Giải Nobel (171)
(1/ Đức 42, 2/ Hà Lan 9, 3/ Pháp 23, 4/ Thụy Sĩ 10; 5/ Anh 23; 6/ Thụy Điển 12; 7/ Đan Mạch 9; 8/ Na Uy 5; 9/ Scotland 3; 10/ Nga 2; 11/ Tây Ban Nha 3, 12/ Hung Ga Ry 5. 13/ Ba Lan 4, 14/ Áo 10, 15/ Ý 6, 16/ Mỹ 31; 17/ NewZealand 1; 18/ Ucraine 1; 19/ Bỉ 6; 20/ Phòng hòa bình quốc tế 1; 21/ Ấn Độ 2; 22/ Úc 2; 23/ Ủy ban chữ thập đỏ quốc tế 2; 24/ Canada 1; 25/ Ireland 1; 26/ Arhentina 1; 27/ Cơ quan quốc tế về người tị nạn Nansen 1;28/ Phần Lan 2; 29/ Chi lê 1;
John Howard Northrop
Sinh 5 tháng 7 năm 1891
Yonkers, New York, Mỹ
Mất 27 tháng 5, 1987 (95 tuổi)
Wickenburg, Arizona, Mỹ
Quốc tịch Mỹ
Trường lớp Đại học Columbia
Nổi tiếng vì Nghiên cứu về enzime
Giải thưởng
Huy chương Daniel Giraud Elliot năm 1939
Giải Nobel Hóa học năm 1946
Sự nghiệp khoa học
Ngành Hóa học
Nơi công tác
Đại học California, Berkeley
Đại học Columbia
Đại học Rockefeller
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Jacques Loeb
John Howard Northrop (1891-1987) là nhà hóa học người Mỹ. Ông được trao Giải Nobel Hóa học năm 1946 nhờ những cố gắng trong việc điều chế, kết tinh các enzime và virus protein ở trạng thái nguyên chất. Ông cùng chung giải thưởng với Wendell Meredith Stanley và James Batcheller Sumner, hai nhà hóa học người Mỹ khác. Với sự kiên quan trọng này, năm 1946 trở thành năm đầu tiên Giải Nobel Hóa học được trao cho ba người, thậm chí ba người này có cùng quốc tịch. Đây là niềm tự hào không hề nhỏ của nền hóa học Mỹ nói riêng và nền khoa học Mỹ nói chung. Ngoài ra, Northrop còn giành Huy chương Daniel Giraud Elliot vào 7 năm trước đó, năm 1939.
121122-st

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét