Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Phượng Nguyễn

Ăn cơm mới, nói chuyện cũ...
NGHĨA CỦA TỪ CỨU CÁNH
Lúc đầu thì chỉ một số ít người dùng sai.
Sau rồi cả báo chí truyền thông chính thống cũng dùng sai từ “cứu cánh” theo nghĩa “cứu giúp… cái gì đó trong tình trạng nguy ngập của đối tượng đó. Đại khái thế".
Mình nhớ có năm một tờ báo lớn trao giải vàng cho truyện ngắn "Cây bút cứu cánh" của một học sinh trong khi ngay từ nhan đề truyện ngắn bạn học sinh này đã dùng từ với hàm nghĩa không chuẩn xác như thế. Sau, hình như có người đem từ điển từ nguyên ra giải thích nghĩa chính xác của từ “cứu cánh” với ban giám khảo. Ban giám khảo là một số trí thức trẻ, cũng thuộc dạng có bằng sắc, mũ cao áo dài trong làng báo xuề xòa gạt đi. Bảo dùng thế cũng được.
Cũng được là được thế nào?
Có người bảo: ngôn ngữ là tài sản của xã hội. Xã hội dùng thế nào mặc lòng xã hội chứ? Mắc mớ chi đến anh mà phàn nàn? Nhiều từ dùng sai, dùng mãi thành đúng đấy thôi!
Chẳng hạn như BÁNH CHƯNG.
BÁNH TRƯNG chứ? Loại bánh vốn trước hết để trưng bày trên ban thờ, kính ngưỡng tổ tiên, sau mới kính cẩn mang xuống thụ lộc. Nhưng người Bắc vốn lẫn lộn tr/ch nên gọi TRƯNG thành CHƯNG(?). Đến giờ thì cả triệu người đã gọi bánh trưng là bánh chưng mà các nhà ngôn ngữ không ai dám hé răng cãi nửa lời. Rồi đến lượt các nhà ngôn ngữ, các giáo sư đại học cũng gọi là bánh chưng như một người bình dân. Thế là hòa cả làng nhé?
Tuy nhiên, có người tìm hiểu kĩ ngọn nguồn thì bảo: chưng chẳng phải mà trưng cũng chẳng phải. Tên gốc của nó là bánh VUÔNG. Sau gọi chệch thành CHUÔNG . Tại sao gọi CHUÔNG? Vì cổ ngữ Việt nói VUÔNG VẮN là CHUÔNG CHẮN. Cuối cùng rồi CHUÔNG lại ra CHƯNG. Rắc rối thế?
Dân ta vốn không bận tâm mấy về việc dùng từ. Cứ dùng bừa đi.
Trường hợp "cứu cánh" thì khác.
Cứu cánh chữ Hán là 究竟 có nghĩa là kết quả, rút cục.
– Cứu: kết cục.
– Cánh: Nét nghĩa 1 là xong, hoàn thành. Nét nghĩa 2 là cuối cùng. Chúc cho một việc của ai đó có kết quả tốt, người ta nói: “cánh thành!” (cuối cùng sẽ thành công) nhé! Hình như sách "Minh tâm bảo giám" có câu: “hữu chí giả sự cánh thành” [người có chí ắt việc sẽ thành].
Tất nhiên, tôi biết "cứu" còn một nghĩa khác là tìm hiểu, suy xét. Như trong các tổ hợp “cứu khảo”, “khảo cứu”, “cứu vấn”, “nghiên cứu”,…nhưng chuyện đó để sau, chưa bàn.
Đấy, nghĩa của từ cứu cánh vốn là như thế.
Chẳng vậy mà người Pháp thường hay nói: "La fin justifie les moyens" tạm dịch là: "Cứu cánh biện minh cho phương tiện", cũng có thể dịch là "Mục đích biện minh cho phương tiện", hay "Kết quả biện minh cho phương tiện".
Cũng thế cả thôi.
Vậy "cứu cánh" phải có nghĩa là cái mục đích cuối cùng chứ.
Nhỉ?
Hôm qua, Kim Jeong Sik, một nam sinh viên Hàn trước khi sang Việt Nam làm việc cho một công ti ở Củ Chi, Saigon viết trong sổ tay rằng: "Tôi sang Việt Nam không phải để kiếm tiền mà là để kiếm tìm hạnh phúc".
Tôi bảo: "Câu nói hay đấy. Nhưng tiền cũng cần em ạ. Tiền bảo hiểm cho hạnh phúc".
Em ấy nói: "Vâng, tiền là phương tiện, không phải là cứu cánh”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét