Quả Cau (Q65)
Cau (danh pháp hai phần: Areca catechu), còn gọi là Tân lang hay Nhân lang, là một loài cây trong họ Cau (Arecaceae) được trồng nhiều tại khu vực nhiệt đới châu Á và Thái Bình Dương cũng như ở phía đông châu Phi. Nó là loại cây thân gỗ trung bình, cao tới 20 m, với đường kính thân cây có thể tới 20–30 cm. Các lá dài 1,5–2 m, hình lông chim với nhiều lá chét mọc dày dặc. Chi Cau có khoảng 50 loài. Ở Malabar, Areca dicksoni mọc hoang dã và những người nghèo dùng nó thay cho cau thực thụ.
Areca catechu được trồng vì giá trị kinh tế đáng kể của nó có từ việc thu hoạch quả. Quả cau chứa các ancaloit như arecain và arecolin, khi được nhai thì gây say và có thể hơi gây nghiện. Cau được trồng tại Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác.
Đảo Penang, ngoài khơi bờ biển phía tây bán đảo Mã Lai, được đặt tên theo từ pinang, tên gọi địa phương của cau.
Cây cau được trồng ở các khu vực ấm áp của châu Á để lấy quả khi còn non có màu xanh ánh vàng, kích thước xấp xỉ cỡ quả trứng gà, có chứa hạt kích thước cỡ hạt của quả cây sồi, hình nón với đáy phẳng và màu bên ngoài có ánh nâu; bên trong lốm đốm như hạt nhục đậu khấu. Quả của nó được bổ (hay cắt) thành các lát mỏng cuộn trong lá trầu không và têm vôi thành miếng trầu.
Người dùng nhai trầu rồi bỏ bã. Cau, trầu và vôi làm răng và môi người nhai đỏ thẫm. Vị trầu rất nóng và hăng. Quả cau có vị thơm nồng và hăng và có thể gây say khi lần đầu tiên sử dụng nó. Người Đài Loan là những người buôn bán và ăn trầu cau nổi tiếng thế giới. Hàng năm, họ nhập khẩu rất nhiều cau từ Sumatra, Malacca, Thái Lan, Việt Nam. Mo cau có thể dùng làm quạt. Lá cau khô được dùng làm chổi.
Vị hăng
Quả cau chứa một lượng lớn ta nanh (tannin), axít galic, tinh dầu gôm, một lượng nhỏ tinh dầu dễ bay hơi, li nhin (lignin), và một loạt các chất muối.
Quả cau chứa một lượng lớn ta nanh (tannin), axít galic, tinh dầu gôm, một lượng nhỏ tinh dầu dễ bay hơi, li nhin (lignin), và một loạt các chất muối.
Có 4 ancaloit (alkaloid) đã được tìm thấy trong quả cau - Arecolin, Arecain, Guraxin và một chất chưa rõ tên do số lượng quá ít. Arecolin tương tự như Pilocarpin về mặt tác động lên cơ thể. Arecain là chất hoạt hóa chính trong quả cau.
Sử dụng trong y học
Những thông tin y khoa của Wikipedia tiếng Việt chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến chuyên môn. Trước khi sử dụng những thông tin này, đề nghị liên hệ và nhận sự tư vấn của các bác sĩ chuyên môn.
Catechu thông thường được chiết từ quả cau bằng cách luộc chúng cho đến khi cô đặc được, nhưng Catechu tinh khiết sử dụng ở Anh được sản xuất từ Acacia catechu. Hoa cau có mùi thơm ngọt và ở Borneo người ta dùng nó như một loại bùa để chữa bệnh. Tại Ấn Độ, hạt cau được sử dụng để tẩy giun. Tác động của Arecain tương tự như của Muscarin và Pilocarpin khi sử dụng bên ngoài, còn khi sử dụng bên trong cơ thể nó gây ra hiện tượng co đồng tử.
Những thông tin y khoa của Wikipedia tiếng Việt chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến chuyên môn. Trước khi sử dụng những thông tin này, đề nghị liên hệ và nhận sự tư vấn của các bác sĩ chuyên môn.
Catechu thông thường được chiết từ quả cau bằng cách luộc chúng cho đến khi cô đặc được, nhưng Catechu tinh khiết sử dụng ở Anh được sản xuất từ Acacia catechu. Hoa cau có mùi thơm ngọt và ở Borneo người ta dùng nó như một loại bùa để chữa bệnh. Tại Ấn Độ, hạt cau được sử dụng để tẩy giun. Tác động của Arecain tương tự như của Muscarin và Pilocarpin khi sử dụng bên ngoài, còn khi sử dụng bên trong cơ thể nó gây ra hiện tượng co đồng tử.
Arecolin Hiđrôbrômua, một muối có giá trị thương phẩm, là một chất kích thích tuyến nước bọt mạnh hơn Pilocarpin và là một chất nhuận tràng mạnh hơn Eserin. Nó được sử dụng để chữa bệnh đau bụng cho ngựa.
Để tẩy giun, hạt ở dạng bột dùng từ 1-2 thìa trà. Ở dạng chiết xuất thành chất lỏng là khoảng 3,56 ml. Để chữa bệnh cho ngựa, dùng 0,065-0,097 gam arecolin. Đối với người, dùng không quá 0,0043 đến 0,0065 gam.
Vị trí trong văn hóa Việt
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có truyện Sự tích trầu cau. Câu chuyện này nhân cách hóa nguồn gốc của cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là những thứ được sử dụng để ăn trầu cũng như giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong các đám cưới.
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có truyện Sự tích trầu cau. Câu chuyện này nhân cách hóa nguồn gốc của cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là những thứ được sử dụng để ăn trầu cũng như giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong các đám cưới.
Câu chuyện kể về việc hai anh em Tân và Lang cùng người vợ của Tân. Chỉ vì một sự hiểu lầm rất nhỏ mà cả ba người đã biến thành cau, trầu và tảng đá vôi. Tân biến thành cây cau, Lang biến thành tảng đá và vợ Tân biến thành cây trầu quấn quanh cây cau để minh chứng cho sự trong sáng, tình nghĩa anh em, vợ chồng của họ. Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu trong các lễ cưới của người Việt.
Trầu cau là những thứ ngày xưa không thể thiếu trong các dịp xã giao hay lễ hội của người Việt; là một thứ đầu các lễ nghĩa. Phàm việc tế tự tang ma, cưới xin... việc gì cũng lấy miếng trầu làm trọng. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, dân thôn ai có việc gì đến nhà người nhà tôn trưởng hoặc vào cửa quan, cũng đem buồng cau vào là quý. Nhà tư gia cúng giỗ tổ tiên tất phải có cơi trầu. Khách đến chơi nhà, phải có trầu thiết đãi. Đám hương ẩm, tùy người tôn ty mà chia phần trầu có thứ tự, nếu kém một khẩu trầu có khi sinh sự tranh kiện nhau. Kẻ buôn bán, đã ăn trầu của nhau rồi thì phải nể nhau có câu rằng: miếng trầu là đầu thuốc cấm...
Tuy rằng ngày nay các phong tục tập quán này mất đi khá nhiều nhưng nó vẫn còn mang ý nghĩa sâu đậm trong văn hóa và văn chương Việt Nam.
Ngoài truyện cổ tích Trầu Cau, sau đây là một số thí dụ tiêu biểu:
Truyện “Chim Trĩ Trắng” viết, khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, khi sứ Việt sang triệu kiến, Chu Vương hỏi rằng: “người Việt xăm trổ để làm gì?” Sứ ta đáp: “người Việt xăm trổ để tránh thủy quái ăn thịt”, lại hỏi rằng: “thế cạo tóc để làm gì?” sứ ta đáp: “cạo tóc để đi rừng cho khỏi vướng”, Chu Vương hỏi tiếp: “thế ăn trầu để làm gì” sứ ta trả lời: “ăn trầu để tránh ô trừ uế”... Nghe xong Chu Vương phán rằng: “người Việt có văn hóa riêng của họ, không cùng giống với ta, nay cấp cho thủy xa trở về gìn giữ lấy tập quán, hai bên cùng nhau giao hảo”.
Thương nhau cau sáu bổ ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
—Ca dao
Quả cau nho nhỏ,
Cái vỏ vân vân.
Nay anh học gần,
Mai anh học xa
Lấy anh từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
—Ca dao
Mời Trầu
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá bạc như vôi.
—Thơ của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Thương nhau cau sáu bổ ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
—Ca dao
Quả cau nho nhỏ,
Cái vỏ vân vân.
Nay anh học gần,
Mai anh học xa
Lấy anh từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
—Ca dao
Mời Trầu
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá bạc như vôi.
—Thơ của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Những tác dụng bất ngờ của quả cau trong y học cổ truyền
Quả cau quen thuộc được xem là loại dược liệu rất hữu ích, đặc biệt trong điều trị giun sán, đau bụng hay bệnh sốt rét.
Vườn cúc họa mi 'thất thủ' vì quý cô Hà thành làm điều này / Nguyên nhân gây ung thư thanh quản ít người biết
Quả cau quen thuộc được xem là loại dược liệu rất hữu ích, đặc biệt trong điều trị giun sán, đau bụng hay bệnh sốt rét.
Vườn cúc họa mi 'thất thủ' vì quý cô Hà thành làm điều này / Nguyên nhân gây ung thư thanh quản ít người biết
Cau là loại quả rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Quả cau tách vỏ, kết hợp cùng lá trầu không và chút vôi tôi là món ăn vặt không thể thiếu với các bà, các cô thời xưa. Trầu cau cũng là những vật không thể thiếu trong các ngày lễ Tết, các đám hỷ, đám hiếu của người Việt. Chẳng thế mà từ lâu, hình ảnh lá trầu, quả cau đã đi vào những bài ca dao, những bài thơ cổ của người Việt và trường tồn đến tận bây giờ.
.Không chỉ là loại quả tượng trưng cho văn hóa, cau còn được dùng làm thuốc trong Đông y. Cuốn sách "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam" (NXB Khoa học và kỹ thuật), nơi tập hợp nhiều nghiên cứu của các chuyên gia dược học, y học cổ truyền hàng đầu Việt Nam đã chỉ ra rất nhiều công dụng chữa bệnh của quả cau.
Theo đó, trong y học cổ truyền, hạt cau có vị đắng, chát, tính ôn, vào các kinh tỳ, vị, đại tràng có tác dụng diệt trùng, tiêu tích, hành khí, lợi thủy. Hạt cau và hoạt chất arecolin (hoạt chất chính trong hạt cau) thường được dùng làm thuốc trị bệnh giun sán cho gia súc, gia cầm. Như đối với chó thì liều dùng trị sán của hạt cau là từ 4 đến 10g hoặc arecolin bromhydrat là từ 1 đến 15mg tùy theo.
Đối với người, hạt cau phối hợp với hạt bí ngô dùng làm thuốc diệt sán. Cách dùng như sau: Sáng sớm lúc đói bụng ăn từ 60 đến 120g hạt bí ngô cả vỏ hoặc từ 40 đến 100g hạt đã bóc vỏ. Hai giờ sau, uống nước sắc hạt cau với liều 30g cho trẻ em dưới 10 tuổi, từ 50 đến 60g cho phụ nữ và đàn ông bé nhỏ và 80g cho người lớn. Cách chế nước sắc hạt cau: đun với 500ml nước, sắc đặc đến khi còn khoảng 150 đến 200ml. Nhỏ dung dịch gelatin 2.5% để kết tủa hết tanin, sau đó lắng gạn và lọc, tiếp tục đun sôi cho đến khi còn khoảng 100 đến 150ml. Uống hết một lần. Sau khi dùng nước sắc hạt cau nửa giờ, uống một liều thuốc tẩy (magie sulfat 30g). Nằm nghỉ đợi thật buồn đi ngoài rồi đại tiện trong một chậu nước ấm, nhúng cả mông vào. Chú ý trước khi đun sôi, ngâm nước hạt cau sẽ có tác dụng hơn khi không ngâm nước. Dung dịch 1% arecolin bromhydrat có tác dụng gây thu nhỏ đồng tử mạnh, có thể dùng làm thuốc hạ nhãn áp trọng bệnh glôcôm, nhưng hiện nay ít dùng do có tác dụng phụ kích thích giác mạc.
Theo dược điển Trung Quốc, có hai loại vỏ cau gồm đại phúc bì (thu hái từ quả chưa chín, bỏ vỏ xanh ngoài) và đại phúc mao (thu hái từ quả chín, bỏ vỏ ngoài). Trong đó, đại phúc bì có vị cay, tính hơi ôn, vào năm kinh tỳ, phế, vị, đại tràng, tiểu tràng có tác dụng hạ khí, khoan trung, hành thủy, tiêu thũng. Đại phúc bì chữa thấp trở, khí trệ, phù toàn thân, bụng đầy trướng, đại tiện không thông, tiểu tiện khó khăn. Liều thường dùng là từ 6 đến 9g, sắc uống cùng nhiều vị thuốc khác.
Một số bài thuốc có cau trong y học dân gian:
- Chữa ngoại cảm phong hàn, nội thương thấp trệ, tức ngực, bụng đau, nôn mửa, miệng nhạt: đại phúc bì, bạch chỉ, tử tô, phục linh mỗi thứ 30g; bán hạ, bạch truật, trần bì, hậu phác, cát cánh mỗi thứ 60g cùng hoắc hương 90g, cam thảo 70g. Tất cả nghiền thành bột, uống mỗi lần 6g, hoặc sắc uống cho thêm 3 lát gừng sống và 1 quả đại táo.
- Trục giun đũa: dùng 21 hạt cau tán mịn, nhịn ăn, chia uống làm 2 đến 3 lần trong một ngày với nước sắc vỏ quả cau (theo Bách gia trân tàng của Hải Thượng Lãn Ông).
- Xổ sán xơ mít: buổi sáng, lúc đói, ăn từ 40 đến 100g hạt bí đỏ đã bóc vỏ. Sau đó 2 giờ, uống nước sắc hạt cau với liều từ 50 đến 80g tùy người, đun với 500ml nước đến khi còn 150ml. Uống một lần, sau đó nửa giờ uống một liều thuốc tẩy. Nằm nghỉ, đợi khi buồn đi ngoài thì đi vào một chậu nước ấm.
- Chữa sốt rét: hạt cau 2g, thường sơn 6g, thảo quả 2g, cát căn 4g, tất cả sắc với 600ml nước đến khi còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
- Chữa khó tiêu, bụng đầy trướng: hạt cau 10g, sơn tra 10g, sắc nước uống.
- Chữa đau bụng vì táo bón, kiết lỵ mót rặn, đi cầu khó: hạt cau 10g, đại hoàng 8g, mộc hương 6g, tất cả sắc uống.
- Chữa phù thũng, đại tiểu tiện không thông, bụng trướng: hạt cau 15g, trạch tả 15g, đại hoàng 8g, mộc thông 6g, sắc uống. Hoặc có thể dùng vỏ quả cau 10g, vỏ nấm phục linh 15g, mộc thông 6g, sắc uống.
- Chữa trẻ em bị chốc đầu: dùng hạt cau mài lấy bột hòa với dầu mè mà bôi.
- Cầm máu: lấy bột hạt cau rắc lên vết thương.
- Chữa liệt dương: rễ cau nổi (rễ màu trắng mọc lộ ra trên mặt đất) từ 20 đến 30g cắt nhỏ, sắc với 400ml nước đến khi còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
27319-TTT


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét