Giải Nobel (201)
(1/ MỸ 49; 2/ ĐỨC 45, 3/ ANH 32; 4/ PHÁP 25; 5/ Hà Lan 9; 6/ Thụy Sĩ 13; 7/ Thụy Điển 14; 8/ Đan Mạch 9; 9/ Na Uy 5; 10/ Scotland 3; 11/ Nga 2; 12/ Tây Ban Nha 3, 13/ Hung Ga Ry 5. 14/ Ba Lan 5, 15/ Áo 10, 16/ Ý 6; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 2; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 2; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 2; 26/ Arhentina 1; 27/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;28/ Phần Lan 2; 29/ Chi lê 1; 30/Argentina 1; 31/ Nhật Bản 1; 32/ Nam Phi 1;
François Mauriac
Sinh 11 tháng 10 năm 1885
Bordeaux, Pháp
Mất 1 tháng 9 năm 1970
Paris, Pháp
Nghề nghiệp Nhà thơ, nhà văn
Quốc tịch người Pháp
François Mauriac (11 tháng 10 năm 1885 – 1 tháng 9 năm 1970) là nhà văn, nhà thơ Pháp đoạt giải Nobel Văn học năm 1952.
Tiểu sử
François Charles Mauriac sinh ở Bordeaux, trong một gia đình buôn rượu vang giàu có, mồ côi bố khi chưa đầy hai tuổi. Sau khi tốt nghiệp trung học, Mauriac vào học văn học tại Đại học Bordeaux, tốt nghiệp năm 1905 với bằng thạc sĩ. Sau chuyển đến Paris, vào học trường École nationale des chartes năm 1908; sau một số thành công ban đầu, ông bỏ học, chuyên làm báo và sớm trở thành nhà văn độc lập. Năm 1909, theo lời khuyến khích của tòa soạn báo Temps présent (Thời đại chúng ta), Mauriac xuất bản tập thơ đầu tiên Les Mains jointes (Những bàn tay gắn kết), nhưng phải đến năm 1922 ông mới nổi tiếng là nhà viết tiểu thuyết có tài với cuốn Le Baiser aux lépreux (Nụ hôn cho người hủi).
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy không phải nhập ngũ vì lý do sức khỏe, François Mauriac vẫn tình nguyện tham gia tổ chức Hồng thập tự, phục vụ trong quân y viện hai năm ở Balcan, năm 1918 mới giải ngũ. Trong thập niên 1920, ông viết hàng loạt tiểu thuyết, trong đó có cuốn Le Désert de l'amour (Sa mạc tình yêu) được tặng giải thưởng cao nhất của Viện Hàn lâm Pháp. Thérèse Desqueyroux (1927) cũng là tác phẩm thành công, được giới phê bình coi là tiểu thuyết Pháp hay nhất đầu thế kỉ 20. Ổ rắn độc (1932) kể về một bi kịch gia đình với nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc được coi là điểm đỉnh trong sáng tác của Mauriac. Năm 1933, nhà văn được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp.
Thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, François Mauriac tham gia chống phát xít Đức chiếm đóng Pháp, ủng hộ Charles de Gaulle. Tiểu thuyết Le Cahier noir (Cuốn sổ đen) được trao tặng huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Sau năm 1945, Mauriac làm đại diện Pháp trong tổ chức UNESCO. Lần đầu tiên ông được đề cử tặng giải Nobel vào năm 1946, nhưng phải 6 năm sau mới được trao giải. Từ đó đến cuối đời, Mauriac xuất bản thêm 2 cuốn tiểu thuyết, hàng loạt hồi ký (chủ yếu về de Gaulle) và làm báo. Nhà văn mất tại Paris năm 1970.
Tác phẩm
Les Mains jointes (Những bàn tay gắn kết, 1909), thơ
L'Enfant chargé de chaines (Đứa con dưới gánh nặng xích xiềng, 1911), tiểu thuyết
La chair et le sang (Thịt và máu, 1920), tiểu thuyết
Le Baiser aux lépreux (Nụ hôn cho người hủi, 1922), tiểu thuyết
Le Fleuve de feu (Sông lửa, 1923), tiểu thuyết
Genitrix (Bà cụ tổ, 1923), tiểu thuyết
Orages (Giông tố, 1925), thơ
Le Désert de l'amour (Sa mạc tình yêu, 1925), tiểu thuyết
Ce qui était perdu (Điều đã mất, 1926), kí
Thérèse Desqueyroux (1927), tiểu thuyết
Souffrances du Chrétien (Những đau khổ của một tín đồ Kitô giáo, 1928), tiểu luận
Dieu et Mammon (Chúa và Mammon, 1929), tiểu luận
Souffrances et Bonheur du Chrétien (Đau khổ và niềm vui của một tín đồ Kitô giáo, 1931)
Le Nœud de vipères (Ổ rắn độc, 1932), tiểu thuyết
Le Mystère Frontenac (Bí ẩn nhà Frontenac, 1933), tiểu thuyết
La Fin de la nuit (Đêm tàn, 1935), tiểu thuyết
Anges noirs (Các thiên thần đen, 1936), truyện
La vie de Jésus (Đời Jésus, 1936), tiểu luận
Plongées (Lặn dưới nước, 1938), tập truyện
Asmodée (1938), kịch
Les chemins de la mer (Những con đường của biển, 1939), truyện
Sang d'Atys (Máu Atys, 1940), thơ
La pharisienne (Người đàn bà đạo đức giả, 1941), kịch
Le Cahier noir (Cuốn sổ đen, 1943), tiểu thuyết
Journal (Nhật ký, 1934-1950), hồi kí
L'Agneau (Con cừu non, 1954), tiểu thuyết
Mémoires intérieurs (Hồi ký nội tâm, 1959), luận văn
Ce que je crois (Điều tôi tin, 1962), hồi kí
Nghiên cứu về Charles de Gaulle (1964)
Un adolessent d'autrefois (Một đứa trẻ ngày nào, 1969), tiểu thuyết
Trois récits (Ba câu chuyện), tập truyện ngắn
10323-st

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét