạt các lò phản ứng hạt nhân do các tài liệu giả mạo vào cuối năm 2012. Ngành công nghiệp hạt nhân của Hàn Quốc đã bị chỉ trích vì hoạt động của nó diễn ra rất bí ẩn, dẫn đến nạn tham nhũng của các quan chức liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận an toàn. Do các nhà máy hạt nhân này sản xuất một phần ba lượng điện năng của Hàn Quốc nên các quan chức cho biết họ sẽ chỉ kiểm tra và thay thế các bộ phận, chứ không phải là loại bỏ dần chúng. Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn là quốc gia sản xuất điện hạt nhân đứng thứ năm trên thế giới tính đến năm 2010.
Giao thông
Hàn Quốc đã phát triển thành công tàu cao tốc HEMU 430X, có thể di chuyển với tốc độ hơn 430 km/giờ (267 dặm/giờ), qua đó đã đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia thứ tư trên thế giới sau Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc phát triển được loại tàu cao tốc có thể chạy với vận tốc lên tới hơn 420 km/giờ trên đường ray thông thường.
Hàn Quốc sở hữu một mạng lưới giao thông tiên tiến, tinh vi và hiện đại bao gồm có các tuyến đường sắt cao tốc, đường bộ cao tốc, xe buýt, dịch vụ phà và các tuyến đường hàng không trải dài khắp đất nước. Korea Expressway Corporation là tập đoàn vận hành hệ thống đường cao tốc thu phí và các tiện nghi dịch vụ trên đường. Korail điều hành hệ thống đường sắt tại tất cả các thành phố lớn của Hàn Quốc. Hai tuyến đường sắt là Tuyến Gyeongui và Tuyến DongHae Bukbu đi Bắc Triều Tiên hiện đang được kết nối lại. Hệ thống đường sắt cao tốc của Hàn Quốc, KTX, cung cấp dịch vụ đường sắt tốc độ cao dọc theo các tuyến Gyeongbu và Honam. Cả sáu thành phố lớn nhất của Hàn Quốc - Seoul, Busan, Daegu, Gwangju, Daejeon và Incheon - đều có hệ thống tàu điện ngầm. Hệ thống xe buýt tốc độ cao cũng có mặt ở hầu hết các thành phố trên cả nước.
Sân bay lớn nhất của Hàn Quốc là Sân bay quốc tế Incheon, phục vụ trên 60 triệu hành khách trong năm 2016 . Các sân bay quốc tế khác bao gồm Gimpo, Busan và Jeju. Hãng hàng không quốc gia, Korean Air đã phục vụ tổng cộng hơn 30 triệu hành khách, trong đó bao gồm gần 20 triệu hành khách quốc tế trong năm 2016 . Hãng hàng không lớn thứ hai, Asiana Airlines cũng phục vụ các chuyến bay trong nước và quốc tế. Các hãng hàng không nhỏ hơn, chẳng hạn như Jeju Air, cung cấp dịch vụ bay nội địa với giá vé thấp hơn.
Du lịch
Cảnh Phúc cung tại Seoul, một địa điểm thu hút khách du lịch.
Trong năm 2016, Hàn Quốc đã đón tổng cộng trên 17 triệu lượt khách du lịch tới từ nước ngoài , trong đó có 167.143 tới từ Việt Nam, xếp thứ 9 trong số tất cả các quốc gia.
Ngành du lịch Hàn Quốc được phát triển, quảng bá và thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự phổ biến của nhạc K-pop và phim truyền hình Hàn Quốc, đặc biệt là tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á (Làn sóng Hàn Quốc), văn hóa truyền thống, ẩm thực và cảnh quan môi trường tự nhiên.
Văn hóa
Ngôn ngữ và chữ viết
Chữ Hangul ban đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum.
Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào ngữ hệ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (language isolate). Kể từ bậc tiểu học, người ta bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha ít phổ biến hơn.
Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangeul - chữ viết chính của người Hàn Quốc – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 ký tự, 24 ký tự đơn và 27 ký tự kép. Những ký tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng là có thể học xong).
Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ La tinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.
Trong thập niên 2000s của thế kỉ 21, những tín đồ Hồi giáo tại Hàn Quốc đã tiếp nhận thêm bảng chữ cái Ả rập và biến đổi lại để ghi âm tiếng Hàn gọi là Kuryan (tương tự như chữ Jawi (Jawi alphabet) của thế giới Mã Lai). Hệ chữ này sử dụng văn tự Ả rập để ghi âm tiếng Hàn, phục vụ trong hoạt động giao tiếp và truyền bá trong cộng đồng người Hồi giáo tại Hàn Quốc.
Văn học
Văn học Hàn Quốc có một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí còn được tổ chức tại các sân vận động.
Hwang Sok-Yong (sinh năm 1943) là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất xứ Hàn. Ông đã trải qua cuộc chiến tranh Triều Tiên và từng tham chiến tại chiến tranh Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là những mâu thuẫn giữa hai thái cực truyền thống và hiện đại.
Tôn giáo
Tôn giáo tại Hàn Quốc (2015)
Không tôn giáo (56.9%)
Tin lành (19.7%)
Phật giáo (15.5%)
Công giáo Roma (7.9%)
Theo số liệu thống kê đến năm 2005 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 46% của công dân cho biết không theo tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc chiếm 29,2% dân số (trong số đó là đạo Tin Lành 18,3%, Công giáo 10,9%) và 22,8% là Phật tử. 1% là tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác.
Tại Hàn Quốc có khoảng 45.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), bổ sung vào con số hơn 100.000 lao động nước ngoài từ các quốc gia Hồi giáo. Hàn Quốc cũng là quốc gia có dân số theo đạo Công giáo đông thứ năm ở châu Á (sau Philippines, Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia).
Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này vấp phải sự phản đối kịch liệt của hơn 100.000 tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va. Những nghi lễ cổ truyền vẫn còn được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng hiện nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường ngày của người dân xứ Hàn.
Ẩm thực
Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món kim chi, đây là một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là bắp cải. Kim chi là một loại thực phẩm lành mạnh vì nó cung cấp các vitamin và chất dinh dưỡng cần thiết. Gochujang (một loại nước xốt truyền thống Hàn Quốc làm từ ớt đỏ) rất thông dụng, cũng như tương tiêu (hoặc ớt), là những món điển hình của nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.
Bulgogi (thịt nướng tẩm gia vị, thường là thịt bò), galbi (xương sườn cắt khúc tẩm gia vị nướng) và món samgyeopsal (thịt lợn ở phần bụng) đều là những đặc sản từ thịt phổ biến. Cá cũng là một thực phẩm phổ biến, vì nó là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng. Bữa ăn thường đi kèm với xúp hoặc món hầm, chẳng hạn như galbitang (xương sườn hầm) và doenjang jjigae (canh xúp đậu lên men). Giữa bàn ăn là đủ loại món ăn phụ gọi là banchan.
Các món ăn phổ biến khác gồm bibimbap - có nghĩa là "cơm trộn" (cơm trộn với thịt, rau và tương ớt đỏ) và naengmyeon (mì lạnh). Ngoài ra, mì ăn liền cũng là một loại thức ăn nhanh rất phổ biến. Người Hàn Quốc cũng thích dùng các loại thức ăn từ pojangmachas (bán dạo trên đường phố), ở đây người ta có thể mua tteokbokki (bánh gạo và bánh cá với nước xốt gochujang cay), khoai tây chiên mực và khoai lang tẩm. Soondae là loại một xúc xích làm bằng mì sợi trong suốt và huyết lợn cũng được rất nhiều người ưa thích.
Ngoài ra, một số món ăn nhẹ phổ biến khác bao gồm chocopie, bánh tôm, bbungtigi (bánh gạo giòn) và "nu rung ji" (cơm cháy nhẹ). Có thể ăn sống nu rung ji hoặc đun sôi với nước để tạo ra một món canh. Nu rung ji cũng có thể được dùng như một món ăn nhanh hay món tráng miệng.
Các loại đồ uống có cồn phổ biến của Hàn Quốc bao gồm Soju, Makgeolli và Bokbunja ju, đặc biệt, người Hàn còn hay pha rượu Soju với bia tươi hoặc sữa chua để tăng độ mạnh cho loại thức uống truyền thống này.
Đũa của người Hàn Quốc thường được làm bằng thép không gỉ (inox), hoặc bằng bạc, vàng (loại này thường hay phổ biến ở các gia đình giàu có).
Không giống như phần lớn người dân ở các nước châu Á khác, người Hàn Quốc khi ăn thường sử dụng đũa kim loại thay vì đũa gỗ truyền thống.
Âm nhạc
K-Pop (viết tắt của Korean Pop hay nhạc Pop Hàn Quốc) là dòng nhạc Pop ở Hàn Quốc, ban đầu chịu sự ảnh hưởng của J-Pop (Pop Nhật). Nhờ sự quảng bá mạnh mẽ của truyền thông mà K-Pop đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thu hút hàng chục triệu người hâm mộ cuồng nhiệt cũng như Fan trung thành không chỉ ở riêng khu vực châu Á mà còn có sức lan tỏa ra cả thế giới, trở thành một hiện tượng giải trí toàn cầu. Năm 2012, người Hàn tiếp tục gây sốt trên thế giới với điệu nhảy ngựa trong ca khúc Gangnam Style của ca sĩ PSY, đạt hơn 3 tỷ lượt xem trên Youtube. Cùng với điện ảnh, K-Pop gây nên một cơn sốt đặc biệt lớn đối với giới trẻ Việt Nam, đi kèm theo đó là một số hệ lụy.
Noraebang - karaoke của Hàn Quốc
Trong tiếng Triều Tiên không có từ nghĩa tương đương với karaoke. Thay vào đó, họ gọi loại hình giải trí này là norae (노래, tiếng hát). Các quán karaoke (노래방, noraebang) được tìm thấy ở khắp các ngóc ngách trên những con phố. Cả thanh niên lẫn người lớn tuổi đều mê loại hình giải trí này.
Điện ảnh
Kể từ thành công của phim Shiri (1999) ngành công nghiệp điện ảnh ở xứ Hàn có sự thăng tiến không ngừng. Hiện nay Hàn Quốc là một trong số ít những nước mà các sản phẩm của Hollywood không có mấy sức ảnh hưởng. Điều này thể hiện qua việc tỉ lệ khán giả đến rạp xem phim trong nước cao hơn hẳn so với các tác phẩm điện ảnh nước ngoài.
Trong năm 2000, tiêu điểm đổ dồn vào bộ phim Vùng an ninh chung (Joint Security Area). Bộ phim kể về sự chia cắt Triều Tiên này thậm chí còn thành công hơn cả Shiri. Bạn (Friend) là bộ phim của năm 2001. Bộ phim hài lãng mạn Cô nàng ngổ ngáo (My Sassy Girl) còn được yêu thích hơn cả Chúa tể của những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings) hay Harry Potter. Năm 2004, bộ phim Old Boy giành giải thưởng lớn tại Liên hoan phim Cannes và được bán cho nhiều nước. Sau khi dự liên hoan phim này, đạo diễn Quentin Tarantino đã phát biểu: "Những bộ phim hay, hấp dẫn nhất thế giới hiện đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc".
Những thành công này khiến cho Hollywood phải chú ý. Những phim như Shiri giờ đây được bán ở cả Hoa Kỳ. Miramax đã mua bản quyền phim Vợ tôi là Gangster (My Wife is a Gangster), bộ phim còn trội hơn một số sản phẩm của Hollywood, và hiện đang làm lại bộ phim này để bán trên thị trường Mỹ. Những bộ phim nổi tiếng khác như My Sassy Girl, Old Boy hay A Tale of Two Sisters (Câu chuyện hai chị em) cũng đang nằm trong tầm ngắm của các nhà làm phim người Mỹ.
Bộ phim The Host - Quái Vật Sông Hàn (2006) và sau đó là bộ phim tiếng Anh Snowpiercer (2013) của đạo diễn điện ảnh Bong Joon-ho hay bom tấn Đại thủy chiến (2014) của đạo diễn Kim Han-min và tài tử gạo cội Choi Min-sik đều là những tác phẩm điện ảnh có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hàn Quốc và được các nhà phê bình phim nước ngoài ca ngợi (Đại thủy chiến là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên đạt mức doanh thu hơn 100 triệu USD). Bộ phim về đề tài xác sống Train to Busan (2016) của đạo diễn Yeon Sang-ho cũng là một trong những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở quốc gia này và đã trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ hai tại Hồng Kông năm 2016. Trong lần trở lại gần đây nhất vào năm 2019, đạo diễn tài năng Bong Joon-ho đã cùng với "Ông hoàng phòng vé" Song Kang-ho tiếp tục giúp cho nền điện ảnh xứ Kim Chi gây được tiếng vang lớn với bộ phim điện ảnh tâm lý xã hội - hài kịch đen mang tựa đề Parasite (Ký sinh trùng), tác phẩm này sau đó đã xuất sắc đoạt giải thưởng Cành cọ vàng (Palme d'Or) tại Liên hoan phim Cannes 2019 (Pháp), đây cũng là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên trong lịch sử giành được giải thưởng danh giá này, đặc biệt hơn, thành công của Ký sinh trùng đến đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm nền điện ảnh xứ Hàn ra đời và phát triển, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế vững chắc và tiên phong của điện ảnh Hàn Quốc trong làng điện ảnh châu Á nói riêng và thế giới nói chung.
Giống như ở nhiều nước châu Á khác, tại Việt Nam phim Hàn Quốc cũng giành được sự ưu ái đặc biệt. Ngoài những tác phẩm điện ảnh được chiếu ngoài rạp, những bộ phim truyền hình dài tập của Hàn Quốc cũng thu hút một số lượng rất lớn khán giả. Một số series phim truyền hình nổi tiếng của Hàn Quốc có thể kể đến như: Những nàng công chúa nổi tiếng, Thợ săn thành phố, Vì sao đưa anh tới, Ngôi nhà hạnh phúc, Vườn sao băng, Gia đình là số một (phần 2) hay Hậu duệ mặt trời,...
Các ngày lễ
Ngày Tên tiếng Việt Hangeul Phiên âm cách đọc Ghi chú
1 tháng 1 Tết Dương lịch 양력설 Yanglyeogseol
1 tới 3 tháng 1 (âm lịch) Tết Nguyên Đán 설날 Seollal
1 tháng 3 Phong trào 1 tháng 3 3.1절 Samil Jeol Kỷ niệm ngày đòi độc lập của nhân dân Hàn Quốc 1.3.1919
5 tháng 4 Tết cây xanh 식목일 Singmogil
5 tháng 5 Tết thiếu nhi 어린이날 Eorininal
8 tháng 4 (âm lịch) Lễ Phật Đản 부처님 오신날 Bucheonim Osinnal Ngày sinh Đức Phật
6 tháng 6 Ngày tưởng niệm 현충일 Hyeonchung-il
17 tháng 7 Ngày lập hiến 제헌절 Jehyeonjeol 17.7.1948
15 tháng 8 Ngày độc lập 광복절 Gwangbokjeol Kỉ niệm ngày giành độc lập từ tay phát xít Nhật 15.8.1945
15 – 18 tháng 8 (âm lịch) Tết Trung Thu 추석 Chuseok
3 tháng 10 Ngày khai sinh dân tộc 개천절 Gaecheonjeol
25 tháng 12 Giáng sinh 크리스마스 Keuliseumaseu
Giáo dục
Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc gồm sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "Phí hỗ trợ hoạt động của nhà trường". Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.
Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán học và văn học, đứng nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù sinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc khắt khe và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư độc lập với học phí cao (Hagwon (학원)) bị lên án như là một vấn đề lớn, nhức nhối của xã hội.
Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng đất nước này đã đi hơi quá trớn với nó: với 407 trường cao đẳng và đại học, kết quả là sinh viên tốt nghiệp quá nhiều khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Giáo dục đã trở thành một cổng tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ tư châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3 phần trăm của tổng sản phẩm trong nước và tất cả chỉ để tạo ra những "thanh niên thất nghiệp tuổi 20". Chính phủ đã đưa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp cao vào danh sách các ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các công trình công cộng, nhưng chương trình này không quan tâm đến những người được đào tạo trẻ. OECD cũng kêu gọi ngành công nghiệp đóng một vai trò xây dựng hơn trong việc đào tạo trình độ nghề vì việc tập trung vào các trường khiến thiếu hụt trong lĩnh vực lao động thủ công, gây ra một làn sóng công nhân nhập cư có tay nghề thấp.
Khoa học và công nghệ
Jikji, quyển sách cổ xưa nhất được tìm thấy được sử dụng phương pháp in thủ công dùng kim loại vào năm 1377 – hiện trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Bibliothèque, Paris, Pháp.
Một trong những hiện vật nổi tiếng trong lịch sử của Hàn Quốc về khoa học và công nghệ là Chiêm tinh đài (첨성대, 瞻星臺 một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng vào năm 634).
Mẫu bản in khắc gỗ Hàn Quốc xưa nhất còn sót lại là Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mô cấu tinh quang đại, bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào khoảng những năm 750-751, nếu đúng như vậy thì bản in này còn nhiều tuổi hơn cả Kim Cương kinh. Tơ Cao Ly được người phương Tây đánh giá rất cao và đồ gốm Hàn Quốc cũng được săn đón, sưu tầm, gốm Cao Ly, đặc biệt là loại làm bằng gốm men ngọc, có màu xanh dương hoặc xanh lá là những loại gốm có chất lượng cao nhất và luôn được các thương gia Ả Rập săn lùng. Cao Ly đã có một nền kinh tế tấp nập với thủ đô thường xuyên được các thương gia từ khắp nơi trên thế giới ghé qua.
Trong thời kỳ Joseon những Geobukseon (tàu con rùa) đã được phát minh, sử dụng sàn gỗ và gai sắt, cùng các loại vũ khí độc đáo khác như Phi kích thần thiên lôi (비격진천뢰, 飛擊震天雷) và hỏa xa.
Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Triều Tiên Thế Tông phát minh trong thời gian này.
Kể từ khi nền kinh tế của Hàn Quốc được công nghiệp hóa, nhiều tập đoàn công nghệ cao đã ra đời, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Samsung là công ty sản xuất điện thoại di động hàng đầu thế giới vào năm 2012. Năm 2010, khoảng trên 90% người Hàn Quốc sở hữu ít nhất một chiếc điện thoại di động . Hàn Quốc là nước có tốc độ đường truyền Internet nhanh nhất trên thế giới, với tốc độ tải xuống trung bình là 25,3 Mbit/s. Năm 2018, Hàn Quốc đã chính thức trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thành công trong việc phổ cập và thương mại hóa thế hệ mạng di động thứ 5 (5G) thông qua các nhà mạng viễn thông lớn như SK Telecom, KT Corporation, SOFTBANK Korea Co., Ltd., Samsung Telecommunications,...
Thể thao
Hàn Quốc có một nền thể thao tương đối mạnh ở châu Á và trên thế giới. Những môn thể thao thế mạnh, sở trường có thể kể đến như là:
Võ - đặc biệt là Taekwondo - Quốc võ kiêm môn thể thao mang tính biểu tượng quốc gia của đất nước này.
Bóng đá - Đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc thường xuyên giành quyền tham dự tại các Giải Bóng đá Vô địch Thế giới, từng xếp hạng tư chung cuộc tại World Cup 2002, giải đấu mà Hàn Quốc là đồng chủ nhà cùng với Nhật Bản, 2 lần vô địch Cúp bóng đá châu Á vào các năm 1956 và 1960. Ngoài ra đội tuyển Olympic Hàn Quốc cũng đã từng dành huy chương đồng tại Thế vận hội mùa hè 2012.
Các cầu thủ bóng đá nổi tiếng: Cha Bum-kun, Ahn Jung-hwan, Park Ji-sung, Lee Chun-soo, Cha Doo-ri, Son Heung-min, Ki Sung-yueng, Koo Ja-cheol, Lee Chung-yong, Lee Seung-woo, Hong Myeong-bo, Jo Hyeon-woo, Lee Kang-in,...
Bóng chày được du nhập vào Triều Tiên năm 1905 và sau đó đã trở thành một môn thể thao được nhiều người yêu thích và thường xuyên theo dõi ở Hàn Quốc. Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982, là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt giải 3 trong Giải Bóng chày Thế giới 2006, giải nhì trong năm 2009 và huy chương vàng tại Olympic Bắc Kinh 2008.
Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul, quốc gia này được xếp hạng 4, với 12 huy chương vàng, 10 bạc và 11 đồng. và cũng xuất sắc trong các môn như bắn cung, bóng bàn, cầu lông, trượt băng (Patinaje de velocidad sobre pista corta), bóng ném, hockey trên băng, đấu vật, bóng chày, judo, taekwondo, patin và cử tạ. Hàn Quốc cũng đoạt nhiều huy chương ở Thế vận hội Mùa đông so với các quốc gia châu Á khác. Tại Thế vận hội Mùa đông 2010 ở Vancouver, các đội tuyển Hàn Quốc giành tổng cộng 14 huy chương (gồm 6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc) . Năm 2018, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2018 ở Pyeongchang và cũng là lần đầu tiên thế vận hội được tổ chức tại một vùng ngoại ô, đoàn thể thao Hàn Quốc đã đạt tổng số 17 huy chương (gồm 5 vàng, 8 bạc và 4 đồng).
Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seoul) và 2002 (Busan) và đã đăng cai tổ chức Đại hội này năm 2014 (Incheon). Cũng đã đăng cai tổ chức Đại hội thể thao Mùa đông châu Á 1999; và sự kiện thể thao liên minh các trường đại học Thế giới Universiade Mùa đông năm 1997 và Mùa hè 2003. Đồng đăng cai tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 với Nhật Bản, và đội bóng đá của Quốc gia này trở thành đội đầu tiên thuộc Liên đoàn bóng đá châu Á lọt vào vòng bán kết.
Thể thao điện tử, hay còn gọi là E-Sports, đã trở nên rất phổ biến ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là trong giới trẻ, Hàn Quốc cùng với Trung Quốc, Đài Loan, Châu Âu và Bắc Mỹ hiện đang được coi là những khu vực mà E-Sport phát triển mạnh mẽ, được đầu tư lớn và có hệ thống tổ chức các giải đấu chuyên nghiệp nhất trên thế giới. Hai trò chơi được tranh tài nhiều nhất là League of Legends cùng với StarCraft và gần đây nhất là cái tên PUBG. Các giải đấu E-Sport tại Hàn Quốc được quản lý bởi Hiệp hội Thể thao điện tử Hàn Quốc (KeSPA). Những cái tên nổi tiếng của Hàn Quốc trong bộ môn này là Lim Yo-Hwan, Lee Sang-hyeok (còn được biết đến với nghệ danh Faker), Choi Yeon-Sung, Park Sung-Joon và Lee Jae-Dong,...
Ảnh: Tòa tháp Lotte World Tower ở Seoul, tòa nhà cao thứ 5 trên thế giới.
71019

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét