Hà Lan (2-tiếp theo)
Ảnh: Cung Hòa bình ở Hà Lan
Ảnh: Cung Hòa bình ở Hà Lan
Hà Lan có 20 công viên quốc gia và hàng trăm khu bảo tồn tự nhiên khác, bao gồm các hồ, bãi thạch nam, rừng thưa, đụn cát và các môi trường khác. Hầu hết chúng thuộc quyền sở hữu của cơ quan quốc gia về lâm nghiệp và bảo tồn tự nhiên mang tên Staatsbosbeheer, hoặc là một tổ chức tư nhân mang tên Natuurmonumenten. Phần thuộc Hà Lan của biển Wadden tại phía bắc có các bãi bùn và đất ngập nước, và được công nhận là một di sản thế giới UNESCO vào năm 2009.
Oosterschelde nguyên là cửa đông bắc của sông Scheldt, và được xác định là một công viên quốc gia vào năm 2002, trở thành công viên quốc gia lớn nhất tại Hà Lan về diện tích với 370 km². Nó bao gồm chủ yếu là vùng nước mặn của Oosterschelde, song cùng có các bãi bùn, bãi cỏ và bãi cạn. Do đa dạng về sinh vật biển, bao gồm các loài độc đáo cấp khu vực, nên công viên là địa điểm phổ biến đối với môn lặn biển. Các hoạt động khác gồm có chèo thuyền, đánh cá, đi xe đạp, và ngắm chim.
Về mặt địa lý sinh vật, Hà Lan nằm trên các khu châu Âu Đại Tây Dương và Trung Âu của vùng Circumboreal thuộc giới Boreal. Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, lãnh thổ Hà Lan thuộc vùng sinh thái rừng hỗn hợp Đại Tây Dương. Năm 1871, rừng tự nhiên cổ nguyên bản cuối cùng bị chặt hạ, và hầu hết rừng hiện nay là trồng một loại cây như thông Scots và các loài không phải là bản địa tại Hà Lan. Các khu rừng này được trồng trên các bãi thạch nham nhân tạo và cát trôi (bãi thạch nham chăn thả quá mức) (Veluwe).
Quần đảo Caribe
Curaçao, Aruba và Sint Maarten có vị thế các quốc gia cấu thành, còn Caribe Hà Lan là ba vùng đảo được xác định là các khu tự quản đặc biệt của Hà Lan. Các đảo này là bộ phận của Tiểu Antilles và có biên giới hàng hải với Pháp (Saint Barthélemy và Saint Martin), Anh (Anguilla), Venezuela, Saint Kitts và Nevis và Hoa Kỳ (Quần đảo Virgin thuộc Mỹ).
Bonaire là bộ phận của nhóm đảo ABC thuộc chuỗi đảo Leeward, nằm ngoài khơi bờ biển Venezuela. Chuỗi đảo Leeward có nguồn gốc hỗn hợp núi lửa và san hô. Saba và Sint Eustatius là bộ phận của nhóm đảo SSS. Chúng nằm về phía đông của Puerto Rico và quần đảo Virgin. Mặc dù thuộc về chuỗi đảo Leeward trong tiếng Anh, song tại địa phương họ được cho là thuộc chuỗi đảo Windward. Chuỗi đảo Windward đều có nguồn gốc núi lửa và địa hình lắm núi, có ít đất thích hợp cho nông nghiệp. Đỉnh cao nhất là núi Scenery với 887 m tại Saba. Đây là điểm cao nhất tại Hà Lan cũng như toàn thể Vương quốc Hà Lan.
Các đảo tại Caribe Hà Lan có khí hậu nhiệt đới, với thời tiết nóng quanh năm. Chuỗi đảo Leeward ấm hơn và khô hơn so với chuỗi đảo Windward. Vào mùa hè, chuỗi đảo Windward chịu tác động từ các cơn bão.
Chính trị
Hà Lan là quốc gia quân chủ lập hiến từ năm 1815, và nhờ các nỗ lực của Johan Rudolph Thorbecke nên có được thể chế dân chủ đại nghị từ năm 1848. Hà Lan được mô tả là một nhà nước dân chủ hiệp thương. Chính trị Hà Lan có đặc điểm là nỗ lực nhằm đạt được đồng thuận rộng rãi trong các vấn đề quan trọng, cả trong chính giới lẫn trong xã hội. Năm 2010, The Economist xếp hạng Hà Lan ở vị trí thứ 10 về chỉ số dân chủ.
Hà Lan là quốc gia quân chủ lập hiến từ năm 1815, và nhờ các nỗ lực của Johan Rudolph Thorbecke nên có được thể chế dân chủ đại nghị từ năm 1848. Hà Lan được mô tả là một nhà nước dân chủ hiệp thương. Chính trị Hà Lan có đặc điểm là nỗ lực nhằm đạt được đồng thuận rộng rãi trong các vấn đề quan trọng, cả trong chính giới lẫn trong xã hội. Năm 2010, The Economist xếp hạng Hà Lan ở vị trí thứ 10 về chỉ số dân chủ.
Quân chủ là nguyên thủ quốc gia, Willem-Alexander là quốc vương từ năm 2013. Theo hiến pháp, chức vụ này có quyền lực hạn chế, có quyền được nhận báo cáo và được tham vấn trong các vấn đề chính quyền. Tuỳ theo cá tính và quan hệ giữa quốc vương và các bộ trưởng, quân chủ có thể gây ảnh hưởng ngoài quyền lực được hiến pháp quy định.
Quyền lực hành pháp thuộc về Hội đồng Bộ trưởng, đây là hội đồng thảo luận của nội các Hà Lan. Nội các thường gồm 13 đến 16 bộ trưởng và một số lượng thay đổi các quốc vụ khanh. Có từ một đến ba bộ trưởng là bộ trưởng không bộ. Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, người này thường là thủ lĩnh đảng lớn nhất trong liên minh cầm quyền. Thủ tướng là một primus inter pares, tức không có thêm quyền lực rõ ràng nào so với quyền lực của các bộ trưởng khác. Mark Rutte là thủ tướng từ năm 2010; thủ tướng luôn là thủ lĩnh của chính đảng lớn nhất kể từ năm 1973.
Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội (Staten-Generaal) lưỡng viện, tức cơ quan có quyền lập pháp. 150 thành viên của Chúng nghị viện (Tweede Kamer), tức hạ viện, được bầu cử trực tiếp theo cơ sở đại diện tỷ lệ danh sách đảng. Các cuộc bầu cử được tổ chức bốn năm một lần, hoặc trước thời hạn trong trường hợp nội các sụp đổ. Hội đồng cấp tỉnh (Provinciale Staten) được bầu cử trực tiếp bốn năm một lần. Các thành viên của các hội đồng cấp tỉnh bầu ra 75 thành viên của Tham nghị viện (Eerste Kamer), tức thượng viện, cơ cấu này có quyền bác bỏ luật, song không được đề xuất hay sửa đổi chúng. Cả hai viện đều cử thành viên đến Nghị viện Benelux, đây là một hội đồng tham vấn.
Các công đoàn và các tổ chức giới chủ được tham vấn trước trong việc lập chính sách trong các lĩnh vực tài chính, kinh tế và xã hội. Họ tham gia họp thường xuyên với chính phủ trong Hội đồng Xã hội-Kinh tế. Cơ cấu này khuyến nghị chính phủ và khuyến nghị của họ không thể bỏ qua một cách dễ dàng.
Hà Lan có truyền thống lâu dài về khoan dung xã hội. Trong thế kỷ XIX, khi Giáo hội Kháng cách Hà Lan là quốc giáo, thì Công giáo La Mã và các giáo phái Tin Lành khác cũng như Do Thái giáo được dung thứ song bị kỳ thị. Đến cuối thế kỷ XIX, truyền thống khoan dung tôn giáo này chuyển đổi thành một hệ thống tách biệt, theo đó các nhóm tôn giáo cùng tồn tại riêng biệt và chỉ tương tác ở cấp độ chính phủ. Truyền thống khoan dung ảnh hưởng đến các chính sách tư pháp hình sự của Hà Lan về ma tuý tiêu khiển, mại dâm, quyền lợi LGBT, an tử, phá thai, nằm vào hàng tự do nhất trên thế giới.
Chính đảng
Hà Lan có hệ thống đa đảng, không đảng nào nắm thế đa số trong nghị viện kể từ thế kỷ XIX, và các nội các liên minh được hình thành. Kể từ khi thi hành phổ thông đầu phiếu vào năm 1919, hệ thống chính trị Hà Lan chịu sự chi phối của ba nhóm chính đảng: Mạnh nhất là những người dân chủ Cơ Đốc giáo, hiện có đại diện là Kêu gọi Dân chủ Cơ Đốc giáo (Christen-Democratisch Appèl, CDA); thứ nhì là lực lượng dân chủ xã hội với đại diện là Công đảng (Partij van de Arbeid, PvdA); và thứ ba là lực lượng tự do với đại diện chủ yếu là Đảng Nhân dân Tự do và Dân chủ (Volkspartij voor Vrijheid en Democratie, VVD).
Hà Lan có hệ thống đa đảng, không đảng nào nắm thế đa số trong nghị viện kể từ thế kỷ XIX, và các nội các liên minh được hình thành. Kể từ khi thi hành phổ thông đầu phiếu vào năm 1919, hệ thống chính trị Hà Lan chịu sự chi phối của ba nhóm chính đảng: Mạnh nhất là những người dân chủ Cơ Đốc giáo, hiện có đại diện là Kêu gọi Dân chủ Cơ Đốc giáo (Christen-Democratisch Appèl, CDA); thứ nhì là lực lượng dân chủ xã hội với đại diện là Công đảng (Partij van de Arbeid, PvdA); và thứ ba là lực lượng tự do với đại diện chủ yếu là Đảng Nhân dân Tự do và Dân chủ (Volkspartij voor Vrijheid en Democratie, VVD).
Các đảng này hợp tác trong các nội các liên minh, trong đó lực lượng dân chủ Cơ Đốc giáo luôn là một đối tác, hoặc là trong một liên minh trung-tả gồm lực lượng dân chủ Cơ Đốc giáo và dân chủ xã hội, hoặc là một liên minh trung-hữu gồm lực lượng dân chủ Cơ Đốc giáo và tự do. Trong thập niên 1970, hệ thống đảng phái trở nên biến động hơn, các đảng dân chủ Cơ Đốc giáo bị mất ghế, trong khi các đảng mới lại giành được thành công, như là D66. Trong bầu cử năm 1994, CDA để mất thế chi phối.
Tháng 2 năm 2010, nội các sụp đổ do PvdA từ chối gia hạn can thiệp của lực lượng Hà Lan tại Uruzgan, Afghanistan. Trong bầu cử vào tháng 6 cùng năm, đảng lớn nhất trước đó là CDA có kết quả thảm hại, VVD trở thành đảng lớn nhất với 31 ghế, tiếp theo là PvdA với 30 ghế. Đảng giành được thêm nhiều ghế nhất là Đảng Tự do (PVV) của Geert Wilders. VVD và PvdA giành được nhiều ghế nhất trong tổng tuyển cử vào tháng 12 năm 2012, họ lập chính phủ liên minh vào tháng 11 năm 2012. Trong tổng tuyển cử vào tháng 3 năm 2017, VVD duy trì là đảng lớn nhất, PvdA để mất số ghế rất lớn, PVV giành được vị trí thứ hai Sau 208 ngày đàm phán, VVD, D66, CDA và Liên minh Cơ Đốc giáo (CU) đồng ý thành lập chính phủ liên minh.
Hành chính
Hà Lan được phân chia thành 12 tỉnh, mỗi tỉnh nằm dưới quyền của một uỷ viên của quốc vương (Commissaris van de Koning), riêng tại tỉnh Limburg chức vụ này gọi là thống đốc (Gouverneur) song có nhiệm vụ tương tự. Các tỉnh được chia tiếp thành các khu tự quản (gemeenten) với số lượng là 380.
Hà Lan được phân chia thành 12 tỉnh, mỗi tỉnh nằm dưới quyền của một uỷ viên của quốc vương (Commissaris van de Koning), riêng tại tỉnh Limburg chức vụ này gọi là thống đốc (Gouverneur) song có nhiệm vụ tương tự. Các tỉnh được chia tiếp thành các khu tự quản (gemeenten) với số lượng là 380.
Hà Lan cũng được chia thành 21 khu vực trị thuỷ, chịu sự quản lý của một ban trị thuỷ (waterschap hoặc hoogheemraadschap), mỗi ban có quyền hạn trên các vấn đề liên quan đến quản lý nước. Việc thành lập các ban trị thuỷ có từ trước khi lập quốc, ban đầu tiên hình thành vào năm 1196. Các ban trị thuỷ của Hà Lan nằm trong số các thực thể dân chủ lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn tồn tại. Bầu cử trực tiếp các ban trị thuỷ được tiến hành bốn năm một lần.
Ba lãnh thổ đảo tại Caribe được gọi chung là Caribe Hà Lan, họ có vị thế là thực thể công cộng (openbare lichamen) thay vì là các khu tự quản. Họ không phải là bộ phận của tỉnh nào.
Một số lãnh thổ tách rời của Bỉ nằm lọt trong lãnh thổ Hà Lan và các lãnh thổ tách rời này lại bao quanh một số khu đất thuộc tỉnh Noord-Brabant, tuy nhiên do Hà Lan và Bỉ đều thuộc Khu vực Schengen nên công dân hai bên có thể qua lại các vùng tách rời này.
Hiệu kỳ Tỉnh Thủ phủ Thành phố lớn nhất Diện tích
(km2) Dân số
(2015) Mật độ
(trên km2)
Drenthe Drenthe Assen Assen 2.639 488.871 185
Flevoland Flevoland Lelystad Almere 1.415 403.280 285
Friesland Friesland Leeuwarden Leeuwarden 3.340 646.092 193
Gelderland Gelderland Arnhem Nijmegen 4.970 2.031.123 409
Groningen (tỉnh) Groningen Groningen Groningen 2.325 582.649 250
Limburg (Hà Lan) Limburg Maastricht Maastricht 2.150 1.115.805 519
Noord-Brabant Noord-Brabant 's-Hertogenbosch Eindhoven 4.914 2.495.107 507
Noord-Holland Noord-Holland Haarlem Amsterdam 2.665 2.775.617 1.039
Overijssel Overijssel Zwolle Enschede 3.324 1.142.360 344
Utrecht (tỉnh) Utrecht Utrecht Utrecht 1.383 1.268.489 916
Zeeland Zeeland Middelburg Middelburg 1.784 381.182 213
Zuid-Holland Zuid-Holland Den Haag Rotterdam 2.808 3.607.150 1.282
Tổng 33.718 16.922.460 512
Hiệu kỳ Tên gọi Thủ phủ Thành phố lớn nhất Diện tích[82]
(km2) Dân số[83]
(2012) Mật độ
(trên km2)
Bonaire Bonaire Kralendijk Kralendijk 288 17.408 60
Sint Eustatius Sint Eustatius Oranjestad Oranjestad 21 3.897 186
Saba Saba The Bottom The Bottom 13 1.991 153
Tổng 322 23.296 72
(km2) Dân số
(2015) Mật độ
(trên km2)
Drenthe Drenthe Assen Assen 2.639 488.871 185
Flevoland Flevoland Lelystad Almere 1.415 403.280 285
Friesland Friesland Leeuwarden Leeuwarden 3.340 646.092 193
Gelderland Gelderland Arnhem Nijmegen 4.970 2.031.123 409
Groningen (tỉnh) Groningen Groningen Groningen 2.325 582.649 250
Limburg (Hà Lan) Limburg Maastricht Maastricht 2.150 1.115.805 519
Noord-Brabant Noord-Brabant 's-Hertogenbosch Eindhoven 4.914 2.495.107 507
Noord-Holland Noord-Holland Haarlem Amsterdam 2.665 2.775.617 1.039
Overijssel Overijssel Zwolle Enschede 3.324 1.142.360 344
Utrecht (tỉnh) Utrecht Utrecht Utrecht 1.383 1.268.489 916
Zeeland Zeeland Middelburg Middelburg 1.784 381.182 213
Zuid-Holland Zuid-Holland Den Haag Rotterdam 2.808 3.607.150 1.282
Tổng 33.718 16.922.460 512
Hiệu kỳ Tên gọi Thủ phủ Thành phố lớn nhất Diện tích[82]
(km2) Dân số[83]
(2012) Mật độ
(trên km2)
Bonaire Bonaire Kralendijk Kralendijk 288 17.408 60
Sint Eustatius Sint Eustatius Oranjestad Oranjestad 21 3.897 186
Saba Saba The Bottom The Bottom 13 1.991 153
Tổng 322 23.296 72
Đối ngoại
Lịch sử chính sách đối ngoại của Hà Lan có đặc điểm là tính trung lập. Kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, Hà Lan trở thành một thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, đáng chú ý nhất là Liên Hiệp Quốc, NATO và Liên minh châu Âu. Kinh tế Hà Lan rất mở và dựa nhiều vào ngoại thương. Chính sách đối ngoại của Hà Lan hiện nay dựa trên bốn cam kết cơ bản: Hợp tác Đại Tây Dương, nhất thể hoá châu Âu, phát triển quốc tế và luật pháp quốc tế. Một trong các vấn đề quốc tế gây tranh luận nhiều quanh Hà Lan là chính sách tự do đối với các loại ma tuý nhẹ. Trong và sau thời kỳ hoàng kim Hà Lan, người Hà Lan gây dựng một đế quốc thương mại và thực dân. Các cựu thuộc địa quan trọng nhất của Hà Lan hiện là Suriname và Indonesia. Các quan hệ lịch sử kế thừa từ lịch sử thực dân này vẫn có ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại của Hà Lan, và nhiều người từ các quốc gia này thường trú tại Hà Lan.
Chính sách an ninh của Hà Lan chủ yếu dựa vào quyền thành viên trong NATO, và có nhiều vũ khí hạt nhân của đồng minh được đặt tại Hà Lan. Ngày 10 tháng 6 năm 2013, cựu thủ tướng Ruud Lubbers xác nhận sự tồn tại của 22 vũ khí hạt nhân tại căn cứ không quân Volkel thuộc tỉnh Noord-Brabant. Hà Lan cũng theo đuổi hợp tác quốc phòng trong Liên minh châu Âu, cả đa phương dưới nền tảng Liên minh Tây Âu và Chính sách An ninh và Phòng thủ châu Âu, và song phương như quân đoàn Đức-Hà Lan. Trong những năm gần đây, Hà Lan trở thành nước đóng góp quan trọng cho các nỗ lực duy trì hoà bình trên khắp thế giới, như tại Bosnia và Herzegovina.
Hà Lan tán thành mạnh mẽ nhất thể hoá châu Âu, và hầu hết các khía cạnh trong chính sách ngoại giao, kinh tế và thương mại của nước này được điều phối thông qua Liên minh châu Âu. Liên minh thuế quan hậu chiến giữa Hà Lan với Bỉ và Luxembourg (Benelux) mở đường cho việc hình thành Cộng đồng châu Âu (tiền thân của Liên minh châu Âu). Benelux bãi bỏ kiểm soát biên giới nội bộ, điều này trở thành một hình mẫu cho Hiệp ước Schengen trên quy mô lớn hơn. Hà Lan là nòng cốt trong Hiệp ước Maastricht năm 1992 và là nhà kiến tạo hiệp định Amsterdam ký kết vào năm 1998. Hà Lan do đó giữ vai trò quan trọng trong nhất thể hoá chính trị và tiền tệ châu Âu.
Truyền thống uyên bác về pháp luật khiến Hà Lan trở thành trụ sở của Tòa án Công lý Quốc tế; Toà án Yêu sách Iran-Hoa Kỳ; Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ; Tòa án Hình sự Quốc tế Rwanda; Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC). Ngoài ra, Hà Lan còn có trụ sở của tổ chức cảnh sát châu Âu Europol; và Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học.
Hà Lan nằm vào hàng các quốc gia viện trợ đứng đầu thế giới, là một trong năm quốc gia toàn cầu đáp ứng mục tiêu ODA lâu dài của Liên Hiệp Quốc. Quốc gia này có đóng góp lớn về viện trợ thông qua các kênh đa phương, đặc biệt là Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế, các chương trình của Liên minh châu Âu. Một lượng lớn viện trợ của Hà Lan cũng được chuyển qua các các tổ chức tư nhân (đồng tài trợ) có gần như toàn quyền trong lựa chọn các dự án.
Quân sự
Hà Lan có một trong các lực lượng quân đội thường trực lâu năm nhất tại châu Âu; được thành lập lần đầu bởi Maurits xứ Nassau. Quân đội Hà Lan được sử dụng trên khắp Đế quốc Hà Lan, và sau thất bại của Napoléon, quân đội Hà Lan chuyển sang chế độ quân dịch. Quân đội được triển khai trong Cách mạng Bỉ năm 1830 song không thành công. Sau năm 1830, họ chủ yếu được triển khai tại các thuộc địa của Hà Lan. Hà Lan duy trì trung lập trong các cuộc chiến tranh tại châu Âu cho đến khi bị xâm lược trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và nhanh chóng thất thủ trước Wehrmacht Đức vào tháng 5 năm 1940.
Hà Lan từ bỏ tình trung lập vào năm 1948 khi ký kết Hiệp ước Bruxelles vào năm 1949. Quân đội Hà Lan do đó là bộ phận của NATO trong chiến tranh lạnh tại châu Âu, được triển khai đến một số căn cứ tại Tây Đức. Trên 3.000 binh sĩ Hà Lan được phân vào Sư đoàn bộ binh số 2 của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Triều Tiên. Năm 1996, chế độ quân dịch bị đình chỉ, và quân đội Hà Lan lại chuyển sang chế độ chuyên nghiệp. Kể từ thập niên 1990, quân đội Hà Lan từng tham gia Chiến tranh Bosnia và Chiến tranh Kosovo, và nắm giữ một tỉnh của Iraq sau thất bại của Saddam Hussein, và tham gia trong chiến tranh tại Afghanistan.
Quân đội Hà Lan gồm có bốn nhánh, đều mang tiền tố Koninklijke (hoàng gia): Koninklijke Landmacht (KL) tức Lục quân Hoàng gia Hà Lan; Koninklijke Marine (KM) tức Hải quân Hoàng gia Hà Lan, bao gồm hàng không Hải quân và thuỷ quân lục chiến; Koninklijke Luchtmacht (KLu) tức Không quân Hoàng gia Hà Lan; Koninklijke Marechaussee (KMar) tức Đội hiến binh Hoàng gia, chịu trách nhiệm quân cảnh và kiểm soát biên giới.
Korps Commandotroepen là lực lượng hành quân đặc biệt của Lục quân Hà Lan, mở cửa cho nữ giới song do yêu cầu thể chất cực kỳ cao để huấn luyện ban đầu nên nữ giới hầu như không thể trở thành một đặc công. Bộ Quốc phòng Hà Lan sử dụng trên 70.000 nhân viên, bao gồm trên 20.000 nhân viên dân sự và trên 50.000 nhân viên quân sự tính đến năm 2011. Trong tháng 4 năm 2011, chính phủ tuyên bố một đợt tinh giản trong quân đội do cắt giảm chi tiêu chính phủ, bao gồm việc giảm số lượng xe tăng, chiến đấu cơ, tàu hải quân và quan chức cấp cao.
Kinh tế
Hà Lan có nền kinh tế phát triển, giữ một vai trò đặc biệt trong kinh tế châu Âu từ nhiều thế kỷ. Kể từ thế kỷ XVI, các ngành đóng tàu, ngư nghiệp, nông nghiệp, mậu dịch và ngân hàng là các lĩnh vực dẫn đầu của kinh tế Hà Lan. Hà Lan có tự do kinh tế ở mức độ cao, đứng thứ hai trong Báo cáo Thuận lợi Mậu dịch Toàn cầu năm 2016, và đứng thứ 5 về tính cạnh tranh theo đánh giá của Học viện Phát triển Quản lý Quốc tế Thuỵ Sĩ vào năm 2017. Ngoài ra, Hà Lan xếp thứ ba trong chỉ số sáng tạo toàn cầu GII năm 2017. Trong bảng xếp hạng chỉ số tự do kinh tế năm 2016, Hà Lan đứng thứ 17/178 quốc gia.
Hà Lan có nền kinh tế phát triển, giữ một vai trò đặc biệt trong kinh tế châu Âu từ nhiều thế kỷ. Kể từ thế kỷ XVI, các ngành đóng tàu, ngư nghiệp, nông nghiệp, mậu dịch và ngân hàng là các lĩnh vực dẫn đầu của kinh tế Hà Lan. Hà Lan có tự do kinh tế ở mức độ cao, đứng thứ hai trong Báo cáo Thuận lợi Mậu dịch Toàn cầu năm 2016, và đứng thứ 5 về tính cạnh tranh theo đánh giá của Học viện Phát triển Quản lý Quốc tế Thuỵ Sĩ vào năm 2017. Ngoài ra, Hà Lan xếp thứ ba trong chỉ số sáng tạo toàn cầu GII năm 2017. Trong bảng xếp hạng chỉ số tự do kinh tế năm 2016, Hà Lan đứng thứ 17/178 quốc gia.
Tính đến năm 2013, các đối tác mậu dịch chủ chốt của Hà Lan là Đức, Bỉ, Anh, Mỹ, Pháp, Ý, Trung Quốc và Nga. Hà Lan là một trong mười quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới. Thực phẩm là ngành lớn nhất, các ngành lớn khác là hoá chất, luyện kim, chế tạo máy, hàng điện tử, mậu dịch, dịch vụ và du lịch. Một số công ty Hà Lan có quy mô quốc tế là Randstad, Unilever, Heineken, KLM; trong lĩnh vực dịch vụ có ING, ABN AMRO, Rabobank; về hoá học có DSM, AKZO; về lọc dầu có Royal Dutch Shell; về máy móc điện tử có Philips, ASML; về điều hướng ô tô có TomTom).
Hà Lan có GDP danh nghĩa lớn thứ 18 thế giới, và GDP danh nghĩa bình quân đứng thứ 13 thế giới vào năm 2016 theo số liệu của IMF. Từ năm 1997 đến năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình là gần 4%, hơn nhiều mức trung bình của châu Âu. Tăng trưởng chậm lại đáng kể từ năm 2001 đến năm 2005 do suy thoái kinh tế toàn cầu, song tăng tốc lên 4,1% vào quý thứ ba của năm 2007. Trong quý 3 và 4 năm 2011, kinh tế Hà Lan lần lượt giảm 0,4% và 0,7%, do khủng hoảng nợ công châu Âu, trong khi vào quý 4 kinh tế khu vực đồng euro giảm 0,3%. Trong tháng 5 năm 2013, mức lạm phát là 2,8%/năm. Trong tháng 4 năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp là 8,2% (hoặc 6,7% theo định nghĩa của ILO). Trong tháng 4 năm 2017, con số này giảm xuống 5,1%. Hà Lan có hệ số GINI tương đối thấp. UNICEF xếp hạng Hà Lan ở vị trí thứ nhất về phúc lợi trẻ em trong số các quốc gia giàu có, cả trong năm 2007 và năm 2013.
Amsterdam là thủ đô tài chính và kinh doanh của Hà Lan. Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam (AEX) là bộ phận của Euronext, đây là sàn giao dịch chứng khoán cổ nhất trên thế giới và nằm trong số các thị trường chứng khoán lớn nhất châu Âu. Sàn nằm gần Quảng trường Dam tại trung tâm thành phố. Hà Lan là thành viên sáng lập euro, thay thế đơn vị tiền tệ cũ là "gulden". Tại Caribe Hà Lan, đô la Mỹ được sử dụng thay cho euro.
Hà Lan là bộ phận của liên minh tiền tệ khu vực đồng euro (lam đậm), và của thị trường chung châu Âu.
Vị trí của Hà Lan cho phép họ có ưu thế tiếp cận thị trường Anh và Đức, cùng với cảng Rotterdam lớn nhất châu Âu. Các bộ phận quan trọng khác của nền kinh tế là ngoại thương (chủ nghĩa thực dân Hà Lan bắt đầu với các doanh nghiệp tư nhân hợp tác như Công ty Đông Ấn Hà Lan), ngân hàng và giao thông. Hà Lan thành công trong việc giải quyết các vấn đề tài chính công và đình trệ việc làm trước các đối tác của họ tại châu Âu. Amsterdam là địa điểm du lịch nhộn nhịp thứ năm tại châu Âu với trên 4,2 triệu du khách quốc tế theo số liệu năm 2009. Kể từ khi mở rộng Liên minh châu Âu, có lượng lớn công nhân di cư đến Hà Lan từ các quốc gia Trung và Đông Âu.
Vị trí của Hà Lan cho phép họ có ưu thế tiếp cận thị trường Anh và Đức, cùng với cảng Rotterdam lớn nhất châu Âu. Các bộ phận quan trọng khác của nền kinh tế là ngoại thương (chủ nghĩa thực dân Hà Lan bắt đầu với các doanh nghiệp tư nhân hợp tác như Công ty Đông Ấn Hà Lan), ngân hàng và giao thông. Hà Lan thành công trong việc giải quyết các vấn đề tài chính công và đình trệ việc làm trước các đối tác của họ tại châu Âu. Amsterdam là địa điểm du lịch nhộn nhịp thứ năm tại châu Âu với trên 4,2 triệu du khách quốc tế theo số liệu năm 2009. Kể từ khi mở rộng Liên minh châu Âu, có lượng lớn công nhân di cư đến Hà Lan từ các quốc gia Trung và Đông Âu.
BrabantStad là một quan hệ đối tác giữa các khu tự quản Breda, Eindhoven, Helmond, 's-Hertogenbosch và Tilburg và tỉnh Noord-Brabant. BrabantStad là vùng kinh tế tăng trưởng nhanh nhất tại Hà Lan, với Brabantse Stedenrij (vùng thành phố đa trung tâm) là một trong các vùng hàng đầu toàn quốc, chỉ đứng sau khu thành thị lớn Randstad (Amsterdam, Rotterdam, Den Haag và Utrecht). Quan hệ đối tác tại Noord-Brabant nhắm mục tiêu hình thành một mạng lưới đô thị và biến tỉnh này có vị thế nổi bật là một vùng tri thức hàng đầu tại châu Âu. Với tổng dân số 1,5 triệu và 20% sản lượng công nghiệp của Hà Lan, BrabantStad là một trong các vùng quan trọng về kinh tế của nước này. Một phần tư số công việc trong vùng là về kỹ thuật, và công nghệ thông tin-truyền thông.
Trong số toàn bộ các đơn xin cấp bằng sáng chế của châu Âu trong lĩnh vực vật lý học và điện tử, có khoảng 8% đến từ tỉnh Noord-Brabant. Trong vùng mở rộng, BrabantStad là bộ phận của tam giác Eindhoven-Leuven-Aachen (ELAT). Hiệp định hợp tác kinh tế giữa ba thành phố tại ba quốc gia tạo ra một trong các vùng sáng tạo nhất trong Liên minh châu Âu (xét theo tiền đầu tư vào công nghệ và kinh tế tri thức). Thành công kinh tế của vùng này có ý nghĩa quan trọng đối với tính cạnh tranh quốc tế của Hà Lan; Amsterdam, Rotterdam, và Eindhoven cùng nhau tạo thành nền tảng cho kinh tế Hà Lan. Hà Lan tiếp tục là một trong các quốc gia hàng đầu châu Âu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, và là một trong những quốc gia đầu tư lớn nhất tại Hoa Kỳ.
Khí đốt
Kể từ thập niên 1950, Hà Lan phát hiện được trữ lượng khí đốt tự nhiên khổng lồ. Việc bán khí đốt tự nhiên mang lại doanh thu khổng lồ cho Hà Lan trong nhiều thập niên, thêm vào hàng trăm tỉ euro cho ngân sách chính phủ. Tuy nhiên, của cải từ nguồn năng lượng khổng lồ có tác động không lường trước được đến tính cạnh tranh của các lĩnh vực kinh tế khác, dẫn đến thuyết căn bệnh Hà Lan. Hà Lan được ước tính sở hữu 25% trữ lượng khí đốt tự nhiên trong Liên minh châu Âu.
Kể từ thập niên 1950, Hà Lan phát hiện được trữ lượng khí đốt tự nhiên khổng lồ. Việc bán khí đốt tự nhiên mang lại doanh thu khổng lồ cho Hà Lan trong nhiều thập niên, thêm vào hàng trăm tỉ euro cho ngân sách chính phủ. Tuy nhiên, của cải từ nguồn năng lượng khổng lồ có tác động không lường trước được đến tính cạnh tranh của các lĩnh vực kinh tế khác, dẫn đến thuyết căn bệnh Hà Lan. Hà Lan được ước tính sở hữu 25% trữ lượng khí đốt tự nhiên trong Liên minh châu Âu.
Ngoài than đá và khí đốt, Hà Lan không còn tài nguyên khai khoáng nào, và mỏ than cuối cùng bị đóng cửa vào năm 1974. Mỏ khí Groningen là một trong các mỏ khí đốt tự nhiên lớn nhất trên thế giới, nằm gần Slochteren. Việc khai thác này tạo được doanh thu 159 tỉ euro từ giữa thập niên 1970 đến năm 2009. Mỏ hoạt động dưới quyền của công ty quốc doanh Gasunie và khai thác chung bởi chính phủ, Royal Dutch Shell, và Exxon Mobil thông qua NAM (Nederlandse Aardolie Maatschappij). Việc khai thác khí đốt dẫn đến gia tăng chấn động mặt đất mạnh, một số trận có cường độ lên tới 3,6 độ theo thang cường độ Richter. Chi phí để sửa chữa thiệt hại, cải thiện kết cấu của các toà nhà, và bồi thường cho giá trị nhà bị suy giảm ước tính là 6,5 tỉ euro. Khoảng 35.000 ngôi nhà được cho là bị ảnh hưởng.
Nông nghiệp
Khu vực nông nghiệp của Hà Lan được cơ giới hoá cao độ, và tập trung mạnh vào xuất khẩu quốc tế. Ngành này sử dụng khoảng 4% lực lượng lao động của Hà Lan song tạo ra thặng dư lớn cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và đóng góp 21% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Hà Lan. Hà Lan xếp thứ hai thế giới về giá trị xuất khẩu nông nghiệp, chỉ sau Hoa Kỳ. với nguồn thu xuất khẩu là 80,7 tỉ euro vào năm 2014, tăng so với 75,4 tỉ euro vào năm 2012.
Trong một số thời điểm gần đây, Hà Lan từng cung cấp một phần tư tổng cà chua xuất khẩu trên thế giới, và việc buôn bán một phần ba xuất khẩu của thế giới về ớt, cà chua và dưa chuột là thông qua Hà Lan. Hà Lan cũng xuất khẩu một phần mười lăm táo tây của thế giới.
Ngoài ra, một phần đáng kể xuất khẩu nông sản của Hà Lan là cây tươi cắt, hoa, và củ hoa, chiếm hai phần ba tổng xuất khẩu toàn thế giới.
Giao thông
Tính lưu động trên các tuyến đường bộ của Hà Lan tăng trưởng liên tục kể từ thập niên 1950 và nay vượt trên 200 tỉ km qua lại mỗi năm, Khoảng một nửa số hành trình tại Hà Lan được tiến hành bằng ô tô, 25% bằng xe đạp, 20% bằng cách đi bộ, và 5% sử dụng giao thông công cộng. Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ là 139.295 km, gồm có 2.758 km đường cao tốc, Hà Lan có một trong các mạng lưới đường bộ dày đặc nhất trên thế giới, hơn nhiều so với Đức hay Pháp song thấp hơn Bỉ.
Tính lưu động trên các tuyến đường bộ của Hà Lan tăng trưởng liên tục kể từ thập niên 1950 và nay vượt trên 200 tỉ km qua lại mỗi năm, Khoảng một nửa số hành trình tại Hà Lan được tiến hành bằng ô tô, 25% bằng xe đạp, 20% bằng cách đi bộ, và 5% sử dụng giao thông công cộng. Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ là 139.295 km, gồm có 2.758 km đường cao tốc, Hà Lan có một trong các mạng lưới đường bộ dày đặc nhất trên thế giới, hơn nhiều so với Đức hay Pháp song thấp hơn Bỉ.
Khoảng 13% toàn bộ quãng đường được đi bằng phương tiện công cộng, đa số là dùng tàu hoả. Giống như nhiều quốc gia châu Âu khác, mạng lưới đường sắt Hà Lan gồm 3.013 km cũng khá dày đặc. Mạng lưới hầu hết tập trung vào dịch vụ đường sắt chở khách và liên kết gần như toàn bộ các thành thị chính. Các tuyến đường ray thường xuyên hoạt động, có một hoặc hai chuyến mỗi giờ trên các tuyến nhỏ, hai đến bốn chuyến mỗi giờ ở các tuyến trung bình, và đến tám chuyến mỗi giờ tại các tuyến nhộn nhịp nhất.
Đạp xe là một cách thức giao thông rộng khắp tại Hà Lan. Số km hành trình của xe đạp tương đương với tàu hoả. Người Hà Lan được ước tính sở hữu ít nhất 18 triệu xe đạp, nghĩa hơn mỗi người có hơn một xe, gấp đôi so với khoảng 9 triệu ô tô trên đường. Năm 2013, Liên đoàn người đi xe đạp châu Âu xếp hạng Hà Lan và Đan Mạch là các quốc gia thân thiện nhất với xe đạp tại châu Âu, song người Hà Lan (36%) xếp trên người Đan Mạch (23%) về việc xe đạp là cách thức thường xuyên nhất trong giao thông ngày bình thường. Hạ tầng cho việc đạp xe có tính toàn diện. Các tuyến đường nhộn nhịp có khoảng 35.000 km đường đi dành riêng cho xe đạp, được tách biệt về tự nhiên khỏi giao thông cơ giới. Các nút giao nhộn nhịp thường có các thiết bị đèn giao thông dành cho xe đạp. Tồn tại các cơ sở hạ tầng gửi xe đạp cỡ lớn, đặc biệt là trung trung tâm thành phố và tại các nhà ga đường sắt.
Rotterdam là cảng lớn nhất tại châu Âu, các sông Meuse và Rhine tạo ra con đường tiếp cận lý tưởng đến vùng thượng du nội lục xa đến Basel, Thuỵ Sĩ, và đến Pháp. Tính đến năm 2013, Rotterdam là cảng container lớn thứ tám trên thế giới, chuyên chở 440,5 triệu tấn hàng hoá mỗi năm. Các chức năng chính của cảng là công nghiệp hoá dầu và chuyên chở chung, và trung chuyển tàu. Cảng là một điểm trung chuyển quan trọng đối với hàng rời và giữa lục địa châu Âu với hải ngoại. Từ Rotterdam, hàng hoá được chuyên chở bằng tàu, sà lan sông, tàu hoả hoặc đường bộ. Năm 2007, tuyến đường sắt chở hàng nhanh Betuweroute giữa Rotterdam với Đức được hoàn thành.
Sân bay Schiphol nằm ngay tây nam của Amsterdam, là cảng hàng không quốc tế chính của Hà Lan, và là sân bay nhộn nhịp thứ ba tại châu Âu về lượng hành khách. Năm 2016, các sân bay của Royal Schiphol Group chuyên chở 70 triệu hành khách.
Nằm trong cam kết của mình về tính bền vững môi trường, chính phủ Hà Lan khởi xướng một kế hoạch thiết lập trên 200 trạm nạp điện cho các phương tiện chạy bằng điện trên khắp đất nước đến năm 2015. Việc triển khai được tiến hành bởi công ty năng lượng và tự động hoà ABB có trụ sở tại Thuỵ Sĩ và công ty khởi nghiệp Hà Lan Fastned, nhắm mục tiêu cung cấp ít nhất một trạm trong bán kính 50 km từ mọi gia đình tại Hà Lan.
Nhân khẩu
Dân số Hà Lan ước tính đạt 17.093.000 vào tháng 1 năm 2017. Đây là quốc gia có mật độ dân số cao nhất tại châu Âu nếu không kể các thành bang như Monaco hay Thành Vatican. Từ năm 1900 đến năm 1950, dân số Hà Lan tăng gần gấp đôi từ 5,1 lên 10 triệu. Từ năm 1950 đến năm 2000, dân số tiếp tục gia tăng, lên đến 15,9 triệu, song với tốc độ thấp hơn. Tốc độ gia tăng vào năm 2013 ước tính là 0,44%.
Tỷ suất sinh tại Hà Lan là 1,78 trẻ mỗi phụ nữ theo ước tính năm 2013, cao hơn so với nhiều quốc gia châu Âu khác, song dưới mức thay thế là 2,1 trẻ mỗi phụ nữ. Tuổi thọ dự tính khi sinh của Hà Lan ở mức cao, với 83,21 năm đối với trẻ gái và 78,93 đối với trẻ trai sơ sinh theo ước tính vào năm 2013.). Hà Lan có tỷ lệ di cư là 1,99 người di cư mỗi 1.000 cư dân một năm.
Đa số cư dân Hà Lan thuộc dân tộc Hà Lan. Theo ước tính vào năm 2005, thành phần dân tộc là 80,9% người Hà Lan, 2,4% người Indonesia, 2,4% người Đức, 2,2% người Thổ Nhĩ Kỳ, 2,0% người Suriname, 1,9% người Maroc, 0,8% người Antilles và Aruba, và 7,4% thuộc các nhóm khác. Có khoảng 150.000 đến 200.000 người sống tại Hà Lan là ngoại kiều, hầu hết tập trung tại và xung quanh Amsterdam và Den Haag, nay chiếm khoảng 10% dân số các thành phố này.
Người Hà Lan là dân tộc cao nhất trên thế giới, chiều cao trung bình là 1,81 m đối với nam giới trưởng thành và 1,67 m đối với nữ giới trưởng thành theo số liệu năm 2009. Cư dân miền nam trung bình thấp hơn 2 cm so với cư dân miền bắc.
Tại Rotterdam, gần một nửa cư dân có nguồn gốc di dân.
Theo Eurostat, vào năm 2010 có 1,8 triệu cư dân sinh tại nước ngoài tại Hà Lan, tương ứng với 11,1% dân số. Trong số đó, 1,4 triệu người (8,5%) sinh ngoài Liên minh châu Âu và 0,428 triệu người (2,6%) sinh tại các quốc gia khác trong Liên minh châu Âu. Vào ngày 21 tháng 11 năm 2016, có 3,8 triệu cư dân Hà Lan có ít nhất một cha/mẹ sinh tại nước ngoài ("nguồn gốc di dân").[ Trên một nửa người trẻ tuổi tại Amsterdam và Rotterdam có nguồn gốc ngoài phương tây. Người Hà Lan hoặc các hậu duệ của người Hà Lan cũng hiện diện trên khắp thế giới, đáng chú ý là tại Canada, Úc, Nam Phi và Hoa Kỳ. Theo điều tra năm 2006 tại Hoa Kỳ, có trên 5 triệu người Mỹ cho biết rằng họ có nguồn gốc Hà Lan thuần chủng hoặc một phần. Có gần 3 triệu người Afrikaner gốc Hà Lan sống tại Nam Phi. Năm 1940, có 290.000 người châu Âu và người lai Á-Âu tại Indonesia, song hầu hết rời khỏi nước này sau đó.
Theo Eurostat, vào năm 2010 có 1,8 triệu cư dân sinh tại nước ngoài tại Hà Lan, tương ứng với 11,1% dân số. Trong số đó, 1,4 triệu người (8,5%) sinh ngoài Liên minh châu Âu và 0,428 triệu người (2,6%) sinh tại các quốc gia khác trong Liên minh châu Âu. Vào ngày 21 tháng 11 năm 2016, có 3,8 triệu cư dân Hà Lan có ít nhất một cha/mẹ sinh tại nước ngoài ("nguồn gốc di dân").[ Trên một nửa người trẻ tuổi tại Amsterdam và Rotterdam có nguồn gốc ngoài phương tây. Người Hà Lan hoặc các hậu duệ của người Hà Lan cũng hiện diện trên khắp thế giới, đáng chú ý là tại Canada, Úc, Nam Phi và Hoa Kỳ. Theo điều tra năm 2006 tại Hoa Kỳ, có trên 5 triệu người Mỹ cho biết rằng họ có nguồn gốc Hà Lan thuần chủng hoặc một phần. Có gần 3 triệu người Afrikaner gốc Hà Lan sống tại Nam Phi. Năm 1940, có 290.000 người châu Âu và người lai Á-Âu tại Indonesia, song hầu hết rời khỏi nước này sau đó.
(Còn tiếp)
19619
19619

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét