Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

Chuyện ly kỳ về chùa Trinh Tiết (57) và hòn đá tự lớn
Từ hàng trăm năm nay, chùa Trinh Tiết ở xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam được người dân nơi đây coi là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Tuy nhiên, ngoài cái tên Trinh Tiết, xung quanh chùa còn có những câu chuyện và hiện tượng kỳ lạ khó lý giải mà điển hình nhất là hòn đá có khả năng tự lớn.
Xuất xứ tên chùa: Trinh Tiết
Theo những tài liệu ghi chép còn lại thì không rõ ngôi chùa xuất hiện từ khi nào. Chỉ biết, cái tên Trinh Tiết thì mãi đến thế kỷ XIV mới có và gắn với tên tuổi của một công chúa nhà Trần.
Chùa Trinh Tiết ẩn sau những mỏm đá trên đỉnh núi Bồ Đà.
Trong những tài liệu lịch sử về chùa Trinh Tiết có ghi rằng: Vào giai đoạn hậu kỳ nhà Trần, chế độ cai trị thối nát, bách tính rơi vào lầm than. Hồ Quý Ly nổi dậy ép vua Trần Thuận Tông đi tu ở Cung Bảo Thanh và nhường ngôi lại cho Thái tử Trần Án lúc đó mới ba tuổi.
Lúc đó, võ tướng Nguyễn Bằng được lệnh cho đem công chúa Trần Thị Bạch Hoa vừa tròn 17 tuổi chạy trốn. Khi chạy đến Kẽm Trống nằm bên dòng sông Đáy thì lên bờ tìm nơi ẩn dật. Nơi được chọn là núi Bồ Đà thuộc dãy Cầm Long. Trên núi này có một ngôi chùa hoang, lâu ngày không có ai đèn nhang, tụng niệm.
Sau khi chọn được chốn ẩn cư, công chúa đã ở đây đến hết đời và khi chết vẫn còn là "trinh nữ". Vì thế, sau đó, người dân đã đặt tên cho ngôi chùa trên núi Bồ Đà là chùa Trinh Tiết.
Ông Đỗ Hữu Kỳ ở thôn Động Xuyên kể lại: Thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ, có một đôi trai gái làng Động Xuyên tên Thụy Vân và Hùng. Trước khi lên đường đánh giặc, đôi trai gái này lên chùa Trinh Tiết thề non hẹn biển rằng, hai người nguyện sống chết bên nhau và giữ trọn trinh tiết của mình. Về sau người con trai tên Hùng bị hy sinh nơi chiến trường. Biết tin đó, Thụy Vân thẫn thờ rồi đến bên chân núi Bồ Đà nơi có chùa Trinh Tiết để tự vẫn.
Từ câu chuyện này nên người dân nơi đây đã cho rằng, chùa Trinh Tiết là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái.
Bia đá tạc trên vách núi.
Hiện nay, trên núi Bồ Đà vẫn còn dấu tích về những văn bản chữ Nôm được khắc trên vách đá. Chỉ tiếc rằng, trải qua năm tháng, nhiều dòng chữ tạc đã bị mòn do không được bảo vệ. Nhưng nó vẫn là minh chứng sinh động cho lịch sử một ngôi chùa vào loại độc đáo nhất vùng.
Ngoài ra, trên đỉnh núi Bồ Đà còn có một lăng mộ có tên là Lăng Quy tượng. Theo ông Đỗ Hữu Kỳ ở thôn Động Xuyên, trong lăng có rất nhiều tượng cổ. Mỗi pho tượng cao từ khoảng 80cm - 1m với nhiều chất liệu khác nhau như đá, gỗ, đồng...
Cách đây chừng chục năm, nhà chùa cùng chính quyền địa phương đã cho quy tập những pho tượng này lại và chôn trên đỉnh núi. Vì những ngôi mộ này chôn tượng nên người dân đặt cho khu mộ là Lăng Quy tượng.
Hòn đá tự lớn
Nếu tìm hiểu lịch sử chùa Trinh Tiết, nhiều người sẽ ngỡ ngàng vì những điều kỳ ẩn trên ngọn núi thiêng. Đó là chuyện về một hòn đá tự lớn lên như một chàng thanh niên lực lưỡng. Hòn đá đó nằm ở vị trí cao nhất của núi Bồ Đà.
Theo quan sát của chúng tôi, mỏm đá cao khoảng 1,6m bán kính 1m, có hình mũi chông. Ông Đỗ Văn Sỹ, Trưởng thôn Động Xuyên quả quyết với chúng tôi rằng: Ngày còn bé ông cùng đám trẻ con lên núi chơi thấy mỏm đá này mới chỉ cao ngang lưng người, nhưng giờ nó đã lớn đến ngang vai.
Hồi đó, ngôi chùa đã bị hoang hóa trở lại do không có người ở. Trên núi rừng rậm, thâm u, dưới chân núi lại là một bãi nghĩa địa, chỉ có đám thanh niên choai choai thích thể hiện mới dám trèo lên ngọn núi để chứng tỏ bản lĩnh không sợ ma của mình.
Ông Đỗ Văn Sỹ quả quyết rằng, Tượng Bụt Mọc có khả năng tự lớn.
Mỏm đá kỳ lạ trên không những có khả năng "tự lớn" mà khi gõ nó còn phát ra âm thanh lạ. Ông Đỗ Văn Sỹ kể rằng, khi lên núi chơi đám thanh niên đã dùng đá ném nhau, không may một số viên đá rơi trúng mỏm đá trên và thấy có tiếng kêu lạ. "Âm thanh phát ra từ mỏm đá trầm, vang như tiếng chuông đồng", ông Đỗ Văn Sỹ cho biết.
Để minh chứng cho điều này, ông Đỗ Văn Sỹ đã dẫn chúng tôi lên mỏm đá kỳ lạ trên và cầm một cục đá khác đập vào. Sau mỗi lần gõ, từ mỏm đá phát ra âm thanh bùng bùng nhưng không vang như lời kể của ông Sỹ. Ông Sỹ giải thích: Mỏm đá càng "lớn lên" thì âm thanh càng giảm đi, phải dùng một hòn đá cứng và rắn chắc đập vào thì mới phát ra được tiếng kêu, nếu dùng gậy gỗ đập vào thì sẽ chẳng nghe thấy gì khác ngoài tiếng gõ cùng cục.
Ông Trần Ngọc Kim năm nay 74 tuổi, 20 năm trông giữ chùa Trinh Tiết cũng khẳng định: Hòn đá có khả năng tự lớn lên là có thật. Vì việc này rất kỳ lạ nên dân làng Động Xuyên đặt tên cho hòn đá là Tượng Bụt Mọc và đặt dưới chân hòn đá một bát hương để tháng ngày nhang khói.
Việc hòn đá tự lớn có thể thấy được qua năm tháng. Tuy nhiên, việc đo xem mỗi năm hòn đá lớn thêm bao nhiêu thì chưa ai làm.
Hòa thượng, Đại đức Thích Thanh Hưng, trụ trì của Trinh Tiết cũng cho rằng: Tượng Bụt Mọc có khả năng tự lớn là có thật. Tuy nhiên, để kiểm định chính xác thì phải nhờ đến các nhà khoa học vào cuộc để tìm ra lời giải. Từ hàng trăm năm nay người dân trong và ngoài vùng Động Xuyên vẫn coi Tượng Bụt Mọc là biểu tượng của sự linh thiêng vĩnh cửu.
Ban quản lý di tích tỉnh Hà Nam hiện đang lưu giữ cuốn Ngọc phả Bạch Hoa công chúa chùa Trinh Sơn triều Trần, cuốn sách này do Tiến sĩ Lê Tung soạn ngày 2 tháng 5 năm Hồng Đức thứ 21 (1490), được các nhà nghiên cứu văn hóa tìm thấy ở chùa Trinh Tiết. Theo cuốn Ngọc phả, công chúa Bạch Hoa sinh năm Nhâm Tuất (1382), là con gái của Chiêu Định Vương (tức vua Thuận Tông nhà Trần) và thứ phi Diệu Hiền.
Một lần, thầy tướng Tựu Hòa là bạn của Chiêu Định Vương đến chơi, nói rằng hậu vận của Vương sẽ gặp họa, khuyên Vương nên thay tên đổi họ, rời bỏ triều đình để đi buôn, còn cô gái Bạch Hoa thì nên cho vào chùa nhờ Phật độ mới yên thân được. Chiêu Định Vương không cho là phải, nhưng vẫn đưa 10 lạng vàng biếu tặng. Tựu Hòa không nhận, nói: Tôi đã đủ ăn mặc, không cần vàng bạc, chỉ tiếc lời khuyên Vương chẳng khác gì nước đổ lá khoai. Rồi từ đó Tựu Hòa không qua lại thăm Chiêu Định Vương nữa.
Công chúa Bạch Hoa rất hiếu học, thông làu các sách kim cổ. Khi Chiêu Định Vương lên ngôi vua năm 1388, Bạch Hoa tuy còn nhỏ nhưng đã từng khuyên cha nhiều việc: giảm nhẹ thuế nông tang, khuyến dân cày cấy, đặt các trạm tuần kiểm thu thuế buôn bán, kén người hiền tài giúp nước. Năm 1397, quyền thần Hồ Quý Ly thâu tóm quyền binh trong triều ngoài lộ, ép vua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô (huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Tháng 3 năm Mậu Dần (1398), Hồ Quý Ly bắt Vương đang ở ngôi vua đi tu tại cung Bảo Thanh, nhường lại ngai vàng cho con là Trần Án khi ấy mới 3 tuổi. Không lâu sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, rồi truy sát những người trong tông tộc họ Trần.
Bấy giờ công chúa Bạch Hoa 16 tuổi, vô cùng xinh đẹp. Sợ rằng tính mệnh của nàng sẽ bị họ Hồ làm hại, Tựu Hòa đã sai Bằng Cử là một người nhân từ và trung thực, bí mật đưa Bạch Hoa lên thuyền chạy về Kẽm Trống. Bằng Cử hộ tống công chúa tới ngọn Bổ Đà nằm kề bên sông Đáy, để nàng ẩn tích trên một am chùa nhỏ thờ Phật, và đưa cho nàng một ít bạc vụn phòng khi cần dùng đến. Am chùa nhỏ này có tên là Diên Bình tự, đã bỏ hoang nhiều năm ngói xô rêu phủ, quanh năm chẳng có ai ghé qua. Bằng Cử để lại một chiếc thuyền con cho công chúa có phương tiện sang sông, tiện hỏi công chúa pháp danh là gì? Bạch Hoa đáp: Thu Thu. Bằng Cử dặn dò công chúa phải mai danh ẩn tích thật kín để không bị triều đình nhà Hồ tìm thấy và sát hại.
Tương truyền, công chúa Bạch Hoa ở trên núi Bổ Đà, ăn cơm gạo đỏ, uống nước hạt bách hoa cúc. Đêm ngày, công chúa tụng kinh niệm Phật cầu cho mọi người chung sống yên vui trong cảnh thanh bình, gió thuận mưa hòa, mùa màng tươi tốt. Năm sau (1399), công chúa nhận một cô gái 6 tuổi, người Sơn Trà bên kia sông Đáy, tên là Nguyễn Thị Giáp làm đệ tử, đặt pháp danh là Tuệ Hoa. Công chúa Bạch Hoa thường xuyên chèo thuyền sang thăm bên hữu sông Đáy, vào rừng leo núi hái lá cây làm thuốc, chữa bệnh cho người nghèo khó, nên dần dần nhiều người qua lại thăm, về sau được dân cư sở tại thương mến. Ở núi Bổ Đà những lúc rỗi rãi, công chúa Bạch Hoa thường đến một ngọn núi không tên gần đó, ngắm nhìn phong cảnh trời nước mênh mang của Kẽm Trống, làm thơ vịnh cảnh. Đệ tử Tuệ Hoa hỏi thì công chúa nói: Ta ra đây nghỉ ngơi, viết tập “Cô ai trường hận”. Tuy công chúa chưa từng đọc “Cô ai trường hận” cho bất kỳ ai nghe, nhưng từ đó về sau, dân chúng gọi ngọn núi không tên này là núi Cô Ai.
Một tối năm Giáp Tuất (1454) niên hiệu Diên Ninh thời nhà Lê, sư nữ Thu Thu lên chùa khua mõ tụng kinh xong thì gục xuống không dậy nữa, hôm đó là mùng 6 tháng 8. Đồ đệ Tuệ Hoa an táng theo di chúc của sư tại một chỗ đất bằng trên núi Cô Ai. Cùng năm đó, nhân dân sở tại gom tiền tạc tượng Thu Thu bằng đá, đặt thờ ở án hương, bên dưới tượng Phật. Sau khi tổ Thu Thu mất, dân chúng quanh vùng đổi tên núi Bổ Đà thành Trinh Sơn, và đặt tên cho ngôi chùa là Trinh Tiết, dân Thanh Liêm hay dân tứ xứ thường qua lại lễ bái cầu phúc. Những ngày kỵ Tổ, dân sở tại thường dâng cơm gạo đỏ và xôi gấc muối vừng để làm giỗ.
Theo cuốn Ngọc phả, chúng tôi tìm về chùa Trinh Tiết. Từ thành phố Phủ Lý xuôi hướng Nam đi theo quốc lộ 1, khoảng 15km thấy bên đường có biển chỉ dẫn: Di tích chùa Trinh Tiết-Kẽm Trống. Rẽ phía phải chừng 0,5km, cả một vùng sông nước mênh mang, sơn thủy hữu tình bày ra trước mắt. Thuở xưa, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương khi đi qua chốn này đã cảm tác bài thơ Kẽm Trống bất hủ.
Ngày nay, danh thắng quốc gia Kẽm Trống thuộc địa phận xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) và xã Gia Thanh (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Sông Đáy khi chảy qua vùng này bỗng trong xanh lạ lùng, được những dãy núi kề sát hai bên tạo nên phong cảnh hữu tình, làm nao lòng các tao nhân mặc khách. Toàn cảnh danh thắng, phía tả sông có núi Rùa, núi Cổ Động, núi Động Xuyên, núi Trinh Tiết; phía bên hữu sông có núi Bài Thơ, dãy núi Bạt Gia. Nhưng tiếc thay, giờ đây hầu hết các núi nằm trong quần thể danh thắng đều bị thay đổi cảnh quan và biến dạng nghiêm trọng, hậu quả của việc khai thác đá. Núi Rùa thì đầu rùa đã bị cụt mất, dọc triền núi vẫn còn vết tích của những cuộc nổ mìn phá đá. Theo chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm vào cửa hang Luồn phía hướng ra sông Đáy thì cửa hang đã bị bịt. Suốt theo chiều dài hơn ba trăm mét của dãy núi Bạt Gia (dân trong vùng còn gọi là núi Kẽm Trống) lởm chởm, lô nhô những sườn núi bị đánh mìn tơi tả.
May mắn thay, có hai ngọn núi do đứng tách khỏi khu vực trung tâm Kẽm Trống nên vẫn còn tương đối nguyên vẹn, cây cối phủ um tùm một màu xanh mướt. Người dân nơi đây cho biết hai ngọn này chính là núi Trinh Sơn và núi Cô Ai. Hai ngọn núi này nằm biệt lập với khu dân cư, nên quang cảnh rất hoang vắng. Mặc dù chân núi Trinh Sơn có cổng chùa, nhưng khi leo lên núi chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng vì cảnh quan rất u tịch. Trên đường lên, có nhiều miếu nhỏ. Khi lên tới nơi, gọi là chùa nhưng kỳ thực chỉ là ngôi am nhỏ vắng lặng, tọa lạc trên một mặt bằng khá phẳng chỉ rộng chừng 15m2. Chùa thấp nhỏ mang phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, hoành tròn, mái lợp ngói nam, kết cấu kiểu chữ Đinh. Vì chùa không có sư, cũng không có người trông coi, nên cửa đóng chặt. Nhìn qua khe chấn song cửa, thấy rõ giữa chùa có tòa chính tẩm tuy rất nhỏ nhưng bài trí 5 lớp tượng. Dưới cùng là tòa Cửu long, lớp thứ 2 là pho tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn, lớp thứ 3 là pho tượng nữ giới tạc theo kiểu Phật A Di Đà, lớp thứ 4 là ba pho Tam thế, trên cùng là tượng Phật. Ban đầu, chúng tôi tưởng pho tượng bài trí ở lớp thứ 3 là Phật A Di Đà, nhưng khi xuống núi, được người dân sở tại cho biết đó chính là tượng Bạch Hoa công chúa (tức tổ Thu Thu), có niên đại thời Lê sơ, thế kỷ XV. Tượng Bạch Hoa công chúa được tạc bằng đá, theo kiểu Phật A Di Đà trong tư thế ngồi thiền như người thật, cao 1,2m, tay trái để ngửa, tay phải úp lên đầu gối.
Kề bên phải chùa có ngôi miếu nhỏ, trong đặt pho tượng Sơn thần. Ngay sát phía dưới lối lên chùa, có tảng đá hình con voi quỳ giống y như thật, nhưng lại không có vẻ là do tạc đẽo tạo hình. Trên đường lên núi, có miếu nhỏ, trong đặt pho tượng tổ sư Thu Thu tạc từ đá Bạch Ngọc, mới được dân trong vùng đưa lên. Ngày nay, cả hai huyện Thanh Liêm và Gia Viễn, có 9 nơi thờ Bạch Hoa công chúa, nhưng ngày giỗ tổ Thu Thu, dân những nơi này đều tụ về chùa Trinh Tiết để tưởng niệm ngài.
2420-st

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét