Bỉ (36)
Vương quốc Bỉ
Royaume de Belgique (tiếng Pháp)
Koninkrijk België (Hà Lan)
Königreich Belgien (Tiếng Đức)
Flag of Belgium.svg Great coat of arms of Belgium.svg
Koninkrijk België (Hà Lan)
Königreich Belgien (Tiếng Đức)
Flag of Belgium.svg Great coat of arms of Belgium.svg
Tiêu ngữ
Tiếng Hà Lan: Eendracht maakt macht
Tiếng Pháp: L'union fait la force
Tiếng Đức: Einigkeit gibt Stärke
("Đoàn kết tạo nên sức mạnh")
Quốc ca
Brabançonne
Tiếng Hà Lan: Eendracht maakt macht
Tiếng Pháp: L'union fait la force
Tiếng Đức: Einigkeit gibt Stärke
("Đoàn kết tạo nên sức mạnh")
Quốc ca
Brabançonne
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua Philippe
Thủ tướng Charles Michel
Thủ đô Brussel/Bruxelles
Thành phố lớn nhất Brussel/Bruxelles
Địa lý
Diện tích 30.528 km² (hạng 136)
Diện tích nước 6,4 %
Múi giờ CET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập từ Hà Lan
4 tháng 10 năm 1830 Tuyên bố
Ngày 19 tháng 4 năm 1839 Công nhận
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức
Dân số ước lượng (2017) 11.303.528 người
Dân số (hạng 75)
Mật độ 370,3 người/km² (hạng 36)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 508,598 tỷ USD (hạng 38)
Bình quân đầu người: 44.881 USD (hạng 20)
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 470,179 tỷ USD (hạng 23)
Bình quân đầu người: 41.491 USD (hạng 17)
HDI (2014) 0,89 rất cao (hạng 21)
Hệ số Gini (2011) 26,3[4] thấp
Đơn vị tiền tệ Euro ¹ (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .be
¹ Trước năm 1999 là Franc Bỉ.
Bỉ, tên chính thức là Vương quốc Bỉ, là một quốc gia có chủ quyền tại Tây Âu. Bỉ có biên giới với Pháp, Hà Lan, Đức, Luxembourg, và có bờ biển ven biển Bắc. Đây là một quốc gia có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao, dân số khoảng 11 triệu người. Bỉ thuộc cả hai vùng văn hoá châu Âu German và châu Âu Latinh, với hai nhóm ngôn ngữ chính: Tiếng Hà Lan hầu hết được nói tại cộng đồng người Vlaanderen, đây là bản ngữ của 59% dân số; tiếng Pháp hầu hết được nói trong cư dân vùng Wallonie và là bản ngữ của khoảng 40% dân số; ngoài ra có khoảng 1% dân số là người nói tiếng Đức.
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua Philippe
Thủ tướng Charles Michel
Thủ đô Brussel/Bruxelles
Thành phố lớn nhất Brussel/Bruxelles
Địa lý
Diện tích 30.528 km² (hạng 136)
Diện tích nước 6,4 %
Múi giờ CET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập từ Hà Lan
4 tháng 10 năm 1830 Tuyên bố
Ngày 19 tháng 4 năm 1839 Công nhận
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức
Dân số ước lượng (2017) 11.303.528 người
Dân số (hạng 75)
Mật độ 370,3 người/km² (hạng 36)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 508,598 tỷ USD (hạng 38)
Bình quân đầu người: 44.881 USD (hạng 20)
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 470,179 tỷ USD (hạng 23)
Bình quân đầu người: 41.491 USD (hạng 17)
HDI (2014) 0,89 rất cao (hạng 21)
Hệ số Gini (2011) 26,3[4] thấp
Đơn vị tiền tệ Euro ¹ (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .be
¹ Trước năm 1999 là Franc Bỉ.
Bỉ, tên chính thức là Vương quốc Bỉ, là một quốc gia có chủ quyền tại Tây Âu. Bỉ có biên giới với Pháp, Hà Lan, Đức, Luxembourg, và có bờ biển ven biển Bắc. Đây là một quốc gia có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao, dân số khoảng 11 triệu người. Bỉ thuộc cả hai vùng văn hoá châu Âu German và châu Âu Latinh, với hai nhóm ngôn ngữ chính: Tiếng Hà Lan hầu hết được nói tại cộng đồng người Vlaanderen, đây là bản ngữ của 59% dân số; tiếng Pháp hầu hết được nói trong cư dân vùng Wallonie và là bản ngữ của khoảng 40% dân số; ngoài ra có khoảng 1% dân số là người nói tiếng Đức.
Về mặt lịch sử, Bỉ nằm tại một khu vực được gọi là Các vùng đất thấp (Nederlanden), lớn hơn một chút so với liên minh Benelux hiện nay. Khu vực này được gọi là Belgica trong tiếng Latinh theo tên tỉnh Gallia Belgica của La Mã (Roma). Từ cuối thời Trung cổ cho đến thế kỷ XVII, khu vực Bỉ là một trung tâm thương nghiệp và văn hoá thịnh vượng và có tính chất thế giới. Từ thế kỷ XVI cho đến khi Bỉ độc lập từ Hà Lan bằng Cách mạng Bỉ vào năm 1830, khu vực này trở thành chiến trường giữa các cường quốc chính tại châu Âu, do đó được mệnh danh là "Chiến trường của châu Âu", danh tiếng này được củng cố trong hai thế chiến của thế kỷ XX.
Ngày nay, Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến liên bang, có một hệ thống nghị viện. Quốc gia này được chia thành ba vùng và ba cộng đồng tồn tại cạnh nhau. Hai vùng lớn nhất là Vlaanderen tại miền bắc có cư dân nói tiếng Hà Lan, và Wallonie tại miền nam có hầu hết dân chúng nói tiếng Pháp. Vùng Thủ đô Bruxelles có quy chế song ngữ chính thức, và được vùng Vlaanderen bao quanh. Cộng đồng nói tiếng Đức nằm tại miền đông Wallonie. Các xung đột về đa dạng ngôn ngữ và chính trị liên quan tại Bỉ được phản ánh trong lịch sử chính trị và hệ thống quản lý phức tạp tại đây, với sáu chính quyền khác nhau.
Bỉ tham gia cách mạng công nghiệp, và trong thế kỷ XX từng sở hữu một số thuộc địa tại châu Phi. Nửa sau thế kỷ XX có dấu ấn là gia tăng căng thẳng giữa các công dân nói tiếng Hà Lan và nói tiếng Pháp, được thúc đẩy do khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá cũng như phát triển kinh tế không đồng đều của Vlaanderen và Wallonie. Sự đối lập liên tục này dẫn đến một vài cải cách sâu rộng, kết quả là chuyển đổi Bỉ từ một nhà nước đơn nhất sang nhà nước liên bang trong giai đoạn từ 1970 đến 1993. Bất chấp các cải cách này, căng thẳng giữa các nhóm vẫn tồn tại; chủ nghĩa ly khai có quy mô đáng kể tại Bỉ, đặc biệt là trong cộng đồng Vlaanderen; tồn tại pháp luật về ngôn ngữ gây tranh luận trong các khu tự quản đa ngôn ngữ.
Bỉ là một trong sáu quốc gia sáng lập của Liên minh châu Âu, và là nơi đặt trụ sở của Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu và nhiều tổ chức quốc tế lớn khác. Bỉ cũng là một thành viên sáng lập của Khu vực đồng euro, NATO, OECD và WTO, và là bộ phận của Liên minh Benelux và Khu vực Schengen. Bỉ là một quốc gia phát triển, có kinh tế thu nhập cao với trình độ tiên tiến, và được phân loại là "rất cao" trong chỉ số phát triển con người.
Tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung nước Bỉ được gọi là “比利時” (Bǐlìshí, âm Hán Việt: Bỉ Lợi Thời). Tên gọi “Bỉ” trong tiếng Việt là gọi tắt của “Bỉ Lợi Thời”. Tiếng Việt cuối thế kỷ 19 còn phiên âm địa danh này là Bắc Lợi Thì.
Quốc hiệu nước Bỉ (tiếng Hà Lan: België [ˈbɛlɣijə] ( nghe); tiếng Pháp: Belgique [bɛlʒik] (Speaker Icon.svg nghe); tiếng Đức: Belgien [ˈbɛlɡi̯ən] (Speaker Icon.svg nghe)) bắt nguồn từ Gallia Belgica, tên gọi của một tỉnh của La Mã ở phần cực bắc của Gallia nơi người Belgae sinh sống.
Lịch sử
Tiền độc lập
Trước khi người La Mã (Roma) xâm chiếm khu vực vào năm 100 TCN, đây là nơi cư trú của người Belgae, pha trộn giữa các dân tộc Celt và German. Các bộ lạc Frank thuộc nhóm German dần di cư đến trong thế kỷ V, đưa khu vực vào phạm vi cai trị của các quốc vương Meroving. Thay đổi từng bước về quyền lực trong thế kỷ VIII khiến vương quốc của người Frank phát triển thành Đế quốc Caroling.
Tiền độc lập
Trước khi người La Mã (Roma) xâm chiếm khu vực vào năm 100 TCN, đây là nơi cư trú của người Belgae, pha trộn giữa các dân tộc Celt và German. Các bộ lạc Frank thuộc nhóm German dần di cư đến trong thế kỷ V, đưa khu vực vào phạm vi cai trị của các quốc vương Meroving. Thay đổi từng bước về quyền lực trong thế kỷ VIII khiến vương quốc của người Frank phát triển thành Đế quốc Caroling.
Hiệp ước Verdun năm 843 phân chia khu vực giữa Trung Frank và Tây Frank, khu vực này trở thành một tập hợp các thái ấp có tính độc lập ít nhiều, và là chư hầu của Quốc vương Pháp hoặc của Hoàng đế La Mã Thần thánh. Nhiều thái ấp trong số này thống nhất thành Nederlanden thuộc Bourgogne trong các thế kỷ XIV và XV. Hoàng đế Karl V mở rộng liên minh cá nhân của Mười bảy tỉnh trong thập niên 1540, khiến nó vượt xa khỏi một liên minh cá nhân theo sắc lệnh năm 1549 và gia tăng ảnh hưởng của ông đối với Lãnh địa Thân vương-Giám mục Liège.
Chiến tranh Tám mươi Năm (1568–1648) phân chia Các Vùng đất thấp thành Các tỉnh Liên hiệp (Belgica Foederata trong tiếng Latin, "Nederlanden Liên bang") và Miền Nam Nederlanden (Belgica Regia, "Nederlanden Hoàng gia"). Miền Nam Nederlanden nằm dưới quyền cai trị liên tiếp của gia tộc Habsburg Tây Ban Nha và Habsburg Áo, bao gồm hầu hết lãnh thổ nay là Bỉ. Đây là chiến trường trong hầu hết chiến tranh Pháp-Tây Ban Nha và Pháp-Áo vào thế kỷ XVII-XVIII.
Sau các chiến dịch trong năm 1794 của Chiến tranh Cách mạng Pháp, Đệ Nhất Cộng hòa Pháp sáp nhập Các vùng đất thấp, kể cả các lãnh thổ chưa từng do gia tộc Habsburg cai trị trên danh nghĩa như Lãnh địa Thân vương-Giám mục Liège, kết thúc quyền cai trị của Áo trong khu vực. Các vùng đất thấp thống nhất thành Vương quốc Liên hiệp Hà Lan (Nederlanden) khi Đệ Nhất Đế chế Pháp giải thể vào năm 1815 sau thất bại của Napoléon Bonaparte.
Độc lập
Năm 1830, Cách mạng Bỉ dẫn đến các tỉnh miền nam ly khai khỏi Hà Lan và hình thành quốc gia Bỉ độc lập theo Công giáo và nằm dưới quyền giai cấp tư sản, có ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp, và trung lập. Leopold I đăng cơ làm quốc vương vào ngày 21 tháng 7 năm 1831, ngày này hiện là ngày quốc khánh Bỉ, kể từ đó Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện, có hiến pháp thế tục dựa theo bộ luật Napoléon. Quyền bầu cử vào lúc đầu bị hạn chế, song nam giới được cấp quyền phổ thông đầu phiếu sau tổng đình công năm 1893, còn với nữ giới là vào năm 1949.
Năm 1830, Cách mạng Bỉ dẫn đến các tỉnh miền nam ly khai khỏi Hà Lan và hình thành quốc gia Bỉ độc lập theo Công giáo và nằm dưới quyền giai cấp tư sản, có ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp, và trung lập. Leopold I đăng cơ làm quốc vương vào ngày 21 tháng 7 năm 1831, ngày này hiện là ngày quốc khánh Bỉ, kể từ đó Bỉ theo chế độ quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện, có hiến pháp thế tục dựa theo bộ luật Napoléon. Quyền bầu cử vào lúc đầu bị hạn chế, song nam giới được cấp quyền phổ thông đầu phiếu sau tổng đình công năm 1893, còn với nữ giới là vào năm 1949.
Các chính đảng chủ yếu trong thế kỷ XIX là Đảng Công giáo và Đảng Tự do, còn Công đảng xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Tiếng Pháp lúc đầu là ngôn ngữ chính thức duy nhất, ngôn ngữ này được giai cấp quý tộc và tư sản chấp thuận. Tuy nhiên, tiếng Pháp dần để mất tầm quan trọng về tổng thể từ khi tiếng Hà Lan cũng được công nhận. Sự công nhận này được chính thức hoá vào năm 1898 và đến năm 1967 thì Quốc hội chấp nhận một phiên bản tiếng Hà Lan của Hiến pháp.
Hội nghị Berlin 1885 nhượng quyền kiểm soát Nhà nước Tự do Congo cho Quốc vương Leopold II với tư cách là tài sản cá nhân của ông. Từ khoảng năm 1900 quốc tế gia tăng quan tâm về đối xử khắc nghiệt và dã man đối với cư dân Congo dưới quyền Leopold II, đối với ông Congo chủ yếu là một nguồn thu nhập từ ngà voi và cao su. Năm 1908, những phản đối này khiến nhà nước Bỉ đảm nhận trách nhiệm cai trị thuộc địa, từ đó lãnh thổ này được gọi là Congo thuộc Bỉ.
Đức xâm chiếm Bỉ vào tháng 8 năm 1914, động thái này nằm trong Kế hoạch Schlieffen nhằm tấn công Pháp, và hầu hết giao tranh trên Mặt trận phía Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra tại miền tây của Bỉ. Bỉ nắm quyền kiểm soát các thuộc địa Ruanda-Urundi của Đức (nay là Rwanda và Burundi) trong chiến tranh, và đến năm 1924 Hội Quốc Liên uỷ thác chúng cho Bỉ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Bỉ sáp nhập các huyện Eupen và Malmedy của Phổ vào năm 1925, đây là nguyên nhân xuất hiện một thiểu số nói tiếng Đức trong nước.
Người Đức lại xâm chiếm Bỉ vào tháng 5 năm 1940, và 40.690 người Bỉ bị giết trong cuộc chiếm đóng và nạn diệt chủng sau đó, hơn một nửa trong số đó là người Do Thái. Đồng Minh tiến hành giải phóng Bỉ từ tháng 9 năm 1944 đến tháng 2 năm 1945. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một cuộc tổng đình công buộc Quốc vương Leopold III phải thoái vị vào năm 1951, do nhiều người Bỉ cảm thấy ông đã cộng tác với Đức trong chiến tranh. Congo thuộc Bỉ giành độc lập vào năm 1960 trong Khủng hoảng Congo; Ruanda-Urundi tiếp bước độc lập hai năm sau đó. Bỉ gia nhập NATO với tư cách thành viên sáng lập, và thành lập nhóm Benelux cùng Hà Lan và Luxembourg.
Bỉ trở thành một trong sáu thành viên sáng lập của Cộng đồng Than Thép châu Âu vào năm 1951 và của Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu và Cộng đồng Kinh tế châu Âu thành lập năm 1957. Bỉ hiện là nơi đặt trụ sở các cơ quan hành chính và tổ chức chủ yếu của Liên minh châu Âu, như Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu cùng các phiên họp đặc biệt và uỷ ban của Nghị viện châu Âu.
Địa lý
Bỉ có biên giới với Pháp (620 km), Đức (167 km), Luxembourg (148 km) và Hà Lan (450 km). Tổng diện tích là 30.528 km², trong đó diện tích đất là 30.278 km². Lãnh thổ Bỉ giới hạn giữa vĩ tuyến 49°30 và 51°30 Bắc, giữa kinh tuyến 2°33 và 6°24 Đông.
Bỉ có biên giới với Pháp (620 km), Đức (167 km), Luxembourg (148 km) và Hà Lan (450 km). Tổng diện tích là 30.528 km², trong đó diện tích đất là 30.278 km². Lãnh thổ Bỉ giới hạn giữa vĩ tuyến 49°30 và 51°30 Bắc, giữa kinh tuyến 2°33 và 6°24 Đông.
Bỉ có ba vùng địa lý chính; đồng bằng duyên hải nằm tại tây bắc và cao nguyên trung tâm đều thuộc bồn địa Anh-Bỉ, còn vùng cao Ardenne tại đông nam thuộc vành đai kiến tạo sơn Hercynia. Ngoài ra, bồn địa Paris vươn tới một khu vực nhỏ tại mũi cực nam của Bỉ, gọi là Lorraine thuộc Bỉ.
Đồng bằng ven biển gồm chủ yếu là các đụn cát và đất quai đê. Vùng nội lục sâu hơn có cảnh quan bằng phẳng và dần cao lên, có nhiều sông chảy qua, với các thung lũng phì nhiêu và đồng bằng nhiều cát Campine (Kempen) tại đông bắc. Các vùng đồi và cao nguyên có rừng rậm rạp thuộc khu vực Ardenne có địa hình gồ ghề và nhiều đá hơn, với các hang động và hẻm núi nhỏ. Ardenne trải dài về phía tây sang Pháp, còn về phía đông nối liền đến Eifel tại Đức qua cao nguyên Hautes Fagnes/Hohes Venn, trên đó có đỉnh Signal de Botrange cao nhất Bỉ với độ cao 694 m.
Bỉ thuộc vùng khí hậu đại dương, có lượng mưa đáng kể trong tất cả các mùa (phân loại khí hậu Köppen: Cfb), giống như hầu hết phần tây bắc châu Âu. Nhiệt độ trung bình thấp nhất là trong tháng 1 với 3 °C, và cao nhất là trong tháng 7 với 18 °C. Lượng giáng thuỷ trung bình tháng dao động từ 54 mm vào tháng 2 và tháng 4 đến 78 mm vào tháng 7. Tính trung bình trong giai đoạn 2000-2006, nhiệt độ thấp nhất trong ngày là 7 °C và cao nhất là 14 °C, còn lượng mưa hàng tháng là 74 mm; lần lượt cao hơn khoảng 1 °C và 10 mm so với các giá trị bình thường của thế kỷ trước.
Về địa lý thực vật, Bỉ nằm giữa các tỉnh châu Âu Đại Tây Dương và Trung Âu thuộc khu vực Circumboreal trong giới Boreal. Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, lãnh thổ Bỉ thuộc vùng sinh thái rừng hỗn hợp Đại Tây Dương. Do Bỉ có mật độ dân số cao, công nghiệp hoá và có vị trí tại trung tâm của Tây Âu, nên quốc gia này vẫn phải đối diện với một số vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, do các nỗ lực kiên định của các cấp chính quyền, nên tình trạng môi trường tại Bỉ dần được cải thiện. Hơn thế, Bỉ còn là một trong các quốc gia có tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất tại châu Âu, đặc biệt là vùng Vlaanderen có tỷ lệ phân loại chất thải cao nhất châu lục. Gần 75% chất thải sinh hoạt được tái sử dụng, tái chế hoặc dùng làm phân bón.
Các tỉnh
Wapen van de provincie Antwerpen (klein).svg
AntwerpenWapen van Oost-Vlaanderen.svg Oost-
VlaanderenCoat of arms of Flemish Brabant.svg Vlaams-
BrabantHainaut Modern Arms.svg
HainautArmoiries Principauté de Liège.svg LiègeBlason Limburg province Belgique.svg
LimburgArmoiries Luxembourg province.svg
LuxembourgBlason namur prov.svg
NamurCoat of arms of Walloon Brabant.svg Walloon BrabantKlein wapen van West-Vlaanderen.svg West-
Vlaanderen
Vlaanderen
Wallonie
Bruxelles
Lãnh thổ Bỉ được phân thành ba vùng, trong đó vùng Vlaanderen và vùng Wallonie được chia tiếp thành các tỉnh; riêng vùng Thủ đô Bruxelles không phải là một tỉnh hoặc là một phần của tỉnh nào.
Wapen van de provincie Antwerpen (klein).svg
AntwerpenWapen van Oost-Vlaanderen.svg Oost-
VlaanderenCoat of arms of Flemish Brabant.svg Vlaams-
BrabantHainaut Modern Arms.svg
HainautArmoiries Principauté de Liège.svg LiègeBlason Limburg province Belgique.svg
LimburgArmoiries Luxembourg province.svg
LuxembourgBlason namur prov.svg
NamurCoat of arms of Walloon Brabant.svg Walloon BrabantKlein wapen van West-Vlaanderen.svg West-
Vlaanderen
Vlaanderen
Wallonie
Bruxelles
Lãnh thổ Bỉ được phân thành ba vùng, trong đó vùng Vlaanderen và vùng Wallonie được chia tiếp thành các tỉnh; riêng vùng Thủ đô Bruxelles không phải là một tỉnh hoặc là một phần của tỉnh nào.
Tỉnh Tên tiếng Hà Lan Tên tiếng Pháp Tên tiếng Đức Thủ phủ Thành phố lớn nhất Diện tích
(km2) Dân số
(1/1/2016)
Antwerpen Antwerpen Anvers Antwerpen Antwerpen
(tiếng Hà Lan: Antwerpen)
(tiếng Pháp: Anvers) Antwerpen
(tiếng Hà Lan: Antwerpen)
(tiếng Pháp: Anvers) 2.860 1.824.136
Oost-Vlaanderen Oost-Vlaanderen Flandre-Orientale Ostflandern Gent
(tiếng Hà Lan: Gent)
(tiếng Pháp: Gand) Ghent
(tiếng Hà Lan: Gent)
(tiếng Pháp: Gand) 2.982 1.486.722
Vlaams-Brabant Vlaams-Brabant Brabant flamand Flämisch Brabant Leuven
(tiếng Pháp: Louvain)
(tiếng Đức: Löwen) Leuven
(tiếng Pháp: Louvain) 2.106 1.121.693
Hainaut Henegouwen Hainaut Hennegau Mons
(tiếng Hà Lan: Bergen) Charleroi 3.800 1.337.157
Liège Luik Liège Lüttich Liège
(tiếng Hà Lan: Luik)
(tiếng Đức: Lüttich) Liège
(tiếng Hà Lan: Luik)
(tiếng Đức: Lüttich) 3.844 1.098.688
Limburg Limburg Limbourg Limburg Hasselt Hasselt 2,414 863,425
Luxembourg Luxemburg Luxembourg Luxemburg Arlon
(tiếng Hà Lan: Aarlen)
(tiếng Đức: Arel) Arlon
(tiếng Hà Lan: Aarlen)
(tiếng Đức: Arel) 4.443 280.327
Namur Namen Namur Namur Namur
(tiếng Hà Lan: Namen) Namur
(tiếng Hà Lan: Namen) 3.664 489.204
Walloon Brabant Waals-Brabant Brabant wallon Wallonisch Brabant Wavre
(tiếng Hà Lan: Waver) Braine-l'Alleud
(tiếng Hà Lan: Eigenbrakel) 1.093 396.840
West-Vlaanderen West-Vlaanderen Flandre-Occidentale Westflandern Brugge
(tiếng Hà Lan: Brugge)
(tiếng Pháp: Bruges)
(tiếng Đức: Brügge) Brugge
(tiếng Hà Lan: Brugge)
(tiếng Pháp: Bruges)
(tiếng Đức: Brügge) 3.151 1.181.828
(km2) Dân số
(1/1/2016)
Antwerpen Antwerpen Anvers Antwerpen Antwerpen
(tiếng Hà Lan: Antwerpen)
(tiếng Pháp: Anvers) Antwerpen
(tiếng Hà Lan: Antwerpen)
(tiếng Pháp: Anvers) 2.860 1.824.136
Oost-Vlaanderen Oost-Vlaanderen Flandre-Orientale Ostflandern Gent
(tiếng Hà Lan: Gent)
(tiếng Pháp: Gand) Ghent
(tiếng Hà Lan: Gent)
(tiếng Pháp: Gand) 2.982 1.486.722
Vlaams-Brabant Vlaams-Brabant Brabant flamand Flämisch Brabant Leuven
(tiếng Pháp: Louvain)
(tiếng Đức: Löwen) Leuven
(tiếng Pháp: Louvain) 2.106 1.121.693
Hainaut Henegouwen Hainaut Hennegau Mons
(tiếng Hà Lan: Bergen) Charleroi 3.800 1.337.157
Liège Luik Liège Lüttich Liège
(tiếng Hà Lan: Luik)
(tiếng Đức: Lüttich) Liège
(tiếng Hà Lan: Luik)
(tiếng Đức: Lüttich) 3.844 1.098.688
Limburg Limburg Limbourg Limburg Hasselt Hasselt 2,414 863,425
Luxembourg Luxemburg Luxembourg Luxemburg Arlon
(tiếng Hà Lan: Aarlen)
(tiếng Đức: Arel) Arlon
(tiếng Hà Lan: Aarlen)
(tiếng Đức: Arel) 4.443 280.327
Namur Namen Namur Namur Namur
(tiếng Hà Lan: Namen) Namur
(tiếng Hà Lan: Namen) 3.664 489.204
Walloon Brabant Waals-Brabant Brabant wallon Wallonisch Brabant Wavre
(tiếng Hà Lan: Waver) Braine-l'Alleud
(tiếng Hà Lan: Eigenbrakel) 1.093 396.840
West-Vlaanderen West-Vlaanderen Flandre-Occidentale Westflandern Brugge
(tiếng Hà Lan: Brugge)
(tiếng Pháp: Bruges)
(tiếng Đức: Brügge) Brugge
(tiếng Hà Lan: Brugge)
(tiếng Pháp: Bruges)
(tiếng Đức: Brügge) 3.151 1.181.828
Chính trị
Philippe
Quốc vương từ năm 2013
Charles Michel
Thủ tướng từ năm 2014
Bỉ có chế độ quân chủ lập hiến và quốc dân, và chế độ dân chủ nghị viện liên bang. Nghị viện liên bang Bỉ gồm có một tham nghị viện (thượng viện) và chúng nghị viện (hạ viện). Thượng viện gồm có 50 thượng nghị sĩ được bổ nhiệm từ nghị viện của các cộng đồng và vùng, cùng 10 thượng nghị sĩ được bầu thêm. Trước năm 2014, hầu hết thành viên Thượng viện được bầu cử trực tiếp. 150 đại biểu của Hạ viện được bầu theo một hệ thống đại diện tỷ lệ từ 11 khu vực bầu cử. Bỉ quy định nghĩa vụ bầu cử và do đó duy trì tỷ lệ cử tri bỏ phiếu vào hàng cao nhất thế giới.
Philippe
Quốc vương từ năm 2013
Charles Michel
Thủ tướng từ năm 2014
Bỉ có chế độ quân chủ lập hiến và quốc dân, và chế độ dân chủ nghị viện liên bang. Nghị viện liên bang Bỉ gồm có một tham nghị viện (thượng viện) và chúng nghị viện (hạ viện). Thượng viện gồm có 50 thượng nghị sĩ được bổ nhiệm từ nghị viện của các cộng đồng và vùng, cùng 10 thượng nghị sĩ được bầu thêm. Trước năm 2014, hầu hết thành viên Thượng viện được bầu cử trực tiếp. 150 đại biểu của Hạ viện được bầu theo một hệ thống đại diện tỷ lệ từ 11 khu vực bầu cử. Bỉ quy định nghĩa vụ bầu cử và do đó duy trì tỷ lệ cử tri bỏ phiếu vào hàng cao nhất thế giới.
Quốc vương (hiện là Philippe) là nguyên thủ quốc gia, song chỉ được hưởng đặc quyền hạn chế. Ông bổ nhiệm các bộ trưởng cùng thủ tướng theo tín nhiệm của Hạ viện để hình thành chính phủ liên bang. Hội đồng Bộ trưởng gồm không quá 15 thành viên. Hội đồng Bộ trưởng phải gồm một số lượng cân bằng các thành viên nói tiếng Hà Lan và nói tiếng Pháp, thủ tướng có thể được ngoại lệ. Hệ thống tư pháp dựa trên dân luật và có nguồn gốc từ bộ luật Napoléon. Toà huỷ án (Cour de cassation) là toà án cấp cuối cùng, còn Toà chống án (Cour d'appel) dưới đó một cấp.
Văn hoá chính trị
Các thể chế chính trị tại Bỉ có tính phức tạp, hầu hết quyền lực chính trị được tổ chức xoay quanh nhu cầu đại diện cho các cộng đồng văn hoá chủ yếu.
Các thể chế chính trị tại Bỉ có tính phức tạp, hầu hết quyền lực chính trị được tổ chức xoay quanh nhu cầu đại diện cho các cộng đồng văn hoá chủ yếu.
Kể từ khoảng năm 1970, các chính đảng quốc gia quan trọng tại Bỉ bị phân chia thành các bộ phận riêng biệt, chủ yếu đại diện cho các lợi ích chính trị và ngôn ngữ của các cộng đồng tương ứng. Các chính đảng chủ yếu trong mỗi cộng đồng gần với chính trị trung dung, song vẫn được phân thành ba nhóm chính: Dân chủ Cơ Đốc giáo, Tự do và Dân chủ Xã hội. Các đảng đáng chú ý hơn phát triển mạnh từ giữa thế kỷ trước, chủ yếu xoay quanh chủ đề ngôn ngữ, dân tộc hay môi trường và gần đây có các đảng nhỏ hơn tập trung vào một số tính chất tự do riêng biệt.
Một chuỗi các chính phủ liên minh Dân chủ Cơ Đốc giáo tồn tại suốt từ năm 1958 đã bị phá vỡ vào năm 1999 sau khủng hoảng dioxin lần thứ nhất, đây là một vụ bê bối ô nhiễm thực phẩm quy mô lớn. Một "liên minh cầu vồng" xuất hiện từ sáu đảng: Tự do, Dân chủ Xã hội và Xanh của Vlaanderen và Pháp ngữ. Sau đó, một "liên minh tía" gồm lực lượng Tự do và Dân chủ Xã hội được hình thành sau khi các Đảng Xanh mất hầu hết ghế trong bầu cử năm 2003.
Chính phủ dưới quyền Thủ tướng Guy Verhofstadt từ năm 1999 đến năm 2007 đạt được cân bằng ngân sách, có một số cải cách thuế, một cải cách thị trường lao động, lên kế hoạch kết thúc sử dụng năng lượng hạt nhân và đưa ra khung pháp lý cho phép truy tố nghiêm ngặt hơn tội phạm chiến tranh và khoan dung hơn đối với sử dụng ma tuý nhẹ. Những giới hạn nhằm cản trở án tử được giảm bớt và đồng tính tuyến ái được hợp pháp hoá. Chính phủ thúc đẩy ngoại giao tích cực tại châu Phi và phản đối xâm chiếm Iraq. Đây là quốc gia duy nhất không có giới hạn tuổi về án tử.
Liên minh của Verhofstadt đạt được kết quả kém trong bầu cử vào tháng 6 năm 2007, và Bỉ lâm vào khủng hoảng chính trị trong hơn một năm. Nhiều nhà quan sát suy đoán cuộc khủng hoảng có thể khiến nước Bỉ bị phân chia. Từ 21 tháng 12 năm 2007 đến 20 tháng 3 năm 2008, chính phủ lâm thời của Verhofstadt nắm quyền. Sau đó, chính phủ mới dưới quyền Yves Leterme thuộc phe Dân chủ Cơ Đốc giáo Vlaanderen nhậm chức. Tuy nhiên, đến ngày 15 tháng 7 năm 2008, Leterme tuyên bố nội các từ chức vì không có tiến triển trong cải cách hiến pháp. Đến tháng 12 năm 2008, ông lại đề xuất từ chức trước quốc vương sau một cuộc khủng hoảng quanh việc bán Fortis cho BNP Paribas. Lần này, đề xuất từ chức của ông được chấp thuận và nhân vật cùng đảng là Herman Van Rompuy tuyên thệ làm thủ tướng vào ngày 30 tháng 12 năm 2008.
Sau khi Herman Van Rompuy được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng châu Âu vào năm 2009, ông đề xuất được từ chức vào ngày 25 tháng 11 năm 2009. Ngay sau đó, chính phủ mới dưới quyền Thủ tướng Yves Leterme tuyên thệ. Đến ngày 22 tháng 4 năm 2010, Leterme lại đề xuất với quốc vương cho nội các của ông từ chức sau khi một đối tác là OpenVLD rút khỏi chính phủ, và được quốc vương chính thức chấp thuận vào ngày 26 tháng 4.
Bỉ tổ chức bầu cử nghị viện vào ngày 13 tháng 6 năm 2010, Đảng N-VA theo đường lối dân tộc chủ nghĩa Vlaanderen trở thành đảng lớn nhất tại Vlaanderen, còn Đảng Xã hội trở thành đảng lớn nhất tại Wallonie. Cho đến tháng 12 năm 2011, Bỉ nằm dưới quyền chính phủ tạm thời của Leterme do cuộc đàm phán nhằm thành lập chính phủ mới gặp bế tắc. Đến ngày 30 tháng 3 năm 2011, Bỉ lập kỷ lục thế giới về thời gian không có chính phủ chính thức. Đến tháng 12 năm 2011, chính phủ dưới quyền chính trị gia xã hội Wallonie Elio Di Rupo tuyên thệ nhậm chức.
Trong bầu cử liên bang năm năm 2014 (diễn ra đồng thời với bầu cử địa phương), kết quả là Đảng N-VA giành được nhiều cử tri hơn nữa, song liên minh cầm quyền (gồm các thế lực Dân chủ Xã hội, Tự do và Dân chủ Cơ Đốc giáo của Vlaanderen và Pháp ngữ) duy trì thế đa số vững chắc trong Nghị viện. Ngày 22 tháng 7 năm 2014, Quốc vương Philippe bổ nhiệm Charles Michel (MR) và Kris Peeters (CD&V) chỉ đạo thành lập nội các liên bang mới gồm các đảng N-VA, CD&V, Open Vld của Vlaanderen và MR của cộng đồng Pháp ngữ. Đây là lần đầu tiên N-VA nằm trong nội các liên bang, còn phía Pháp ngữ chỉ có MR là đại diện dù đảng này chiếm thế thiểu số tại Wallonie.
Cộng đồng và vùng
Các cộng đồng:
Cộng đồng Vlaanderen / khu vực tiếng Hà Lan
Cộng đồng Vlaanderen & Pháp / khu vực song ngữ
Cộng đồng nói tiếng Pháp / khu vực nói tiếng Pháp
Cộng đồng nói tiếng Đức / khu vực nói tiếng Đức
Cộng đồng Vlaanderen / khu vực tiếng Hà Lan
Cộng đồng Vlaanderen & Pháp / khu vực song ngữ
Cộng đồng nói tiếng Pháp / khu vực nói tiếng Pháp
Cộng đồng nói tiếng Đức / khu vực nói tiếng Đức
Vùng:
Vùng Vlaanderen / khu vực tiếng Hà Lan
Bruxelles-Vùng thủ đô / khu vực song ngữ
Vùng Wallonie / các khu vực tiếng Pháp và Đức
Theo một tập quán có thể truy nguồn gốc từ thời các triều đình Bourgogne và Habsburg, trong thế kỷ XIX, cần phải biết tiếng Pháp nếu muốn thuộc về tầng lớp thượng lưu cai trị, và những người chỉ có thể nói tiếng Hà Lan trên thực tế là những công dân hạng hai. Đến cuối thế kỷ XIX, và tiếp tục sang thế kỷ XX, các phong trào Vlaanderen tiến triển nhằm phản đối tình trạng này.
Vùng Vlaanderen / khu vực tiếng Hà Lan
Bruxelles-Vùng thủ đô / khu vực song ngữ
Vùng Wallonie / các khu vực tiếng Pháp và Đức
Theo một tập quán có thể truy nguồn gốc từ thời các triều đình Bourgogne và Habsburg, trong thế kỷ XIX, cần phải biết tiếng Pháp nếu muốn thuộc về tầng lớp thượng lưu cai trị, và những người chỉ có thể nói tiếng Hà Lan trên thực tế là những công dân hạng hai. Đến cuối thế kỷ XIX, và tiếp tục sang thế kỷ XX, các phong trào Vlaanderen tiến triển nhằm phản đối tình trạng này.
Cư dân miền nam Bỉ nói tiếng Pháp hoặc các phương ngữ của tiếng Pháp, và hầu hết cư dân Bruxelles tiếp nhận tiếng Pháp làm ngôn ngữ thứ nhất của họ, song người Vlaanderen từ chối làm như vậy và từng bước thành công trong việc đưa tiếng Hà Lan trở thành một ngôn ngữ bình đẳng trong hệ thống giáo dục. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính trường Bỉ ngày càng chịu sự chi phối bởi quyền tự trị của hai cộng đồng ngôn ngữ chính. Xung đột giữa các cộng đồng nổi lên và hiến pháp được sửa đổi nhằm giảm thiểu tiềm năng xung đột.
Dựa trên bốn khu vực ngôn ngữ được xác định vào năm 1962–63 (tiếng Hà Lan, song ngữ, tiếng Pháp, tiếng Đức), hiến pháp quốc gia liên tục được sửa lại vào năm 1970, 1980, 1988 và 1993 nhằm tạo thành một hình thức nhà nước liên bang độc nhất với quyền lực chính trị tách biệt thành ba cấp:
Chính phủ liên bang đặt tại Bruxelles.
Ba cộng đồng ngôn ngữ:
Cộng đồng Vlaanderen (nói tiếng Hà Lan);
Cộng đồng Pháp (nói tiếng Pháp);
Cộng đồng nói tiếng Đức.
Ba vùng:
Vùng Vlaanderen, chia thành 5 tỉnh;
Vùng Wallonie, chia thành 5 tỉnh;
Vùng thủ đô Bruxelles.
Các khu vực ngôn ngữ theo hiến pháp sẽ xác định ngôn ngữ chính thức trong các khu tự quản của họ, cũng như giới hạn địa lý của các thể chế được cấp quyền về các công việc cụ thể. Mặc dù điều này cho phép có bảy nghị viện và chính phủ, song khi các cộng đồng và vùng được hình thành vào năm 1980, các chính trị gia Vlaanderen quyết định sáp nhập cả hai. Do đó người Vlaanderen chỉ có một thể chế cơ quan và chính phủ duy nhất được cấp quyền trong toàn bộ các vấn đề theo thẩm quyền.
Ba cộng đồng ngôn ngữ:
Cộng đồng Vlaanderen (nói tiếng Hà Lan);
Cộng đồng Pháp (nói tiếng Pháp);
Cộng đồng nói tiếng Đức.
Ba vùng:
Vùng Vlaanderen, chia thành 5 tỉnh;
Vùng Wallonie, chia thành 5 tỉnh;
Vùng thủ đô Bruxelles.
Các khu vực ngôn ngữ theo hiến pháp sẽ xác định ngôn ngữ chính thức trong các khu tự quản của họ, cũng như giới hạn địa lý của các thể chế được cấp quyền về các công việc cụ thể. Mặc dù điều này cho phép có bảy nghị viện và chính phủ, song khi các cộng đồng và vùng được hình thành vào năm 1980, các chính trị gia Vlaanderen quyết định sáp nhập cả hai. Do đó người Vlaanderen chỉ có một thể chế cơ quan và chính phủ duy nhất được cấp quyền trong toàn bộ các vấn đề theo thẩm quyền.
Biên giới chồng chéo của các vùng và cộng đồng tạo ra hai nơi đặc biệt: Lãnh thổ Bruxelles-Vùng thủ đô (tồn tại sau các vùng khác gần một thập niên) thuộc cả hai cộng đồng Vlaanderen và Pháp, còn lãnh thổ của Cộng đồng nói tiếng Đức hoàn toàn nằm trong Vùng Wallonie. Xung đột về thẩm quyền giữa các thể chế được giải quyết thông qua Toà án Hiến pháp Bỉ. Cấu trúc được dự tính là một thoả hiệp nhằm cho phép các nền văn hoá khác biệt cùng tồn tại hoà bình.
Phân cấp thẩm quyền
Thẩm quyền của liên bang gồm có tư pháp, phòng thủ, cảnh sát liên bang, an sinh xã hội, năng lượng hạt nhân, chính sách tiền tệ và nợ công, và các khía cạnh khác của tài chính công. Các công ty quốc hữu gồm có Tập đoàn Bưu chính Bỉ (Bpost) và Công ty Đường sắt Quốc gia Bỉ (SNCB/NMBS). Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của Bỉ và của các thể chế liên bang trước Liên minh châu Âu và NATO. Họ kiểm soát một bộ phận đáng kể trong y tế công cộng, nội vụ và ngoại vụ. Ngân sách (không tính nợ) do chính phủ liên bang kiểm soát chiếm khoảng 50% thu nhập công khố quốc gia. Chính phủ liên bang sử dụng khoảng 12% công vụ viên.
Thẩm quyền của liên bang gồm có tư pháp, phòng thủ, cảnh sát liên bang, an sinh xã hội, năng lượng hạt nhân, chính sách tiền tệ và nợ công, và các khía cạnh khác của tài chính công. Các công ty quốc hữu gồm có Tập đoàn Bưu chính Bỉ (Bpost) và Công ty Đường sắt Quốc gia Bỉ (SNCB/NMBS). Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của Bỉ và của các thể chế liên bang trước Liên minh châu Âu và NATO. Họ kiểm soát một bộ phận đáng kể trong y tế công cộng, nội vụ và ngoại vụ. Ngân sách (không tính nợ) do chính phủ liên bang kiểm soát chiếm khoảng 50% thu nhập công khố quốc gia. Chính phủ liên bang sử dụng khoảng 12% công vụ viên.
Các cộng đồng thi hành thẩm quyền trong ranh giới định lý xác định dựa theo ngôn ngữ, ban đầu chúng có định hướng là các cá nhân của một ngôn ngữ cộng đồng, gồm văn hoá (bao gồm truyền thông nghe nhìn), giáo dục và sử dụng ngôn ngữ thích hợp. Sau đó, mở rộng đến các vấn đề cá nhân ít có liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ, gồm chính sách y tế (trị bệnh và phòng bệnh) và trợ giúp cho các cá nhân (bảo hộ thanh thiếu niên, phúc lợi xã hội, hỗ trợ gia đình hay dịch vụ giúp đỡ người nhập cư.).
Các vùng có thẩm quyền trên các lĩnh vực có thể liên kết rộng rãi đến lãnh thổ của họ, gồm có kinh tế, việc làm, nông nghiệp, chính sách nước, nhà ở, công trình công cộng, năng lượng, giao thông, môi trường, quy hoạch đô thị và nông thôn, bảo tồn tự nhiên, tín dụng và ngoại thương. Họ giám sát các tỉnh, khu tự quản và các công ty công ích liên cộng đồng.
Trong một số lĩnh vực, mỗi cấp lại có nhiều mức độ tiếp cận khác nhau với các vấn đề riêng biệt. Chẳng hạn như trong giáo dục, quyền tự trị của các cộng đồng không bao gồm quyền quyết định về khía cạnh bắt buộc hay được phép định ra các yêu cầu tối thiểu về trao bằng cấp, chúng vẫn là công việc của liên bang. Mỗi cấp chính quyền có thể tham gia vào nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế có liên hệ với quyền lực của họ. Quyền chế định các hiệp ước của chính phủ các vùng và cộng đồng tại Bỉ ở mức rộng rãi nhất so với các đơn vị liên bang trên thế giới.
(Còn tiếp)
(Còn tiếp)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét