Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

Hoa hồi gia vị (H363)
Hoa hồi từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, y học cổ truyền hay trong các bài thuốc dân gian ở cả dạng khô hoặc dạng tinh dầu. Ngoài những tác dụng của hoa hồi đã biết, ngày nay khoa học còn tách chiết acid shikimic từ quả hồi để điều chế thuốc chống cúm gia cầm tamiflu.
#1. TÊN GỌI VÀ HÌNH DẠNG CỦA HOA HỒI
Cây hoa hồi còn có các tên khác là: Đại hồi, Đại hồi hương, Hồi sao, Hồi 8 cánh, Mắc hồ. Cây hoa hồi thuộc họ Hồi, mọc chủ yếu ở Đông bắc Việt Nam và phía Nam Trung Quốc.
Tên khoa học lllicium verum Hook. f et Thoms.
Chúng ta thường gọi là hoa hồi nhưng chính xác phải gọi là quả hồi. Đó là do quả có hình sao nhiều cánh nên bị nhầm là hoa.
Cây hồi là giống cây thân gỗ tròn nhỏ có chiều cao trung bình từ 6m đến 15m và đường kính thân cây đến 30cm. Cành cây có màu xanh nhạt khi già chuyển thành nâu xám.
Cây hồ có lá dày, cứng và giòn có hình trái xoan, đầu lá có hình nhọn hoạc tù. Hoa của cây hồi là giống hoa lưỡng tính có cuống hoa ngắn.
Quả có hình sao khi chín chuyển sang màu nâu, mỗi quả có từ 6 đến 13 đại. Trong mỗi đại của quả hồi lại có một hạt hình trứng nhẵn màu nâu hoặc hơi hung đỏ. Quả chính là nơi chứa các chất tạo nên tác dụng của hoa hồi.
#2. NƠI SINH TRƯỞNG VÀ PHÂN BỐ CỦA HOA HỒI
Cây hoa hồi mọc ở độ cao 200m đến 600m ở nơi có nhiệt độ trung bình năm từ 18o đến 22o C và lượng mưa lớn từ 1000mm đến 2800mm.
Hoa hồi được trồng nhiều ở các tỉnh Đông bắc Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng và Bắc Cạn.
Trên thế giới vùng trồng hồi chủ yếu là Trung Quốc và Việt Nam. Ngoài ra cây hồi đã được di thực và trồng tại Nhật và Ấn Độ.
#3. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN
Mỗi năm cây hồi cho hai vụ quả là tháng 4 và tháng 8 âm lịch, trái đậu tại các cành nhỏ ở ngoài rìa. Để hái quả hồi cần trèo lên cao nên bà con thường hái vào những ngày trời nắng, khô ráo. Do đặc điểm cây hồi giòn và dễ gẫy, trời mưa hái sẽ nguy hiểm.
Sau khi thu hoạch quả hồi cần phơi ngay để tránh ẩm mốc. Tỷ lệ quả khô sau khi phơi so với quả tươi là 25kg quả khô thu được từ 100kg quả tươi.
Nếu mục đích sử dụng là chế tinh dầu thì có thế chiết xuất từ quả tươi ngay sau khi thu hoạch hoặc chiết xuất từ quả khô.
#4. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HOA HỒI
Thành phần quan trọng của cây hồi là tinh dầu chứa nhiều trong quả khoảng 3% trong quả hồi tươi. Trong tinh dầu này chủ yếu là chất trans-anethol và 20 hợp chất khác nhau như limonen, alpha pinen, Beta phelladren, linalool, ...).
Đặc biệt từ quả hồi có thể tách chiết acid shikimic để tổng hợp Osaltamivir. Osaltamivir là một hoạt chất của thuốc chống cúm gia cầm tamiflu trên người.
#5. TÁC DỤNG CỦA HOA HỒI
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những tác dụng của hoa hồi.
Khoa học đã chứng minh chất Anethole có trong hoa hồi có tác dụng làm tăng nhu động ruột và dạ dày, tác dụng làm dịu cơn đau bụng. Anethole còn kích thích các tế bào tiết dịch làm tăng tiết dịch đường hô hấp.
Ngoài ra cồn được chiết xuất từ cây Đại hồi có thể ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn lị, thương hàn, ... cũng như ức chế một số loại nấm chuyên gây bệnh ngoài da.
Tinh dầu hồi còn được sử dụng để tạo hương vị cho bánh kẹo, nước ngọt và cả rượu khai vị.
Các khoáng chất (Kali, Canxi, Ma giê, Đồng, Sắt, Kẽm, Liti, ...).
Cây hồi có tác dụng làm giảm đầy hơi, chướng bụng.
Cây hồi được sử dụng để bồi bổ thận dương qua đó điều trị đau lưng. Mời bạn đọc thêm các bài thuốc về thận tại đây:
Cây hồi còn được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, là gia vị quan trọng trong các món ăn. Hoa hồi là một thành phần không thể thiếu của món Phở.
Tinh dầu hồi giúp tiêu hóa dễ dàng hơn, ức chế sự lên men ở ruột, kích thích trung tiện, long đờm và lợi tiểu nhẹ, sát khuẩn. Nhờ vậy tinh dầu hồi được sử dụng để làm thuốc chữa đau bụng, chữa ho, chữa thấp khớp, chữa đau tai, chữa trị bệnh nấm da và ghẻ.
14319-TTT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét