DI SẢN THẾ GIỚI (897)
Napoli
(Tiếp theo)
Nhân khẩu học
Biểu đồ dân số thành phố Napoli từ năm 800 đến hiện tại
Năm Số dân ±% năm
800 50.000 —
1000 30.000 −0.26%
1300 60.000 +0.23%
1500 150.000 +0.46%
1600 275.000 +0.61%
1700 207.000 −0.28%
1861 484.026 +0.53%
1871 489.008 +0.10%
1881 535.206 +0.91%
1901 621.213 +0.75%
1911 751.290 +1.92%
Năm Số dân ±% năm
1921 859.629 +1.36%
1931 831.781 −0.33%
1936 865.913 +0.81%
1951 1.010.550 +1.04%
1961 1.182.815 +1.59%
1971 1.226.594 +0.36%
1981 1.212.387 −0.12%
1991 1.067.365 −1.27%
2001 1.004.500 −0.61%
2011 957.811 −0.47%
2021 940.398 −0.18%
Biểu đồ hiện đang tạm thời không khả dụng do vấn đề kĩ thuật.
Kết cấu đô thị và dân số
Napoli từ thời Trung Cổ trở đi và đặc biệt là kể từ thế kỷ 16 đã từng là một trong những thành phố lớn nhất ở châu Âu về dân số. Trong nửa sau của thế kỷ 16, Napoli có lẽ là thành phố đông dân nhất trong thế giới Kitô giáo phương Tây và đông thứ hai ở Địa Trung Hải chỉ sau Istanbul. Sau khi nước Ý thống nhất, một mặt Napoli đã không còn dân cư nhiều như các thành phố như Paris hay Luân Đôn, thì mặt khác, nó đã cố gắng giữ được các đặc điểm nhân khẩu học đặc trưng của một đô thị châu Âu không bị thay đổi. Napoli từng là đô thị đông dân nhất ở Ý cho tới những năm 1930 khi nhường lại vị trí đó cho Milano và Roma.
Tính riêng thành phố Napoli với hơn 960.000 người là đô thị đông dân thứ ba ở Ý và là thành phố có mật độ dân số cao nhất trong số các đô thị lớn của Ý cũng như là một trong những đô thị đứng đầu ở châu Âu xét theo cùng tiêu chí này, với khoảng 8.182 người/km². Bao gồm cả những người đi làm (khoảng 200.000 người, tương đương 20% so với nhân khẩu thường trú), quân đội, v.v. đổ vào thành phố mỗi ngày, số lượng cư dân trong thành phố có sự biến thiên đáng kể. Theo thời gian, sự di chuyển dân cư từ thành phố ra khu vực Thành phố đô thị Napoli là rất đáng kể, nơi có mật độ dân số 2.672 người/km², cao nhất trong số các thành phố đô thị của Ý. Ngoài ra, vùng đại đô thị Napoli còn rộng lớn hơn vượt ra ngoài thành phố đô thị Napoli khi bao gồm cả các khu vực quan trọng của các tỉnh lân cận, gọi chung là "Đại Napoli" (Grande Napoli hay Greater Naples) với ước tính dân số khoảng 4,4 triệu người là khu vực đô thị hóa đông dân thứ hai ở Ý sau vùng đại đô thị Milano.
Napoli là thành phố có dân số trẻ nhất của cả nước, trong đó tỷ lệ thanh thiếu niên chiếm 8,3% trên toàn dân, người dưới 14 tuổi chiếm 19%, trong khi người trên 65 tuổi chiếm 13%, so với mức trung bình của cả nước tương ứng lần lượt là 14% và 19%. Napoli có tỷ lệ nữ (52,5%) cao hơn nam (47,5%). Napoli hiện có tỷ lệ sinh cao hơn các vùng khác của Ý, với 10,46 ca sinh trên 1.000 dân, so với mức trung bình của Ý là 9,45 ca sinh.
Nhóm thiểu số và dân nhập cư
Trái ngược với Roma và nhiều thành phố Bắc Ý, số lượng người nhập cư nước ngoài ở Napoli tương đối thấp; 94,3% cư dân của thành phố là công dân Ý. Thống kê cho thấy đa số người nhập cư đến Napoli là nữ; bởi vì những người nhập cư nam đến Ý có xu hướng tiến về phía bắc giàu có hơn. Tính đến 2019, có 57.298 người nước ngoài sinh sống tại thành phố, với đa số là người Sri Lanka.
Nhóm người nước ngoài cư trú đông nhất tại Napoli năm 2019 (đơn vị: người)
1. Sri Lanka Sri Lanka 15.113 6. Philippines Philippines 1.868
2. Ukraina Ukraina 8.126 7. Bangladesh Bangladesh 1.691
3. Trung Quốc Trung Quốc 5.031 8. Nigeria Nigeria 1.359
4. Pakistan Pakistan 2.825 9. Ba Lan Ba Lan 1.257
5. România Romania 2.549 10. Cộng hòa Dominica Cộng hòa Dominica 1.093
Văn hóa và nghệ thuật
Ngôn ngữ và phương ngữ
Giống với phần còn lại của nước Ý, ở vùng Campania đã diễn ra sự tiến hóa của tiếng Latinh thông tục hình thành nên tiếng Napoli theo một hướng khác so với tiếng Ý tiêu chuẩn, vẫn tiếp tục được nhiều người nói tại thành phố và vùng Campania. Ngôn ngữ này trải qua quá trình lịch sử của mình giống như nhiều ngôn ngữ khác, có sự ảnh hưởng và "vay mượn" từ những thực dân Hy Lạp cổ đại cho đến các thương nhân Byzantine, người Ả Rập, người Norman, đến các thế lực hoàng tộc Pháp và Tây Ban Nha đã sinh sống và thống trị Nam Ý, tạo thành nhóm ngôn ngữ Napoli-Calabria (Napoletano-Calabrese) lan tỏa trên hầu hết khu vực phía nam bán đảo Ý với số lượng ước tính là 5,7 triệu người bản ngữ. Lưu ý rằng tiếng Napoli không phải là phương ngữ của tiếng Ý, mà là phương ngữ trong chính nhóm ngôn ngữ Ý-Rôman của riêng nó (tức nhóm Napoli-Calabria hoặc nhóm Nam-Trung Ý).
Tiếng Napoli đã thay thế tiếng Latinh trong các văn bản chính thức và trong các phiên họp tòa án tại Napoli theo sắc lệnh của Alfonso I vào năm 1442 và trong hơn một thế kỷ, nó là ngôn ngữ chính thức của Vương quốc Napoli. Vào thế kỷ 16, vua Fernando II của Aragon áp đặt tiếng Tây Ban Nha làm ngôn ngữ chính thức mới và tiếng Napoli chỉ tồn tại trong các vị trí cử tọa hoàng gia, các văn phòng ngoại giao và quan chức công quyền. Từ nửa sau thế kỷ 16 các vị trí lĩnh vực này cũng như hành chính và giảng dạy dần được thay thế bởi phương ngữ vùng Toscana (tức tiếng Ý) giống như các bang quốc khác trên Ý, được ưu tiên lựa chọn trở thành ngôn ngữ chính thức vì uy tín văn hóa (ngôn ngữ của Dante, Petrarca và Boccaccio), tuy nhiên tiếng Ý chỉ bắt đầu trở nên phổ biến trong tất cả các tầng lớp xã hội và trong mọi lĩnh vực (chính thức hoặc đời thường) trong nửa sau của thế kỷ 20. Trên thực tế trong ba thế kỷ gần đây, tiếng Napoli vẫn được sử dụng với tần suất nhất định và mang lại hiệu quả đáng kể trong nghệ thuật, văn học, sân khấu và các bản opera kinh điển; canzone napoletana (bài hát tiếng Napoli) trở thành phương thức truyền bá quan trọng nhất của người dân Napoli, rất có tiếng tăm trong thế giới âm nhạc Ý. Vào năm 2008, chính phủ vùng Campania đã ban hành luật địa phương có hiệu lực rằng việc sử dụng tiếng Napoli được bảo vệ.
Tôn giáo
Là nơi đặt chân đầu tiên của tông đồ Phêrô trên lãnh thổ Ý, Napoli là một trong những địa điểm Kitô giáo đầu tiên ở phương Tây. Việc truyền đạo tại thành phố đã phát triển trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, và việc Latinh hóa các nghi lễ diễn ra vào thế kỷ 12. Trong nhiều thế kỷ, các vương cung thánh đường quan trọng cũng đồng thời là nơi đặt các trụ sở quản lý hành chính của thành phố và cùng với những cơ quan thực thể khác đã phản đối việc thành lập tòa án dị giáo tại địa phương năm 1547. Napoli là ngai giám mục của Tổng giáo phận Napoli, được tổ chức trên cơ sở 13 giáo phận, với 500 chỗ thờ tự, trong số đó có 288 là nhà thờ giáo xứ.
Người đạo Hồi hiện diện trong thành phố từ thế kỷ 9 khi họ thiết lập quan hệ thương mại với người dân Napoli. Đến nay Hồi giáo ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể bắt đầu từ những dòng người di cư thập niên 1980 khi hai thánh đường đạo Hồi đầu tiên được xây dựng lần lượt ở Quảng trường Garibaldi và Quảng trường Thị chính. Sau đó một thánh đường khác được mở tại Quảng trường Chợ và trong dư âm sự kiện 11 tháng 9, nơi này và Giáo phận Napoli đã soạn thảo tuyên bố chung mang tên Salam alaikum – Pax vobiscum nhấn mạnh và khẳng định các nguyên tắc hòa bình, tôn trọng lẫn nhau và cùng chung sống hòa hợp giữa 2 tôn giáo Hồi và Kitô. Ngoài ra, Napoli còn có nhà thờ Tin Lành và thánh đường Anh giáo. Cộng đồng người Do Thái cùng với hội đường Do Thái giáo cũng hiện diện trong thành phố.
Ẩm thực
Pizza là món ăn được phát minh tại Napoli, trong đó pizza Margherita là đĩa pizza đặc trưng truyền thống và nổi tiếng nhất đại diện cho pizza phong cách Napoli.
Ảnh hưởng và bắt nguồn từ nhiều nền văn hóa đa dạng đã sinh sống trong suốt lịch sử của mình, bao gồm cả người Hy Lạp, Tây Ban Nha và Pháp, ẩm thực Napoli vươn lên thành bản sắc riêng biệt của mình vào thế kỷ 18 và nổi tiếng trên trường quốc tế. Các thành phần thường có hương vị phong phú, trong khi giá cả phải chăng cho người dân nói chung. Trên thực tế, ẩm thực Napoli là mội trong những đại diện tiên phong và tiêu biểu nhất của thương hiệu "Made in Italy" ở nước ngoài, nhờ vào những cuộc di cư quy mô lớn trong lịch sử của người dân Napoli mang theo văn hóa, ẩm thực và pizza của mình đến nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Napoli theo truyền thống được xem là mái nhà quê hương của pizza, có nguồn gốc là bữa ăn của những người nghèo và tầng lớp thấp trong xã hội, nhưng dần trở nên phổ biến trong giới thượng lưu: nổi tiếng nhất là pizza Margherita được đặt theo tên của Nữ vương Margherita xứ Savoia sau chuyến thăm của bà đến thành phố. Các thành phần của bánh pizza kiểu Napoli đã được luật pháp Ý quy định chặt chẽ kể từ năm 2004 và được đăng ký bảo hộ món ăn Đặc sản Truyền thống từ năm 2009, và vào năm 2017 nghệ thuật làm pizza phong cách Napoli đã được UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Spaghetti cũng gắn liền với thành phố và thường được ăn với nước sốt ragu kiểu Napoli. Các món ăn khác phổ biến ở thành phố bao gồm Parmigiana di melanzane (cà tím nướng phủ pho mát Parmesan), spaghetti alle vongole (mì Ý và nghêu) và bánh casatiello. Là một thành phố ven biển, Napoli còn được biết đến với nhiều món hải sản, bao gồm impepata di cozze (vẹm xếp lớp), purpetiello affogato (bạch tuộc luộc nước lèo), alici marinate (cá cơm ướp), baccalà alla napoletana (cá tuyết muối) và baccalà fritto (cá tuyết chiên), một món ăn thường được ăn trong dịp lễ Giáng sinh. Napoli còn nổi tiếng với các món ngọt, bao gồm kem gelato đầy sắc màu, và có nhiều trái cây hơn. Các món bánh ngọt phổ biến của thành phố bao gồm zeppole, bánh babà, sfogliatelle và pastiera, món được chế biến đặc biệt cho lễ Phục sinh. Struffoli là loại bánh bột làm từ mật ong có vị ngọt được trang trí và ăn vào dịp Giáng sinh.
Về đồ uống, cà phê Napoli cũng được hoan nghênh rộng rãi. Bình pha cà phê nắp gập truyền thống của người Napoli được gọi là cuccuma hoặc cuccumella, là tiền đề cho việc phát minh ra máy pha cà phê espresso, và cũng là nguồn cảm hứng cho ấm pha Moka. Các nhà máy rượu ở khu vực Vesuvius sản xuất các loại rượu như Lacryma Christi ("nước mắt của Chúa") và Terzigno. Napoli cũng là quê hương của limoncello, một loại rượu mùi chanh phổ biến. Giá trị dinh dưỡng của ẩm thực Napoli được phát hiện bởi nhà dịch tễ học người Mỹ Ancel Keys vào năm 1950, sau đó thường được các nhà sức khỏe đề cập đến như một trong những ví dụ tuyệt vời điển hình nhất về chế độ ăn Địa Trung Hải.
Kiến trúc
Cầu thang "đôi cánh chim ưng" hoành tráng tại Cung điện Tây Ban Nha, kiến trúc tiêu biểu của phong cách Baroque Napoli.
Napoli từ lâu đã là một trung tâm của nghệ thuật kiến trúc, điểm xuyết bởi các nhà thờ, lâu đài và cung điện thời Trung Cổ, Baroque và Phục Hưng. Lịch sử kiến trúc Napoli về cơ bản khai sinh dưới thời Angevin, nơi những nhà thờ Gothic đầu tiên của thành phố ra đời. Tiếp nối Phục Hưng, kiến trúc bước vào thời đại Baroque phong cách Napoli xa hoa, nâng tầm nhận thức cao hơn và cho thấy những điểm tuyệt vời nhất về chiều sâu chất lượng nhờ vào việc cải tạo mặt tiền của những tòa nhà có sẵn đã tồn tại hoặc xây nên gian tòa mới phía bên trong. Trên thực tế cấu trúc đô thị của thành phố đặc trưng bởi các đường phố chật hẹp không cho phép xây dựng mặt tiền với tầm nhìn rộng, dẫn đến thị hiếu kiến trúc nghệ thuật tại địa phương sẽ tập trung vào chi tiết bên trong của tòa nhà, chẳng hạn như thêm vào cầu thang hoành tráng mang tính biểu tượng có thể được nhìn thấy từ ngoài cổng vào là những điểm đặc trưng lớn nhất của các trường phái kiến trúc Phục Hưng và Baroque phong cách Napoli. Dù chúng đã đạt được thành công và phát triển đến mức độ rất cao thì vẫn là những phiên bản "chạy theo trào lưu" nhằm tái hiện lại các phong trào có tầm vóc lớn đã phổ biến ở nhiều nơi, thì trong thế kỷ 18 Napoli chứng tỏ vai trò dẫn đầu xu thế trong lĩnh vực kiến trúc vì góp phần tạo nên mô hình tân cổ điển, ra đời nhờ các cuộc khai quật những tàn tích La Mã tại Herculaneum và Pompeii tình cờ được phát hiện và vẫn còn nguyên vẹn, cùng những khám phá liên quan.
Các phong cách kiến trúc công nghiệp mới đã dẫn đến những công trình xây dựng theo phong cách chiết trung, dẫn đến những phương pháp xử lý hoa mỹ và những đổi mới hiện đại mang bản sắc địa phương, cụ thể là những đặc trưng của các biệt thự mới tại khu vực Vomero. Nhiều tòa nhà lấy cảm hứng từ phong cách kiến trúc Tân Gothic vẫn còn tồn tại ở Napoli đã để lại dấu ấn đáng kể trong cảnh quan thành phố và thiết kế nhiều dự án đô thị, chẳng hạn như tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố. Sau giai đoạn này, trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, hiện tượng Art Nouveau được gọi là "Liberty Napoletano" đã phát triển trong thành phố, tạo ra nhiều tòa nhà vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay. Thời đại Mussolini là những năm của chủ nghĩa duy lý-chức năng, gồm các tòa nhà như Cung Bưu Điện, Pretura và hơn cả là phức hợp Mostra d'Oltremare – thành tựu vĩ đại cuối cùng của kiến trúc Phát xít. Các kiến trúc sư quan trọng nhất đã hoạt động tại thành phố là: Luigi Vanvitelli, Ferdinando Fuga, Domenico Fontana, Cosimo Fanzago, Ferdinando Sanfelice, Domenico Antonio Vaccaro, Antonio Niccolini, Lamont Young và Buono di Napoli.
Hội họa
Luca Giordano, Francesco Solimena và Domenico Morelli, nằm trong số những họa sĩ nổi bật nhất các thế kỷ 17, 18 và 19 tương ứng.
Nhiều trào lưu nghệ thuật quan trọng đã được hình thành qua nhiều thế kỷ tại Napoli nhờ tính chất quốc tế của nó và việc các nghệ sĩ bên ngoài đến thành phố thường xuyên. Trong thế kỷ 17, việc Caravaggio lưu lại thành phố một vài dịp trong khoảng những năm 1607-1610 đánh dấu bước ngoặt quyết định cho sự ra đời của trường phái hội họa Napoli thực sự theo định nghĩa chặt chẽ. Một nhóm nổi bật gồm các họa sĩ địa phương đã trở thành những truyền nhân khai sinh chủ nghĩa Caravaggio – cơ bản trùng hợp với sự xuất hiện của các bậc thầy hội họa Phục Hưng như Domenichino, Guido Reni và Giovanni Lanfranco cũng đến thành phố, góp phần phát triển mạnh mẽ cho trường phái hội họa này. Các xưởng vẽ đầu tiên nở hoa khắp thành phố nơi mà các nghệ sĩ như Jusepe de Ribera, Artemisia Gentileschi và nhiều nghệ sĩ khác hoạt động rất năng suất, Napoli do đó đã trở nên rất cởi mở trong việc tiếp thu hội họa. Thế kỷ 18 của Napoli chứng kiến sự tiếp nối của thời kỳ Baroque muộn và có mối quan tâm lớn hơn trong khâu trang trí. Sự hưng thịnh ở Napoli ngay tại các cung điện quý tộc và hoàng gia quan trọng cũng mang ý nghĩa rằng: sự chú ý giờ đây bắt đầu được chuyển hướng tới những nơi thế tục khác tại Napoli thay vì chỉ tập trung ở các tòa nhà tôn giáo.
Vào thế kỷ 19, hội họa Napoli từ bỏ những phong trào trong quá khứ và đằng sau những dư âm của làn gió đổi mới có sự góp mặt của những nghệ sĩ như John Constable và William Turner, mà từ đó trở thành trường phái phong trào nghệ thuật lãng mạn. Chính vì vậy, trường phái Posillipo ra đời từ năm 1820 đến 1850, với các họa sĩ ấn tượng nhất là Anton Sminck van Pitloo và Giacinto Gigante. Học viện Mỹ thuật Napoli trở thành động lực hoạt động của trường phái này và là cơ sở cho sự ra đời của một dòng nghệ sĩ khác như Francesco Saverio Altamura, Gioacchino Toma, Domenico Morelli và Vincenzo Petrocelli.
Điêu khắc
Chúa Kitô phủ khăn liệm (1753), tác phẩm đá hoa cương kiệt xuất trong làng điêu khắc thế giới của Sanmartino, Nhà nguyện Thánh Severo.
Thế kỷ 15 và 16 chứng kiến thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật điêu khắc Napoli. Việc xây dựng khải hoàn môn tại Lâu đài Mới từ năm 1452 đến năm 1471 đã chứng kiến sự nở rộ của xưởng đào tạo thực sự dành cho các nghệ sĩ Phục Hưng, từ đó đem theo những đổi mới nghệ thuật trải khắp vương quốc. Nhà thờ Đức Bà Đại Ân Caponapoli được xác định là bảo tàng của tác phẩm điêu khắc Napoli thế kỷ 16. Vào thế kỷ 17, tác phẩm điêu khắc được thể hiện qua việc hiện thực hóa các bút tháp cũng như các bức tượng và công trình bệ thờ hoành tráng cho các nhà thờ Napoli. Tiếp đến, tiêu biểu trong số các nhà điêu khắc của thế kỷ 18 là Giuseppe Sanmartino – có lẽ là nhà điêu khắc vĩ đại nhất của người Napoli, rất điêu luyện trong việc tạo hình các hình tượng đất nung và là người đã gầy dựng nên một trường phái nghệ thuật dựng cảnh Giáng sinh. Sanmartino cũng là tác giả của thứ được xem là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của nghệ thuật điêu khắc thế giới là Chúa Kitô phủ khăn liệm bằng đá cẩm thạch đặt tại nhà nguyện Thánh Severo. Nhà nguyện này cũng lưu giữ các tác phẩm bằng đá cẩm thạch có giá trị khác như của Antonio Corradini (La Pudicizia Velata) và Francesco Queirolo (Il Disinganno). Trong suốt thế kỷ 19, các tác phẩm tượng đồng và tượng bán thân của Vincenzo Gemito và Tito Angelini thống trị nền điêu khắc Napoli. Nổi tiếng ở nước ngoài là xưởng đúc nghệ thuật Chiurazzi với các tác phẩm điêu khắc bằng đồng, sau này bổ sung thêm các tác phẩm bằng đá cẩm thạch và gốm sứ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng nhớ đến sự hiện diện của nhà điêu khắc Jago tại thành phố, người đã chọn phường Sanità làm nơi đặt phòng xưởng của mình.
Thủ công mỹ nghệ, gốm sứ
Via San Gregorio Armeno trong khu phố cổ Napoli, rất nổi tiếng với những cửa hàng đồ lưu niệm, thủ công mỹ nghệ về chủ đề dựng cảnh Giáng sinh.
Trong số rất nhiều các loại hình nghệ thuật được thực hành ở Napoli, đồ sứ Capodimonte và dựng cảnh Giáng sinh nổi lên bằng truyền thống lịch sử và thành danh quốc tế. Nguồn gốc đồ sứ bắt nguồn từ năm 1743 khi vua Carlos III thành lập Xưởng sứ hoàng gia Capodimonte với mục đích giải phóng bản thân khỏi các tác phẩm nước ngoài, với nhiều tác phẩm nghệ thuật hiện vẫn đang được trưng bày trong Bảo tàng Capodimonte. Các nhà tạo hình gốm sứ Napoli sớm đạt đến mức xuất sắc tuyệt đối và truyền thống nghề gốm sứ này vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay. Nguồn gốc nghệ thuật dựng cảnh Giáng sinh thậm chí còn lâu đời hơn vì hang cũi ở Napoli đã được đề cập trong tài liệu năm 1025 sớm hơn nhiều so với truyền thuyết cho rằng dựng cảnh Giáng sinh đầu tiên được thực hiện bởi thánh Phanxicô thành Assisi vào năm 1223. Qua nhiều thế kỷ, nghệ thuật về cảnh Giáng sinh đã gắn bó chặt chẽ với cả kinh nghiệm và trí tưởng tượng của người dân thành phố, ở cả tính văn hóa và phổ thông thường thức. Thời kỳ hoàng kim của loại hình này có thể bắt nguồn từ vương triều Bourbon, khi nó đạt đến đỉnh cao nhất về nghệ thuật. Phố San Gregorio Armeno là chợ máng cỏ – cũi giáng sinh lớn nhất và nổi tiếng nhất thành phố, thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 khoảng độ dịp nghỉ lễ Giáng sinh và đón chào năm mới, nơi trang trí những mô hình tinh tế và độc đáo nhất của Chúa hài đồng Giê-su, Mẹ Maria, Thánh Giuse cùng những người chăn cừu, các vị thánh và nhiều tác phẩm khác đại diện cho thành Nazareth thời bấy giờ.
Nghệ thuật cổ xưa được truyền lại bởi các nghệ nhân lành nghề là nghệ thuật gấp giấy papier-mâché. Những con búp bê rối burattini của Napoli cũng được đánh giá cao và được săn lùng bởi các nhà sưu tập từ khắp nơi trên thế giới. Một nghệ thuật khác do các bậc thầy người Napoli phát minh và truyền dạy cho người nước ngoài là chế tác mai rùa thành những vật liệu quý nhờ trang trí bằng vàng, bạc, ngà voi, xà cừ, sơn mài và men. Nghệ sĩ được ca tụng và ngưỡng mộ nhất là Giuseppe Serao, làm việc cho hoàng gia Bourbon. Các tác phẩm nghệ thuật của người dân Napoli trong bộ giáp được trưng bày trong nhiều viện bảo tàng và bộ sưu tập quan trọng nhất được lưu giữ trong Phòng trưng bày Kugel ở thủ đô Paris của Pháp.
Văn học
Trong thời Đế quốc La Mã, những gương mặt quan trọng như Horace và Vergilius học tập và tiếp nhận giáo dục tại Neapolis. Vergilius đã sáng tác ra những tác phẩm văn học tiếng Latinh quan trọng nhất của mình là Eclogae, Georgica và Aeneis.
Jacopo Sannazaro - nhà chủ nghĩa nhân văn lừng danh người Napoli, Giambattista Basile - người đặt nền móng cho văn học tiếng Napoli và Salvatore Di Giacomo - nhà thơ tiếng Napoli và tác giả truyện ngắn đen.
Napoli là một trong những trung tâm quan trọng của nền văn học Ý. Thế kỷ 14 là thời kỳ của chủ nghĩa nhân văn; trào lưu này bắt đầu từ Ý và một trong những trung tâm lớn của nó có trụ xứ tại thành phố này, sau đó lan ra khắp lục địa. Jacopo Sannazaro trong suốt thế kỷ 15 và đến những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 16 là một trong những tượng đài tiên phong của nền văn học Ý và châu Âu với những tác phẩm quan trọng, nổi bật hơn hết là bài thơ Arcadia. Năm 1458, Accademia Pontaniana được thành lập tại Napoli theo ý tưởng sáng kiến tự do của những người từ chương, khoa học và thơ văn.
Trong kỷ nguyên Baroque, nhà thơ tiếng Napoli nổi tiếng nhất là Giulio Cesare Cortese với tác phẩm Vaiasseide, trong khi văn xuôi bản ngữ Napoli thành danh nhờ Giambattista Basile với tập truyện cổ tích nổi tiếng Pentamerone, họ là những người đặt nền móng văn học và nghệ thuật cho ngôn ngữ Napoli. Học viện Oziosi được thành lập ở thế kỷ 17 là nơi gặp gỡ của các trí thức Tây Ban Nha và Napoli, bao gồm Francisco de Quevedo và Tommaso Campanella. Thế kỷ 19 mang đậm dấu ấn lẫy lừng bởi sự viếng thăm của Giacomo Leopardi – một trong những nhà thơ và nhà tư tưởng Ý vĩ đại nhất, đã sáng tác một số bài thơ quan trọng nhất của mình ở đây ngay trước khi ông qua đời như La ginestra, Il tramonto della Luna hay Paralipomeni della Batracomiomachia.
Trong khi đó giữa thế kỷ 19 và 20, khai sinh những bài thơ đầu tiên bằng tiếng Napoli và thường được dùng làm lời bài hát kinh điển của người dân Napoli. Nhà văn kiêm nhà báo Matilde Serao là tiểu thuyết gia và nhà văn nổi tiếng trong thời của bà, từng được 6 lần đề cử Giải Nobel Văn học. Salvatore Di Giacomo là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất bằng phương ngữ Napoli, và nhiều bài thơ của ông đã được chuyển thể thành nhạc và trở thành những bài hát nổi tiếng. Ở thời kỳ đương đại, trong số các nhà văn Napoli quan trọng nhất có thể kể tên là Luciano De Crescenzo, Erri De Luca, Roberto Saviano và đặc biệt nữ văn hào Elena Ferrante được tạp chí Time năm 2016 bình chọn là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới.
Triết học và luật khoa
Neapolis là một trung tâm văn hóa quan trọng của La Mã cổ đại. Chủ nghĩa Epicurus đã tìm thấy chỗ đứng thích hợp nhất của mình đặc biệt là ở các thành phố, bên ngoài cuộc sống bận rộn của kinh thành Roma. Triết gia Philodemus thầy của Vergilius và Horace đã sống và dạy học tại Neapolis. Trong thời Trung Cổ, nhà tư tưởng quan trọng nhất hoạt động tại Napoli là nhà thần học Thánh Tôma Aquinô là nhân vật đi đầu trong triết học kinh viện xây dựng nên trường phái Thomism. Tâm điểm của triết học Napoli thế kỷ 16 chính là Giordano Bruno với hệ thống thần học trong đó cho rằng "Thượng đế" chính là trí tuệ trừu tượng và hình thành nên trật tự những gì sẵn có trong tự nhiên, nhưng đồng thời bản thân tự nhiên cũng được trừu tượng thần thánh hóa, trong một thể thống nhất mang tính phiếm thần không thể tách rời giữa vật chất và ý thức. Bruno cũng mở rộng hơn nữa thuyết nhật tâm của Copernicus, đưa ra đề xuất về sự tồn tại của vô số các hệ hành tinh tương tự ngoài Hệ Mặt Trời, và hơn nữa có khả năng rằng tại các hành tinh này thậm chí còn có thể hình thành sự sống, đồng thời khẳng định sự vô hạn của toàn bộ vũ trụ và do vậy không có thiên thể nào ở "trung tâm".
Trong môi trường văn hóa sôi động thế kỷ 18, Napoli đã trở thành một trong những địa điểm quan trọng nhất mà từ đó Kỷ nguyên Ánh Sáng thâm nhập vào Ý. Trong thời kỳ này nổi bật hơn cả là Giambattista Vico – triết gia của chủ nghĩa duy tâm và là tiền bối của Immanuel Kant. Ông đã vạch ra những nét đặc trưng của nhân sinh văn hóa mới không chỉ dựa trên lý trí, mà còn dựa trên cảm hứng, tình cảm và tài khéo léo, hoàn toàn trái ngược với tư tưởng Descartes. Người bạn đồng hành của ông, Antonio Genovesi, sau đó đã trở thành trưởng khoa kinh tế chính trị đầu tiên trên thế giới tại Đại học Napoli danh giá. Các nghiên cứu luật khoa đã được nâng cao ở Napoli nhờ vào những nhân cách lỗi lạc. Luật gia Mario Pagano nhân vật xuất sắc của kỷ nguyên Khai sáng tại Ý là người khởi xướng "trường phái luật lịch sử Napoli", cũng như là tiền thân của chủ nghĩa thực chứng. Tư tưởng tiêu biểu nhất ở Napoli trong giai đoạn giữa thế kỷ 19 và 20 là Benedetto Croce, tượng đài của chủ nghĩa tự do Ý và là nhân vật tiên phong của chủ nghĩa lịch sử. Nhờ các nhà tư tưởng và triết gia như Vico, Pagano hay Croce, Napoli đã trở thành một trong những trung tâm lớn của Ý về nghiên cứu lịch sử và triết học lịch sử. Những nhân vật như luật gia và luật sư Enrico De Nicola đã giúp soạn thảo Hiến pháp hiện đại của nước Cộng hòa Ý và cuối cùng được bầu vào chức vụ Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Ý.
Ví dụ hiện đại điển hình nhất của việc nghiên cứu triết học ở Napoli là Viện Nghiên cứu Triết học Ý có trụ sở đặt tại thành phố, là nơi thu thập khoảng 300.000 đầu sách triết học, trong đó bao gồm rất nhiều bản gốc, và đã được UNESCO đánh giá là "vô song trên toàn thế giới".
Khoa học tự nhiên
Macedonio Melloni - cha đẻ của ngành núi lửa học hiện đại, Renato Caccioppoli - một trong những nhà toán học ảnh hưởng nhất của Ý và Domenico Cotugno - bác sĩ tiêu biểu nhất của trường phái y khoa Napoli
Ngành khoa hiện đại nghiên cứu về núi lửa cùng các hiện tượng địa chất, vật lý liên quan bắt nguồn từ Napoli. Đài quan sát Vesuvius được thành lập năm 1841 là viện khoa học đầu tiên thuộc ngành núi lửa học trên thế giới.
Có tầm quan trọng đáng kể là trường phái toán học Napoli, nổi bật ở thế kỷ 18 gồm Nicola Fergola và học trò của ông Annibale Giordano – người xuất bản khái quát về "vấn đề của Pappus" năm 1787 khi còn rất trẻ. Thế kỷ 20 tiêu biểu với Renato Caccioppoli, có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của ngành giải tích toán học ở Ý.
Thiên văn học Napoli đã đạt được kết quả xuất sắc hơn bao giờ hết là nhờ vào Đài quan sát thiên văn Capodimonte. Giovanni Battista Della Porta có công mô tả các nguyên tắc của kính thiên văn khoảng hai mươi năm trước khi Galileo Galilei chế tạo ra nó. Bản thân Della Porta là một trong những nhân vật khoa học quan trọng nhất của thế kỷ 16, cũng được biết đến với những nghiên cứu về mật mã học và khoa học tự nhiên. Francesco Fontana – người chế tạo các loại kính viễn vọng Kepler, là người đầu tiên vẽ các bản vẽ của Mặt Trăng, sao Hỏa và các hành tinh quan trọng khác.
Một điểm nhấn khác là trường phái thực vật học được đại diện bởi Michele Tenore với bộ sách Flora Napolitana của ông. Bên cạnh đó, trường phái động vật học được đại diện bởi Oronzo Gabriele Costa, đã khám phá trong vùng vịnh Napoli và phân loại chính xác trong số các loài động vật có dây sống lưỡng tiêm, giúp xác định mối liên hệ giữa động vật không xương sống và động vật có xương sống, có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành và xây dựng thuyết tiến hóa của Darwin.
Sau cùng, ngành y khoa cũng đáng được chú ý đến với Domenico Cotugno là đại diện tiêu biểu nhất. Với tư cách là Hiệu trưởng Đại học Napoli, ông là nhân vật chính trên tất cả các khám phá quan trọng về thần kinh, đạt được thông qua phương pháp phẫu tích. Bộ môn khoa học giải phẫu so sánh ra đời ở Napoli nhờ bác sĩ Marco Aurelio Severino, tác giả cuốn Zootomia Democritea, chuyên luận tổng quát đầu tiên trên thế giới về chủ đề này.
Thời trang may mặc
Via Toledo là con phố mua sắm nổi tiếng nhất trung tâm thành phố.
Mối quan hệ của Napoli với thời trang và nhãn hiệu "Made in Italy" có nguồn gốc từ lịch sử sớm nhất là từ thời Angevin. Phong cách và sự thể hiện là các bộ phận cấu thành tâm hồn người dân thành phố. Thời trang Napoli chạm đến thời kỳ vàng son thực sự trong thời Aragon, rất nhiều thợ may và thợ dệt đã được tuyển dụng để may trang phục cho vua và những người nổi tiếng, mang lại sức sống cho phong cách được đánh giá cao. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, thời trang trở nên phát triển mạnh mẽ bên cạnh nghệ thuật, âm nhạc và triết học. Napoli cùng với thành bang hùng mạnh khác như Venezia, Milano, Firenze và Roma đã sản xuất hàng dệt như nhung, lụa, len và các loại vải phong phú kèm hàng với xa xỉ, mũ, giày dép, mỹ phẩm, đồ trang sức, áo choàng, váy công phu, góp phần định hình thời trang Ý ngày càng trở nên phổ biến và tạo ảnh hưởng trên khắp nơi, được ưa chuộng bởi những gia đình quyền lực và quý tộc, nhanh chóng dẫn đầu xu hướng chính của châu Âu nhờ vào sức mạnh văn hóa trong thời kỳ bấy giờ.
Cùng với quận thời trang ở Milano, phố Via dei Condotti ở Roma và Via Tornabuoni của Firenze, phường Chiaia tại Napoli là một trong những quận khu mua sắm trọng điểm nhất tại Ý.
Thời Bourbon nhìn chung là thời kỳ suy tàn đối với thời trang Napoli, bấy giờ trang phục người dân Napoli bị xem là lỗi thời, đặc biệt khi so sánh với những nơi mà quy tắc ăn mặc đã được chuẩn hóa như Paris và London. Trong giai đoạn giữa thế kỷ 19 và 20, thành phố tìm lại được uy tín của quá khứ, thiết lập và định hình nền tảng cho ngày nay: sự thể hiện của việc đo đạc và thanh lịch. Nghề may mặc của Napoli trở nên nổi tiếng và được đánh giá cao trên toàn thế giới với các nhà may và hàng loạt thương hiệu ra đời, bắt đầu xuất khẩu các sản phẩm của mình ra nước ngoài, bao gồm cà vạt là mặt hàng chủ đạo nhất. Đến những năm 1930, nghề may địa phương đã được đình hình vững, chất lượng sánh ngang với ngành may mặc ở Anh và tạo ra phong cách cho riêng mình, điển hình là áo khoác kiểu Napoli, với thiết kế đảm bảo sự nhẹ nhàng và thoải mái cho người mặc.
Hiện nay khu vực đô thị Napoli là nơi có nhiều nhà máy thủ công chuyên môn hóa cao, sản xuất các các bộ phận trang phục và phụ kiện cung cấp cho các thương hiệu cao cấp hàng đầu như Chanel, Dior, Balmain và dòng chính của Ralph Lauren. Năm 2016 Ủy ban Thương mại Ý đã tổ chức sự kiện thương mại "Naples Meets the World" với sự góp mặt của nhiều nhà sản xuất và thương hiệu chất lượng của thành phố để thu hút sự chú ý của toàn cầu. Napoli là một trong những trung tâm thời trang quan trọng và là kinh đô thời trang thứ tư của Ý, xếp sau Milano, Roma và Firenze, cũng như là trung tâm thời trang lớn nhất miền Nam quốc gia này.
Sân khấu, kịch nghệ
Nhà hát San Carlo là nhà hát opera lâu đời nhất còn hoạt động trên thế giới.
Sân khấu là một trong những truyền thống nghệ thuật lâu đời nhất và được biết đến nhiều nhất của thành phố; đã được hoàng đế Nero biểu diễn vào thế kỷ đầu tiên của Công nguyên, trên sân khấu của nhà hát La Mã Neapolis.
Napoli là một trong những trung tâm khởi nguồn của thể loại sân khấu hiện đại ngày nay. Thời kỳ hoàng kim của loại hình sân khấu Napoli hiện đại là thế kỷ 18, khi nhiều nhà hát được xây dựng bao gồm cả Nhà hát hoàng gia San Carlo là nhà hát lâu đời nhất còn hoạt động ở châu Âu. Đó là những năm Napoli đóng vai trò là kinh đô của âm nhạc với sự hoạt động phi thường của nhạc viện thành phố đã góp phần vào sự phát triển của trường phái âm nhạc Napoli. Nhờ truyền thống lâu đời nhiều thế kỷ này cùng với số lượng lớn các nhà hát trong thành phố, Napoli đã được chọn làm địa điểm tổ chức các sự kiện quan trọng như Liên hoan Sân khấu Quốc gia.
Nghệ thuật sân khấu Napoli theo định nghĩa chặt chẽ được ra đời cùng với các tác phẩm mang dấu ấn cung đình vương triều Aragon của Jacopo Sannazaro vào đầu thế kỷ 15 và 16. Một thể loại nhạc kịch opera có tên là opera buffa được tạo ra ở Napoli vào thế kỷ 18 và sau đó lan rộng đến Roma và đến miền bắc nước Ý. Trong thế kỷ 20, Eduardo De Filippo là cha đẻ của truyền thống kịch hiện đại Napoli, đảm nhận một loạt các hoạt động ban đầu là viết kịch bản và diễn xuất sân khấu nhằm mục đích đưa linh hồn của Napoli và cư dân của nó lên sân khấu, thông qua đó làm nổi bật những đặc điểm nhân văn cơ bản và xã hội đương đại, tiêu biểu nhất như Napoli milionaria! ("Triệu phú Napoli"). Ngày nay, các tác phẩm của ông vẫn được trình bày thông qua các tác phẩm điện ảnh hoặc tái hiện sân khấu.
"Sceneggiata" là loại hình sân khấu dân gian hiện đại trở nên rất phổ biến đối với người dân nước ngoài, và sau đó trở thành một trong những thể loại nổi tiếng nhất của điện ảnh Ý, dàn dựng các chủ đề kinh điển thông thường về những câu chuyện tình yêu bị cản trở, hài kịch, những câu chuyện đẫm nước mắt, thường là về những người lương thiện trở thành kẻ sống ngoài vòng pháp luật do những sự kiện không may. Nhiều nhà văn và nhà viết kịch như Raffaele Viviani đã viết phim hài và phim truyền hình cho thể loại này. Trong số các tác giả và diễn viên kịch hiện đại – đương đại của Napoli, đáng chú ý là Roberto De Simone và bộ ba La Smorfia gồm Enzo Decaro, Lello Arena và Massimo Troisi.
Âm nhạc
Từ trái sang phải và từ trên xuống: Domenico Scarlatti, một trong những nghệ nhân vĩ đại nhất của nhạc khí Ý; Giovanni Paisiello, một trong những nhà soạn nhạc cổ điển quan trọng nhất; Enrico Caruso, một trong những tenor lẫy lừng nhất của Ý; Renato Carosone, cha đẻ của làn sóng âm nhạc tại Ý ngay sau Thế chiến thứ hai: nhạc jazz
Khởi nguồn từ truyền thống truyền miệng hàng thế kỷ, âm nhạc Napoli mang hình thức phong nhã trong bối cảnh âm nhạc tôn giáo lẫn đời thường trong giai đoạn thế kỷ 15 đến 17. Napoli đóng vai trò quan trọng trong lịch sử âm nhạc nghệ thuật phương Tây trong hơn bốn thế kỷ. Các nhạc sĩ xuất chúng như Alessandro và Domenico Scarlatti, Giovanni Battista Pergolesi, Niccolò Piccinni, Giovanni Paisiello và Gioachino Rossini đóng góp vào bức tranh toàn cảnh châu Âu và cho sự hình thành và phát triển của opera và trường phái âm nhạc Napoli. Chất lượng và số lượng âm nhạc cổ điển được sản xuất ở Napoli được minh chứng bằng bức thư mà cha của Mozart viết cho con trai ông năm 1778 ưu ái so sánh khung cảnh opera ở Napoli với Paris về cơ hội cho nhà soạn nhạc trẻ nổi lên. Bốn nhạc viện danh tiếng của thành phố được hợp nhất năm 1808 dẫn đến sự ra đời của San Pietro a Majella từ đó xuất hiện những tên tuổi như Ruggero Leoncavallo, Riccardo Muti, Sergio Fiorentino, Vincenzo Bellini, Saverio Mercadante, Aldo Ciccolini, Salvatore Accardo, Bruno Canino, Nicola Antonio Zingarelli và Roberto De Simone. San Pietro Majella tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay với tư cách vừa là trung tâm giáo dục âm nhạc uy tín vừa là bảo tàng âm nhạc.
Đàn mandolin sớm nhất được tạo ra bởi gia đình Vinaccia giữa thế kỷ 18 và kiểu Napoli trở thành phiên bản phổ biến thế giới của loại nhạc cụ này. Do ảnh hưởng từ người Tây Ban Nha, người dân Napoli trở thành những người tiên phong trong âm nhạc guitar cổ điển, với Ferdinando Carulli và Mauro Giuliani là những tác gia nổi bật. Điệu tarantella của Napoli ra đời vào cuối thế kỷ 17 là một điệu nhảy tán tỉnh được thực hiện bởi các cặp đôi có "nhịp điệu, giai điệu, cử chỉ và các bài hát đi kèm khá phá cách" với âm nhạc vui tươi tiết tấu nhanh. Thể loại ca khúc Napoli "canzone napoletana" về cơ bản là âm nhạc truyền thống của thành phố, với hàng trăm bài hát dân gian, một số bài có thể bắt nguồn từ thế kỷ 13 và trở thành một loại hình chính thức vào giữa thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20. Bài hát cổ điển Napoli với sự góp mặt của các nhà soạn nhạc như Ernesto Murolo, Libero Bovio, Vincenzo Russo và Salvatore Di Giacomo, đã trở thành một trong những biểu tượng của nền âm nhạc Ý. Trong bối cảnh đó, giọng nam cao Enrico Caruso nổi lên như một nghệ sĩ truyền tải xuất sắc nhất và là một tượng đài âm nhạc Napoli trên toàn thế giới, được coi là một trong những tenor giọng nam cao opera vĩ đại nhất mọi thời đại.
Sau thế chiến, sự tiếp xúc của các nhạc sĩ Napoli với người Mỹ trong thời kỳ chiếm đóng của Hoa Kỳ tại Ý đã làm nảy sinh một làn sóng âm nhạc mới và cha đẻ của nó là Renato Carosone. Trụ sở chính của RAI ở Napoli là kho lưu trữ âm thanh của những ca khúc Napoli. Trong thời hiện đại, canzone napoletana với những đột phá về phong cách đã mở ra cánh cửa cho các thể loại âm nhạc khác như progressive rock, neomelodic, cantautore và sceneggiata.
(Còn tiếp)
4225-st


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét