Bahrain (33)
Vương quốc Bahrain
مملكة البحرينMamlakat al-Baḥrayn (tiếng Ả Rập
Flag of Bahrain.svg Emblem of Bahrain.svg
Flag of Bahrain.svg Emblem of Bahrain.svg
Quốc ca
Bahrainona
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua
Thủ tướng Hamad bin Isa Al Khalifa
Khalifa bin Salman Al Khalifa
Thủ đô Manama
26°01′B 50°33′Đ
Thành phố lớn nhất Manama
Địa lý
Diện tích 765 km² (hạng 173)
Múi giờ UTC+3; mùa hè: UTC+3
Lịch sử
Độc lập
15 tháng 8 năm 1971 Từ Anh
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Dân số ước lượng (2016) 1.378.000 người (hạng 155)
Dân số (2010) 1.234.571 người
Mật độ 1.626,6 người/km² (hạng 7)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 66,369 tỷ USD (hạng 96)
Bình quân đầu người: 50.302 USD (hạng 13)
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 31,823 tỷ (hạng 98)
Bình quân đầu người: $24,119 (hạng 31)
HDI (2014) 0.824 rất cao (hạng 45)
Đơn vị tiền tệ Dinar Bahrain (BHD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .bh
Bahrain (phiên âm tiếng Việt: Ba-ranh; tiếng Ả Rập: البحرين Về âm thanh nàyal-Baḥrayn), gọi chính thức là Vương quốc Bahrain (tiếng Ả Rập: مملكة البحرين Về âm thanh nàyMamlakat al-Baḥrayn), là một quốc gia quân chủ Ả Rập trên vịnh Ba Tư . Đây là một đảo quốc gồm một quần đảo nhỏ tập trung quanh đảo Bahrain, nằm giữa Qatar và duyên hải đông bắc của Ả Rập Xê Út, Bahrain liên kết với Ả Rập Xê Út qua đường đắp cao Quốc vương Fahd dài 25 km. Dân số Bahrain đạt 1.234.567 vào khoảng năm 2010, trong đó bao gồm 666.172 người ngoại quốc. Bahrain có diện tích 780 km², là quốc gia nhỏ thứ ba tại châu Á sau Maldives và Singapore.
Bahrainona
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Vua
Thủ tướng Hamad bin Isa Al Khalifa
Khalifa bin Salman Al Khalifa
Thủ đô Manama
26°01′B 50°33′Đ
Thành phố lớn nhất Manama
Địa lý
Diện tích 765 km² (hạng 173)
Múi giờ UTC+3; mùa hè: UTC+3
Lịch sử
Độc lập
15 tháng 8 năm 1971 Từ Anh
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Dân số ước lượng (2016) 1.378.000 người (hạng 155)
Dân số (2010) 1.234.571 người
Mật độ 1.626,6 người/km² (hạng 7)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016) Tổng số: 66,369 tỷ USD (hạng 96)
Bình quân đầu người: 50.302 USD (hạng 13)
GDP (danh nghĩa) (2016) Tổng số: 31,823 tỷ (hạng 98)
Bình quân đầu người: $24,119 (hạng 31)
HDI (2014) 0.824 rất cao (hạng 45)
Đơn vị tiền tệ Dinar Bahrain (BHD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .bh
Bahrain (phiên âm tiếng Việt: Ba-ranh; tiếng Ả Rập: البحرين Về âm thanh nàyal-Baḥrayn), gọi chính thức là Vương quốc Bahrain (tiếng Ả Rập: مملكة البحرين Về âm thanh nàyMamlakat al-Baḥrayn), là một quốc gia quân chủ Ả Rập trên vịnh Ba Tư . Đây là một đảo quốc gồm một quần đảo nhỏ tập trung quanh đảo Bahrain, nằm giữa Qatar và duyên hải đông bắc của Ả Rập Xê Út, Bahrain liên kết với Ả Rập Xê Út qua đường đắp cao Quốc vương Fahd dài 25 km. Dân số Bahrain đạt 1.234.567 vào khoảng năm 2010, trong đó bao gồm 666.172 người ngoại quốc. Bahrain có diện tích 780 km², là quốc gia nhỏ thứ ba tại châu Á sau Maldives và Singapore.
Bahrain thời cổ đại từng thuộc văn minh Dilmun. Đảo quốc nổi tiếng từ xưa với nghề tìm kiếm ngọc trai, ngọc trai Bahrain được cho là tốt nhất thế giới trong thế kỷ XIX. Bahrain là một trong các khu vực cải sang Hồi giáo sớm nhất (628). Sau giai đoạn người Ả Rập cai trị, Bahrain bị người Bồ Đào Nha chiếm đóng vào năm 1521. Đến năm 1602, Quốc vương Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha. Năm 1783, thị tộc Bani Utbah chiếm lấy Bahrain từ Nasr Al-Madhkur (thống đốc của Ba Tư) và kể từ đó đảo quốc nằm dưới quyền cai trị của gia tộc Al Khalifa. Đến cuối thập niên 1800, sau các hiệp ước liên tiếp với Anh, Bahrain trở thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh. Năm 1971, Bahrain tuyên bố độc lập. Bahrain thay đổi tiền tố quốc hiệu từ 'nhà nước' sang 'vương quốc' vào năm 2002. Năm 2011, đảo quốc này trải qua các cuộc thị uy lấy cảm hứng từ Mùa xuân Ả Rập.
Bahrain có nền kinh tế hậu dầu mỏ đầu tiên tại khu vực vịnh Ba Tư. Kể từ cuối thế kỷ XX, Bahrain tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng và du lịch. Nhiều tổ chức tài chính lớn hiện diện tại thủ đô Manama của đảo quốc. Bahrain có chỉ số phát triển con người ở mức cao và được Ngân hàng Thế giới công nhận là một nền kinh tế thu nhập cao.
Trong tiếng Ả Rập, Bahrayn là dạng kép của bahr ("biển"), do đó al-Bahrayn nghĩa là "hai biển", song hai biển ám chỉ điều gì thì vẫn còn tranh luận.Thuật ngữ này xuất hiện năm lần trong kinh Quran, song không ám chỉ đảo quốc hiện đại — ban đầu người Ả Rập gọi là Awal — mà là toàn bộ miền đông bán đảo Ả Rập (đặc biệt là al-Katif và al-Hasa).
Ngày nay, "hai biển" của Bahrain thay vào đó thường được cho là vịnh phía đông và tây của đảo, biển bắc và nam của đảo, hoặc là nước mặn và nước ngọt tại bên trên và bên dưới mặt đất. Ngoài các giếng nước, có các khu vực tại vùng biển phía bắc của Bahrain xảy ra hiện tượng nước ngọt sủi bọt lên giữa dòng nước mặn, hiện tượng này được các du khách chú ý từ thời cổ. Một thuyết khác về từ nguyên của Bahrain cho rằng hai biển chính là vịnh Ba Tư và một hồ nước yên lặng tại đại lục bán đảo Ả Rập.
Cho đến vãn kỳ Trung Cổ, "Bahrain" được dùng để chỉ miền đông bán đảo Ả Rập, gồm cả miền nam Iraq, Kuwait, Al-Hasa, Qatif và Bahrain. Khu vực trải dài từ Basra tại Iraq đến eo biển Hormuz tại Oman. Không rõ thời điểm chính xác khi thuật ngữ "Bahrain" bắt đầu chỉ đề cập đến quần đảo Awal. Đảo và vương quốc được viết phổ biến là Bahrein cho đến thập niên 1950.
Lịch sử
Cổ đại
Đế quốc Ba Tư thời Sassanid đạt đỉnh cao trong thời gian cai trị của Khosrau II (590–628).
Bahrain là quê hương của văn minh Dilmun, là một trung tâm mậu dịch quan trọng trong thời đại đồ đồng giúp liên kết Lưỡng Hà và thung lũng sông Ấn. Bahrain sau đó nằm dưới quyền cai trị của người Assyria và người Babylon. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ III TCN, Bahrain là bộ phận của đế quốc Achaemenes Ba Tư. Đến khoảng năm 250 TCN, người Parthia (từ đông bắc Ba Tư) kiểm soát vịnh Ba Tư và bành trướng ảnh hưởng xa đến Oman. Người Parthia lập các đồn quân sự dọc duyên hải phía nam của vịnh Ba Tư để kiểm soát các tuyến mậu dịch.
Bahrain là quê hương của văn minh Dilmun, là một trung tâm mậu dịch quan trọng trong thời đại đồ đồng giúp liên kết Lưỡng Hà và thung lũng sông Ấn. Bahrain sau đó nằm dưới quyền cai trị của người Assyria và người Babylon. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ III TCN, Bahrain là bộ phận của đế quốc Achaemenes Ba Tư. Đến khoảng năm 250 TCN, người Parthia (từ đông bắc Ba Tư) kiểm soát vịnh Ba Tư và bành trướng ảnh hưởng xa đến Oman. Người Parthia lập các đồn quân sự dọc duyên hải phía nam của vịnh Ba Tư để kiểm soát các tuyến mậu dịch.
Người Hy Lạp cổ đại gọi Bahrain là Tylos, trung tâm mậu dịch ngọc trai, khi đô đốc Hy Lạp Nearchus đổ bộ lên Bahrain theo lệnh Alexandros Đại đế. Nearchus được cho là vị chỉ huy đầu tiên của Alexandros đến đảo, ông ghi lại rằng Bahrain có các đồn điền lớn trồng bông để sản xuất trang phục. Sử gia Hy Lạp Theophrastus viết rằng cây bông bao phủ phần lớn Bahrain và rằng Bahrain nổi tiếng về gậy đi bộ (ba toong) xuất khẩu được chạm khắc các hình vẽ. Alexandros có kế hoạch định cư người Hy Lạp tại Bahrain, và mặc dù không rõ về quy mô tiến hành trên thực tiễn, song Bahrain là bộ phận hội nhập nhiều trong thế giới Hy Lạp hoá: ngôn ngữ của tầng lớp thượng lưu là tiếng Hy Lạp (dù Aramaic được sử dụng hàng ngày), trong khi thần Zeus được thờ phụng dưới dạng thần mặt trời Shams Ả Rập. Bahrain thậm chí còn trở thành địa điểm thi đấu thể thao Hy Lạp. Sử gia Hy Lạp Strabo cho rằng người Phoenicia có nguồn gốc từ Bahrain. Herodotus cũng cho rằng quê hương của người Phoenicia là Bahrain.
Trong thế kỷ III, quân chủ đầu tiên của vương triều Sassanid Ba Tư là Ardashir I hành quân đến Oman và Bahrain, đánh bại người cai trị Bahrain là Sanatruq. Khi đó, Bahrain được gọi là Mishmahig. Bahrain cũng là nơi thờ một vị thần bò gọi là Awal, những người thời phụng xây một tượng lớn cho Awal tại Muharraq, song hiện đã biến mất. Sau nhiều thế kỷ được gọi là Tylos, Bahrain được gọi là Awal. Đến thế kỷ V, Bahrain trở thành một trung tâm của Cảnh giáo, ngôi làng Samahij là nơi ở của các giám mục. Năm 410, theo như hồ sơ tôn giáo của Giáo hội Đông phương Syria, một giám mục tên là Batai bị rút phép thông công khỏi giáo hội tại Bahrain. Tín đồ Cảnh giáo thường bị triều đình Đông La Mã ngược đãi do bị cho là dị giáo, song Bahrain nằm ngoài phạm vi kiểm soát của đế quốc này.
Cư dân Bahrain thời kỳ tiền Hồi giáo gồm có người Ả Rập Cơ Đốc giáo, người Ba Tư theo Hoả giáo, người Do Thái, và người nói tiếng Aram. Theo học giả Anh Robert Bertram Serjeant, người Bahrain có thể là hậu duệ Ả Rập hoá của những người Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo và Ba Tư sống trên đảo vào thời điểm người Hồi giáo chinh phục.
Thời kỳ Muhammad
Tương tác đầu tiên của Muhammad với cư dân Bahrain là cuộc xâm chiếm Al Kudr. Muhammad ra lệnh tấn công bất ngờ bộ lạc Banu Salim với cáo buộc rằng họ âm mưu tấn công Medina. Ông nhận được tin tức rằng một số bộ lạc tập hợp một đội quân tại Bahrain và chuẩn bị tấn công vào đại lục. Song các nhân sĩ bộ lạc rút lui khi biết rằng Muhammad đang dẫn quân đến giao chiến với họ.
Tương tác đầu tiên của Muhammad với cư dân Bahrain là cuộc xâm chiếm Al Kudr. Muhammad ra lệnh tấn công bất ngờ bộ lạc Banu Salim với cáo buộc rằng họ âm mưu tấn công Medina. Ông nhận được tin tức rằng một số bộ lạc tập hợp một đội quân tại Bahrain và chuẩn bị tấn công vào đại lục. Song các nhân sĩ bộ lạc rút lui khi biết rằng Muhammad đang dẫn quân đến giao chiến với họ.
Tư liệu Hồi giáo truyền thống viết rằng Al-Ala'a Al-Hadrami được Muhammad cử làm sứ giả trong cuộc chinh phục Zaid ibn Haritha (Hisma) đến khu vực Bahrain vào năm 628 và rằng quân chủ địa phương là Munzir ibn-Sawa al-Tamimi hưởng ứng và cải đạo toàn bộ khu vực sang Hồi giáo.
Trung Cổ
Năm 899, giáo phái Qarmat (thuộc hệ Hồi giáo Shia) chiếm được Bahrain, tìm cách lập ra một xã hội không tưởng dựa trên lý trí và tái phân phối của cải trong những người thụ giáo. Sau đó, giáo phái Qarmat yêu cầu triều cống từ khalip tại Baghdad, và đến năm 930 họ cướp phá Mecca và Medina, đưa Đá Đen thiêng liêng về căn cứ của họ tại Ahsa, tức khu vực Bahrain trung đại, để đòi tiền chuộc. Theo sử gia Al-Juwayni, hòn đá được trả lại 22 năm sau vào năm 951 trong hoàn cảnh khó hiểu.
Năm 899, giáo phái Qarmat (thuộc hệ Hồi giáo Shia) chiếm được Bahrain, tìm cách lập ra một xã hội không tưởng dựa trên lý trí và tái phân phối của cải trong những người thụ giáo. Sau đó, giáo phái Qarmat yêu cầu triều cống từ khalip tại Baghdad, và đến năm 930 họ cướp phá Mecca và Medina, đưa Đá Đen thiêng liêng về căn cứ của họ tại Ahsa, tức khu vực Bahrain trung đại, để đòi tiền chuộc. Theo sử gia Al-Juwayni, hòn đá được trả lại 22 năm sau vào năm 951 trong hoàn cảnh khó hiểu.
Sau thất bại vào năm 976 trước vương triều Abbas Ba Tư, giáo phái Qarmat bị vương triều Uyuni của người Ả Rập tại al-Hasa (nay thuộc Ả Rập Xê Út) lật đổ, vương triều này chiếm được toàn bộ khu vực Bahrain vào năm 1076. Vương triều Uyuni kiểm soát Bahrain cho đến năm 1235, vào năm này quần đảo bị một thống đốc Ba Tư chiếm đóng trong một thời gian ngắn. Năm 1253, người Usfuri du mục lật đổ vương triều Uyuni, nhờ đó giành quyền kiểm soát miền đông bán đảo Ả Rập, trong đó có quần đảo Bahrain. Năm 1330, quần đảo trở thành một nước chư hầu của quân chủ Hormuz, song tại địa phương quần đảo nằm dưới quyền kiểm soát của vương triều Jarwani tại Qatif (nay thuộc Ả Rập Xê Út) theo Hồi giáo Shia. Đến giữa thế kỷ XV, quần đảo nằm dưới quyền kiểm soát của vương triều Jabri, một triều đại Bedouin cũng có căn cứ tại Al-Ahsa và kiểm soát hầu hết miền đông bán đảo Ả Rập.
Thời kỳ đầu hiện đại
Năm 1521, người Bồ Đào Nha liên minh với Hormuz và chiếm được Bahrain từ tay quân chủ Jabri là Migrin ibn Zamil. Bồ Đào Nha cai trị Bahrain trong khoảng 80 năm, trong thời gian đó họ dựa chủ yếu vào các thống đốc người Ba Tư theo Hồi giáo Sunni. Năm 1602, Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha khỏi quần đảo, giúp thúc đẩy Hồi giáo Shia. Trong hai trăm năm sau đó, các quân chủ Ba Tư duy trì quyền kiểm soát đối với quần đảo, song bị gián đoạn do các cuộc xâm chiếm vào năm 1717 và 1738 của giáo phái Ibadi tại Oman. Trong hầu hết giai đoạn này, vương triều Ba Tư quản lý gián tiếp Bahrain, hoặc là thông qua thành phố Bushehr (nay thuộc Iran) hoặc thông qua các thị tộc Ả Rập Sunni nhập cư. Nhóm sau là các bộ lạc từ lãnh thổ Ba Tư quay trở lại phía bán đảo Ả Rập của vịnh Ba Tư, họ được gọi là Huwala. Năm 1753, một thị tộc Huwala là Nasr Al-Madhkur xâm chiếm Bahrain nhân danh Karim Khan Zand (người sáng lập vương triều Zand tại Ba Tư) và khôi phục quyền cai trị trực tiếp của Ba Tư.
Năm 1521, người Bồ Đào Nha liên minh với Hormuz và chiếm được Bahrain từ tay quân chủ Jabri là Migrin ibn Zamil. Bồ Đào Nha cai trị Bahrain trong khoảng 80 năm, trong thời gian đó họ dựa chủ yếu vào các thống đốc người Ba Tư theo Hồi giáo Sunni. Năm 1602, Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha khỏi quần đảo, giúp thúc đẩy Hồi giáo Shia. Trong hai trăm năm sau đó, các quân chủ Ba Tư duy trì quyền kiểm soát đối với quần đảo, song bị gián đoạn do các cuộc xâm chiếm vào năm 1717 và 1738 của giáo phái Ibadi tại Oman. Trong hầu hết giai đoạn này, vương triều Ba Tư quản lý gián tiếp Bahrain, hoặc là thông qua thành phố Bushehr (nay thuộc Iran) hoặc thông qua các thị tộc Ả Rập Sunni nhập cư. Nhóm sau là các bộ lạc từ lãnh thổ Ba Tư quay trở lại phía bán đảo Ả Rập của vịnh Ba Tư, họ được gọi là Huwala. Năm 1753, một thị tộc Huwala là Nasr Al-Madhkur xâm chiếm Bahrain nhân danh Karim Khan Zand (người sáng lập vương triều Zand tại Ba Tư) và khôi phục quyền cai trị trực tiếp của Ba Tư.
Năm 1783, Nasr Al-Madhkur để mất quần đảo Bahrain sau khi thất bại trước bộ lạc Bani Utbah. Bahrain không phải là lãnh thổ mới của người Bani Utbah vì họ hiện diện tại đây từ thế kỷ XVII. Trong thời gian này, họ bắt đầu mua các vườn chà là tại Bahrain; một văn kiện cho thấy rằng 81 năm trước khi gia tộc Al-Khalifa đến, một vị sheikh của bộ lạc Al Bin Ali (một nhánh của Bani Utbah) đã mua một vườn chà là từ Mariam bint Ahmed Al Sanadi trên đảo Sitra.
Al Bin Ali là nhóm chi phối kiểm soát thị trấn Zubarah trên bán đảo Qatar, ban đầu là trung tâm quyền lực của Bani Utbah. Sau khi Bani Utbah giành quyền kiểm soát Bahrain, Al Bin Ali thực tế có địa vị độc lập tại đây với vị thế bộ lạc tự quản. Họ sử dụng hiệu kỳ có bốn dải đỏ và ba dải trắng gọi là Al-Sulami tại Bahrain, Qatar, Kuwait, và tỉnh Đông của Ả Rập Xê Út. Sau đó, các thị tộc và bộ lạc Ả Rập khác từ Qatar chuyển đến Bahrain để định cư sau khi Nasr Al-Madhkur thất bại. Trong các gia tộc này có Al Khalifa, Al-Ma'awdah, Al-Fadhil, Al-Mannai, Al-Noaimi, Al-Sulaiti, Al-Sadah, Al-Thawadi. Gia tộc Al Khalifa chuyển từ Qatar đến Bahrain vào năm 1799. Ban đầu, tổ tiên của họ bị Ottoman trục xuất khỏi Umm Qasr thuộc miền trung bán đảo Ả Rập đến Kuwait vào năm 1716, họ ở lại đó cho đến năm 1766. Khoảng thập niên 1760, các thị tộc Al Jalahma và Al Khalifa, đều thuộc liên minh Utub, di cư đến Zubarah thuộc Qatar ngày nay, khiến Al Sabah là gia tộc duy nhất sở hữu Kuwait.
Từ thế kỷ XIX
Vào đầu thế kỷ XIX, Bahrain bị cả người Oman và gia tộc Al Saud (hoàng tộc Ả Rập Xê Út ngày nay) xâm chiếm. Năm 1802, quần đảo nằm dưới quyền cai quản của một thiếu nhi 12 tuổi khi quân chủ Oman cho con trai ông ta là Salim làm thống đốc của pháo đài Arad. Năm 1816, công sứ chính trị Anh tại vịnh Ba Tư là William Bruce nhận được thư từ Sheikh của Bahrain với nội dung lo ngại về tin đồn rằng Anh sẽ ủng hộ Imam của Muscat tấn công đảo. Bruce đến Bahrain để cam đoan với Sheikh rằng đó không phải sự thực và đưa ra một thoả thuận phi chính thức đảm bảo với Sheikh rằng Anh duy trì là một bên trung lập.Năm 1820, bộ lạc Al Khalifa được Anh công nhận là quân chủ ("Al-Hakim" theo tiếng Ả Rập) của Bahrain sau khi ký kết quân hệ hiệp ước. Tuy nhiên, mười năm sau đó họ buộc phải cống nạp hàng năm cho Ai Cập (chư hầu của Ottoman) bất chấp việc tìm kiếm bảo hộ từ Ba Tư và Anh.
Vào đầu thế kỷ XIX, Bahrain bị cả người Oman và gia tộc Al Saud (hoàng tộc Ả Rập Xê Út ngày nay) xâm chiếm. Năm 1802, quần đảo nằm dưới quyền cai quản của một thiếu nhi 12 tuổi khi quân chủ Oman cho con trai ông ta là Salim làm thống đốc của pháo đài Arad. Năm 1816, công sứ chính trị Anh tại vịnh Ba Tư là William Bruce nhận được thư từ Sheikh của Bahrain với nội dung lo ngại về tin đồn rằng Anh sẽ ủng hộ Imam của Muscat tấn công đảo. Bruce đến Bahrain để cam đoan với Sheikh rằng đó không phải sự thực và đưa ra một thoả thuận phi chính thức đảm bảo với Sheikh rằng Anh duy trì là một bên trung lập.Năm 1820, bộ lạc Al Khalifa được Anh công nhận là quân chủ ("Al-Hakim" theo tiếng Ả Rập) của Bahrain sau khi ký kết quân hệ hiệp ước. Tuy nhiên, mười năm sau đó họ buộc phải cống nạp hàng năm cho Ai Cập (chư hầu của Ottoman) bất chấp việc tìm kiếm bảo hộ từ Ba Tư và Anh.
Năm 1860, gia tộc Al Khalifa viết thư cho triều đình Ba Tư và Ottoman, và họ chấp thuận đưa Bahrain nằm dưới quyền bảo hộ của Ottoman trong tháng 3 do được hưởng các điều kiện tốt hơn. Cuối cùng, chính phủ Ấn Độ thuộc Anh khuất phục Bahrain khi người Ba Tư từ chối bảo vệ quần đảo. Thượng tá Lewis Pelly ký một hiệp ước mới với gia tộc Al Khalifa để đưa Bahrain nằm dưới quyền cai trị và bảo hộ của Anh.
Sau chiến tranh Qatar–Bahrain vào năm 1868, các đại biểu của Anh ký kết thoả ước khác với gia tộc Al Khalifa. Nó ghi rõ rằng quân chủ không thể chuyển nhượng bất kỳ lãnh thổ nào của mình ngoại trừ cho Anh và không thể tham gia quan hệ với bất kỳ chính phủ ngoại quốc nào nếu Anh không đồng ý. Đổi lại Anh cam kết bảo vệ Bahrain khỏi toàn bộ hành vi công kích bằng đường biển và giúp đỡ trong trường hợp có tấn công trên bộ. Quan trọng hơn là người Anh cam kết ủng hộ quyền cai trị của gia tộc Al Khalifa tại Bahrain, bảo đảm cho vị thế quân chủ vốn bất ổn của họ. Các thoả ước khác vào năm 1880 và 1892 chính thức hoá vị thế bảo hộ Bahrain của người Anh.
Náo động trong cư dân Bahrain bắt đầu khi Anh chính thức thiết lập địa vị thống trị hoàn toàn đối với lãnh thổ vào năm 1892. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên có quy mô rộng đã diễn ra trong tháng 3 năm 1895 nhằm chống lại quân chủ Bahrain là Sheikh Issa bin Ali. Sheikh Issa là người đầu tiên trong gia tộc Al Khalifa cai trị mà không có quan hệ với Ba Tư. Đại diện của Anh tại vịnh Ba Tư là Arnold Wilson đến Bahrain từ Muscat trong thời gian này. Khởi nghĩa phát triển thêm với việc một số người biểu tình bị quân Anh giết.
Trước khi phát triển dầu mỏ, quần đảo phần lớn chuyên về tìm kiếm ngọc trai, và cho đến thế kỷ XIX vẫn được đánh giá là có chất lượng tốt nhất thế giới. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, có khoảng 400 tàu tìm ngọc trai và giá trị xuất khẩu hàng năm là trên 30.000 bảng Anh.
Năm 1911, một nhóm thương gia Bahrain yêu cầu hạn chế ảnh hưởng của Anh đối với quốc gia. Các thủ lĩnh của nhóm này sau đó bị tống giam và lưu đày sang Ấn Độ. Năm 1923, người Anh tiến hành cải cách hành chính và thay thế Sheikh Issa bin Ali bằng con trai ông. Một số địch thủ tăng lữ và gia đình như al Dossari rời đi hoặc bị lưu đày sang Ả Rập Xê Út và Iran. Ba năm sau, người Anh đặt Bahrain dưới quyền cai trị thực tế của Charles Belgrave, người này giữ chức vụ cố vấn cho quân chủ Bahrain cho đến năm 1957. Belgrave tiến hành một số cải cách như thành lập trường học hiện đại đầu tiên tại quần đảo vào năm 1919, trường nữ sinh đầu tiên tại vịnh Ba Tư vào năm 1928 và bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1937. Trong khi đó, ngành lặn tìm ngọc trai phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Năm 1927, quân chủ của Iran là Reza Shah yêu sách chủ quyền đối với Bahrain trong một bức thư gửi đến Hội Quốc Liên, động thái này thúc đẩy Charles Belgrave tiến hành các biện pháp khắc nghiệt bao gồm khuyến khích xung đột giữa người Hồi giáo Shia và Sunni nhằm dẹp yên khởi nghĩa và giới hạn ảnh hưởng của Iran. Belgrave thậm chí còn đề xuất đổi tên vịnh Ba Tư thành "vịnh Ả Rập"; song bị chính phủ Anh bác bỏ. Quan tâm của Anh trong phát triển của Bahrain bắt nguồn từ lo ngại về tham vọng của Ả Rập Xê Út và Iran trong khu vực.
Công ty Dầu mỏ Bahrain (Bapco) là công ty con của Công ty Standard tại California (Socal), họ phát hiện dầu mỏ vào năm 1931 và bắt đầu sản xuất vào năm sau đó. Điều này khiến cho Bahrain được hiện đại hoá nhanh chóng. Quan hệ với Anh trở nên mật thiết hơn, bằng chứng là Hải quân Hoàng gia Anh chuyển toàn bộ Bộ tư lệnh Trung Đông từ Bushehr thuộc Iran sang Bahrain vào năm 1935.
Bahrain tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai bên phía Đồng Minh. Ngày 19 tháng 10 năm 1940, bốn máy bay SM.82s của Ý tiến hành oanh tạc Bahrain cùng các mỏ dầu Dhahran tại Ả Rập Xê Út, nhằm mục tiêu là nhà máy lọc dầu do Đồng Minh điều hành. Sau chiến tranh, cảm tình chống Anh ngày càng phổ biến khắp thế giới Ả Rập và dẫn đến náo loạn tại Bahrain. Náo loạn tập trung mục tiêu vào cộng đồng Do Thái. Năm 1948, sau khi gia tăng các hành vi thù địch và cướp bóc, hầu hết thành viên của cộng đồng Do Thái Bahrain từ bỏ tài sản và đào thoát sang Bombay, sau đó định cư tại Israel và Anh. Tính đến năm 2008, 37 người Do Thái còn sống tại Bahrain. Trong thập niên 1950, Uỷ ban Đoàn kết Quốc gia yêu cầu hình thành hội đồng dân cử, loại bỏ Belgrave và tiến hành một số cuộc thị uy và tổng đình công. Năm 1965, một cuộc khởi nghĩa kéo dài trong một tháng bùng phát sau khi hàng trăm công nhân của Công ty Dầu mỏ Bahrain bị sa thải.
Độc lập
Ngày 15 tháng 6 năm 1971, mặc dù Shah của Iran yêu sách chủ quyền lịch sử với Bahrain, song ông chấp thuận một cuộc trưng cầu dân ý do Liên Hiệp Quốc tổ chức và cuối cùng Bahrain tuyên bố độc lập và ký một hiệp ước hữu nghị mới với Anh. Bahrain gia nhập Liên Hiệp Quốc và Liên đoàn Ả Rập trong cùng năm. Cuộc bùng nổ dầu mỏ trong thập niên 1970 mang lại lợi ích rất lớn cho Bahrain, song cuộc suy thoái tiếp sau đó khiến kinh tế bị tổn hại. Quốc gia này đã bắt đầu đa dạng hoá kinh tế và hưởng lợi từ nội chiến Liban trong thập niên 1970 và 1980, khi mà Bahrain thay thế Beirut (thủ đô Liban) trong vai trò là trung tâm tài chính Trung Đông.
Ngày 15 tháng 6 năm 1971, mặc dù Shah của Iran yêu sách chủ quyền lịch sử với Bahrain, song ông chấp thuận một cuộc trưng cầu dân ý do Liên Hiệp Quốc tổ chức và cuối cùng Bahrain tuyên bố độc lập và ký một hiệp ước hữu nghị mới với Anh. Bahrain gia nhập Liên Hiệp Quốc và Liên đoàn Ả Rập trong cùng năm. Cuộc bùng nổ dầu mỏ trong thập niên 1970 mang lại lợi ích rất lớn cho Bahrain, song cuộc suy thoái tiếp sau đó khiến kinh tế bị tổn hại. Quốc gia này đã bắt đầu đa dạng hoá kinh tế và hưởng lợi từ nội chiến Liban trong thập niên 1970 và 1980, khi mà Bahrain thay thế Beirut (thủ đô Liban) trong vai trò là trung tâm tài chính Trung Đông.
Sau cách mạng Hồi giáo tại Iran vào năm 1979, đến năm 1981 các phần tử theo trào lưu chính thống Shia tại Bahrain tiến hành đảo chính thất bại dưới bảo trợ của Mặt trận Hồi giáo Giải phóng Bahrain. Cuộc đảo chính do một giáo sĩ Shia lưu vong tại Iran tên là Hadi al-Modarresi chỉ đạo, ông ta tự xưng là thủ lĩnh tối cao của một chính phủ thần quyền. Trong tháng 12 năm 1994, một nhóm thanh niên ném đá vào các vận động viên nữ trong một giải chạy marathon quốc tế do các vận động viên này để hở chân. Xung đột sau đó với cảnh sát nhanh chóng phát triển thành bất ổn dân sự.
Một cuộc khởi nghĩa quần chúng diễn ra từ năm 1994 đến năm 2000 khi các phần tử tả khuynh, tự do và Hồi giáo liên hiệp. Kết quả là khoảng bốn mươi người thiệt mạng và khởi nghĩa kết thúc sau khi Hamad ibn Isa Al Khalifa trở thành Emir của Bahrain vào năm 1999. Ông cho tiến hành bầu cử nghị viện, trao cho nữ giới quyền bỏ phiếu, và phóng thích toàn bộ các tù nhân chính trị. Một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 14–15 tháng 2 năm 2001 có kết quả là đại đa số ủng hộ Hiến chương Hành động Quốc gia. Ngày 14 tháng 2 năm 2002, Bahrain đổi quốc hiệu chính thức từ Nhà nước Bahrain sang Vương quốc Bahrain.
Bahrain tham gia hành động quân sự chống lại Taliban vào tháng 10 năm 2001 khi triển khai một tàu hộ tống trên biển Ả Rập để phục vụ các hoạt động cứu hộ và nhân đạo. Do đó đến tháng 11 cùng năm, chính phủ Hoa Kỳ xác định Bahrain là một "đồng minh lớn không thuộc NATO". Bahrain phản đối xâm chiếm Iraq và đề nghị Saddam Hussein tị nạn trong những ngày trước cuộc xâm chiếm. Quan hệ giữa Bahrain và Qatar được cải thiện sau khi tranh chấp biên giới về quần đảo Hawar được Toà án Công lý Quốc tế tại La Hay giải quyết vào năm 2001. Sau khi tiến hành tự do hoá chính trị, Bahrain đàm phán một hiệp định tự do mậu dịch với Hoa Kỳ vào năm 2004.
Được truyền cảm hứng từ Mùa xuân Ả Rập, cộng đồng Shia vốn chiếm đa số tại Bahrain bắt đầu các cuộc thị uy lớn chống giới lãnh đạo theo Hồi giáo Sunni vào đầu năm 2011.Chính phủ sau đó yêu cầu trợ giúp an ninh từ Ả Rập Xê Út và các quốc gia Vùng Vịnh khác và tuyên bố tình trạng khẩn cấp kéo dài trong ba tháng. Chính phủ sau đó tiến hành đàn áp lực lượng đối lập, bao gồm việc tiến hành hàng nghìn vụ bắt giữ và tra tấn có hệ thống. Có trên 80 thường dân và 13 cảnh sát thiệt mạng tính đến tháng 3 năm 2014.
Chính trị
Shaikh Hamad bin Isa Al Khalifa, quốc vương của Bahrain
Bahrain nằm dưới quyền cai trị của chế độ Al-Khalifa, là một nền quân chủ lập hiến do quốc vương đứng đầu, quốc vương hiện nay là Shaikh Hamad bin Isa Al Khalifa. Quốc vương Hamad có quyền lực hành pháp rộng lớn, bao gồm bổ nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng, chỉ huy quân đội, chủ toạ Hội đồng Tư pháp Tối cao, bổ nhiệm Hội đồng Cố vấn của nghị viện và giải tán Hội đồng Đại diện. Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, thủ tướng hiện hành Shaikh Khalīfa bin Salman Al Khalifa là chú của Quốc vương Hamad và giữ chức vụ này kể từ năm 1971, khiến ông là thủ tướng tại nhiệm lâu nhất trên thế giới. Năm 2010, khoảng một nửa thành viên chính phủ thuộc gia tộc Al Khalifa.
Bahrain nằm dưới quyền cai trị của chế độ Al-Khalifa, là một nền quân chủ lập hiến do quốc vương đứng đầu, quốc vương hiện nay là Shaikh Hamad bin Isa Al Khalifa. Quốc vương Hamad có quyền lực hành pháp rộng lớn, bao gồm bổ nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng, chỉ huy quân đội, chủ toạ Hội đồng Tư pháp Tối cao, bổ nhiệm Hội đồng Cố vấn của nghị viện và giải tán Hội đồng Đại diện. Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, thủ tướng hiện hành Shaikh Khalīfa bin Salman Al Khalifa là chú của Quốc vương Hamad và giữ chức vụ này kể từ năm 1971, khiến ông là thủ tướng tại nhiệm lâu nhất trên thế giới. Năm 2010, khoảng một nửa thành viên chính phủ thuộc gia tộc Al Khalifa.
Bahrain có quốc hội lưỡng viện (al-Jam'iyyah al-Watani) gồm Hội đồng Cố vấn (Majlis Al-Shura) có 40 ghế và Hội đồng Đại diện (Majlis Al-Nuwab) có 40 ghế. 40 thành viên của Shura do quốc vương bổ nhiệm, còn 40 thành viên của Hội đồng Đại diện được bầu theo thể thức đa số tuyệt đối trong các khu vực bầu cử một ghế với nhiệm kỳ 4 năm. Hội đồng Cố vấn có thể phủ quyết trên thực tế Hội đồng Đại diện, do các dự thảo luật cần phải được họ tán thành. Sau khi được Hội đồng Cố vấn tán thành, quốc vương có thể phê chuẩn và ban hành đạo luật hoặc trả lại nó trong vòng sáu tháng cho Quốc hội, và tại đây nó chỉ có thể được thành luật nếu hai phần ba thành viên của cả hai hội đồng tán thành.
Năm 1973, quốc gia này tổ chức bầu cử nghị viện lần đầu tiên; tuy nhiên, hai năm sau, tiểu vương đương nhiệm giải tán nghị viện và đình chỉ hiến pháp sau khi nghị viện bác bỏ Luật An ninh Nhà nước. Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010 có ba lần bầu cử nghị viện, cuộc bầu cử năm 2002 bị phe đối lập Al Wefaq tẩy chay, Al Wefaq giành đa số ghế trong cuộc bầu cử năm 2006 và 2010. Cuộc bầu cử bổ sung năm 2011 được tổ chức để thay thế 18 thành viên của Al Wefaq từ chức nhằm phản đối chính phủ đàn áp.
Việc mở cửa chính trị mang lại lợi ích lớn cho các phái chủ nghĩa Hồi giáo Shia và Sunni trong bầu cử, tạo cho họ một nền tảng nghị viện để theo đuổi các chính sách của mình. Nó khiến cho các giáo sĩ lại nổi bật trong hệ thống chính trị, khi thủ lĩnh tôn giáo Shia tối cao là Sheikh Isa Qassim giữ một vai trò sống còn.
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1999 gọi là "thời kỳ Luật An ninh Nhà nước", diễn ra nhiều vi phạm nhân quyền bao gồm bắt giữ tuỳ tiện, giam giữ không xét xử, tra tấn và buộc phải lưu vong. Sau khi Tiểu vương Hamad Al Khalifa kế vị cha là Isa Al Khalifa vào năm 1999, ông cho tiến hành các cải cách rộng lớn và nhân quyền được cải thiện đáng kể. Tình trạng nhân quyền bắt đầu kém đi vào năm 2007 khi tra tấn bắt đầu được sử dụng lại. Năm 2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền mô tả tình hình nhân quyền của Bahrain là "ảm đạm". Năm 2011, Bahrain chịu chỉ trích do đàn áp khởi nghĩa Mùa xuân Ả Rập. Trong tháng 9 năm đó, chính phủ bổ nhiệm một uỷ ban để xác nhận các tường thuật về vi phạm nhân quyền nghiêm trọng như tra tấn có hệ thống. Chính phủ cam kết tiến hành cải cách và tránh lặp lại các "sự kiện đau thương". Năm 2016, Nghị viện châu Âu thông qua một nghị quyết lên án các lạm dụng nhân quyền của nhà đương cục Bahrain, và kêu gọi kết thúc cuộc đàn áp chống lại các nhà bảo vệ nhân quyền, đối lập chính trị và xã hội dân sự tại đây.
Quyền lợi chính trị của nữ giới Bahrain gia tăng khi họ giành được quyền bỏ phiếu và tranh cử trong bầu cử cấp quốc gia lần đầu tiên vào năm 2002. Tuy nhiên, vào năm đó không có nữ giới nào đắc cử., do đó có sáu người được bổ nhiệm vào Hội đồng Cố vấn. Nada Haffadh trở thành nữ bộ trưởng đầu tiên của Bahrain khi bà được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Y tế vào năm 2004. Đến khi Bahrain được bầu làm nước đứng đầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2006, họ bổ nhiệm luật sư Haya bint Rashid Al Khalifa làm chủ tịch của Đại hội đồng. Năm 2006, Lateefa Al Gaood trở thành nữ nghị viên đầu tiên sau chiến thắng mặc định. Số lượng nữ nghị viên tăng lên bốn sau bầu cử bổ sung năm 2011.
Hầu hết cơ quan phát sóng nội địa do nhà nước sở hữu. Các nhà báo Bahrain phải chịu nguy cơ bị khởi tố vì phạm các tội như "phá hoại" chính phủ và tôn giáo. Tự kiểm duyệt là điều phổ biến. Các nhà báo là mục tiêu của giới quan chức trong biểu tình chống chính phủ năm 2011. Đến năm 2016, Bahrain có 1,3 triệu người sử dụng internet.
Quân sự
Bahrain có quân đội quy mô nhỏ song được trang bị tốt, có tên là Lực lượng Phòng thủ Bahrain (BDF), với quân số khoảng 13.000 người (2012). Tư lệnh tối cao của quân đội Bahrain là quốc vương và người có quyền lực thứ nhì là thái tử.
Bahrain có quân đội quy mô nhỏ song được trang bị tốt, có tên là Lực lượng Phòng thủ Bahrain (BDF), với quân số khoảng 13.000 người (2012). Tư lệnh tối cao của quân đội Bahrain là quốc vương và người có quyền lực thứ nhì là thái tử.
Lực lượng Phòng thủ Bahrain chủ yếu sử dụng trang thiết bị của Hoa Kỳ, như F16 Fighting Falcon, F5 Freedom Fighter, UH60 Blackhawk, M60A3 tanks, và tàu USS Jack Williams với tên mới là RBNS Sabha.
Chính phủ Bahrain có quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ, họ ký kết các thoả ước hợp tác với quân đội Hoa Kỳ và cung cấp cho Hoa Kỳ một căn cứ tại Juffair kể từ đầu thập niên 1990, song Hoa Kỳ có hiện diện về hải quân tại đảo quốc kể từ năm 1948. Đây là trụ sở của Bộ tư lệnh Trung tâm Hải quân Hoa Kỳ (COMUSNAVCENT) / Hạm đội 5 Hoa Kỳ (COMFIFTHFLT),và có khoảng 6.000 nhân viên quân sự Hoa Kỳ.
Bahrain tham gia chiến dịch can thiệp do Ả Rập Xê Út lãnh đạo tại Yemen nhằm chống lại phiến quân Houthis theo Hồi giáo Shia và lực lượng trung thành với cựu tổng thống Ali Abdullah Saleh,
Ngoại giao
Bahrain thiết lập quan hệ song phương với 190 quốc gia (2012). Tính đến năm 2012, Bahrain duy trì mạng lưới 25 đại sứ quán, 3 lãnh sự quán, và bốn phái bộ thường trực tại Liên đoàn Ả Rập, Liên Hiệp Quốc và Liên minh châu Âu. 36 quốc gia khác đặt đại sứ quán tại Bahrain. Bahrain giữ vai trò khiêm tốn, ôn hoà trên chính trường khu vực và gắn bó với quan điểm của Liên đoàn Ả Rập về hoà bình Trung Đông và quyền lợi của người Palestine bằng việc ủng hộ giải pháp hai nhà nước. Bahrain là một thành viên sáng lập của Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh. Quan hệ với Iran có khuynh hướng căng thẳng do cuộc đảo chính bất thành năm 1981 mà Bahrain đổ lỗi cho Iran, ngoài ra các thành phần bảo thủ cực đoan tại Iran thỉnh thoảng yêu sách chủ quyền đối với Bahrain.
Bahrain thiết lập quan hệ song phương với 190 quốc gia (2012). Tính đến năm 2012, Bahrain duy trì mạng lưới 25 đại sứ quán, 3 lãnh sự quán, và bốn phái bộ thường trực tại Liên đoàn Ả Rập, Liên Hiệp Quốc và Liên minh châu Âu. 36 quốc gia khác đặt đại sứ quán tại Bahrain. Bahrain giữ vai trò khiêm tốn, ôn hoà trên chính trường khu vực và gắn bó với quan điểm của Liên đoàn Ả Rập về hoà bình Trung Đông và quyền lợi của người Palestine bằng việc ủng hộ giải pháp hai nhà nước. Bahrain là một thành viên sáng lập của Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh. Quan hệ với Iran có khuynh hướng căng thẳng do cuộc đảo chính bất thành năm 1981 mà Bahrain đổ lỗi cho Iran, ngoài ra các thành phần bảo thủ cực đoan tại Iran thỉnh thoảng yêu sách chủ quyền đối với Bahrain.
Hành chính
Khu tự quản đô thị đầu tiên tại Bahrain là chính quyền Manama gồm 8 thành viên được thành lập vào tháng 7 năm 1919. Các thành viên của chính quyền tự quản được bầu hàng năm; Bahrain đi đầu trong thế giới Ả Rập về chính quyền tự quản. Chính quyền tự quản có trách nhiệm dọn dẹp đường phố và cho thuê nhà ở và cửa hàng. Cho đến năm 1929, họ tiến hành mở rộng đường phố cũng như mở chợ và lò mổ. Năm 1958, chính quyền tự quản bắt đầu các dự án lọc nước. In 1960, Bahrain comprised four municipalities including Manama, Hidd, Al Muharraq, and Riffa. Trong vòng 30 năm sau đó, 4 chính quyền tự quản được phân thành 12 do các khu dân sư như Hamad Town và Isa Town phát triển. Các chính quyền tự quản này được Manama quản lý bằng hội đồng khu tự quản trung ương với các thành viên do quốc vương bổ nhiệm. Các cuộc bầu cử chính quyền tự quản đầu tiên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2002. Tháng 9 năm 2014, Bahrain có thay đổi về hành chính.
Khu tự quản đô thị đầu tiên tại Bahrain là chính quyền Manama gồm 8 thành viên được thành lập vào tháng 7 năm 1919. Các thành viên của chính quyền tự quản được bầu hàng năm; Bahrain đi đầu trong thế giới Ả Rập về chính quyền tự quản. Chính quyền tự quản có trách nhiệm dọn dẹp đường phố và cho thuê nhà ở và cửa hàng. Cho đến năm 1929, họ tiến hành mở rộng đường phố cũng như mở chợ và lò mổ. Năm 1958, chính quyền tự quản bắt đầu các dự án lọc nước. In 1960, Bahrain comprised four municipalities including Manama, Hidd, Al Muharraq, and Riffa. Trong vòng 30 năm sau đó, 4 chính quyền tự quản được phân thành 12 do các khu dân sư như Hamad Town và Isa Town phát triển. Các chính quyền tự quản này được Manama quản lý bằng hội đồng khu tự quản trung ương với các thành viên do quốc vương bổ nhiệm. Các cuộc bầu cử chính quyền tự quản đầu tiên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2002. Tháng 9 năm 2014, Bahrain có thay đổi về hành chính.
New Governorates of Bahrain 2014.svg
1 – Tỉnh Trung ương
2 – Tỉnh Muharraq
3 – Tỉnh Bắc
4 – Tỉnh Nam
(còn tiếp)
23719
1 – Tỉnh Trung ương
2 – Tỉnh Muharraq
3 – Tỉnh Bắc
4 – Tỉnh Nam
(còn tiếp)
23719




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét