TÂM SỰ NGUYỄN ĐÌNH THI VỀ “NGHIÊN CỨU VÀ TRANH LUẬN”
NHẬT HOA KHANH ghi
NHẬT HOA KHANH ghi
Năm 1992, khoảng tháng Tư, nghe tin Nguyễn Đình Thi mới vào TP Hồ Chí Minh, tôi đến gặp ông tại một căn hộ thuộc một khu tập thể – đường Hải Thượng Lãn Ông – quận 5 − để mời ông viết bài.
Nhân dịp này, tôi đưa ông xem chuyên luận trên đại học của mình nhan đề “Đất Việt yêu dấu ngàn năm và Nguyễn Đình Thi” (tức “Nguyễn Đình Thi − cuộc cách mạng nền văn nghệ cách mạng”).
Sau đó, tại khu tập thể nói trên, tôi được tác giả“Vỡ bờ” tiếp bốn lần.
Cả bốn lần, ông đều tâm sự với tôi nhiều vấn đề văn nghệ.
Mười năm sau, tức năm 2002, cuối xuân, tại tầng hai (tức lầu một) Nhà hàng Bô Đê Ga (57 – phố Tràng Tiền – quận Hoàn Kiếm − Hà Nội), tôi lại được nghe Nguyễn Đình Thi tâm sự tám lần nữa. Ngoài ra, nhà văn còn tâm sự với tôi thêm hai lần. Cả thảy, trong năm 2002, mười lần ông tâm sự với tôi.
Lần thứ bảy và lần thứ tám (năm 2002), mỗi ngày hai buổi, ông nói về lĩnh vực nghiên cứu – lý luận – phê bình trong văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1955 đến hết thế kỷ 20.
Nhân dịp này, tôi đưa ông xem chuyên luận trên đại học của mình nhan đề “Đất Việt yêu dấu ngàn năm và Nguyễn Đình Thi” (tức “Nguyễn Đình Thi − cuộc cách mạng nền văn nghệ cách mạng”).
Sau đó, tại khu tập thể nói trên, tôi được tác giả“Vỡ bờ” tiếp bốn lần.
Cả bốn lần, ông đều tâm sự với tôi nhiều vấn đề văn nghệ.
Mười năm sau, tức năm 2002, cuối xuân, tại tầng hai (tức lầu một) Nhà hàng Bô Đê Ga (57 – phố Tràng Tiền – quận Hoàn Kiếm − Hà Nội), tôi lại được nghe Nguyễn Đình Thi tâm sự tám lần nữa. Ngoài ra, nhà văn còn tâm sự với tôi thêm hai lần. Cả thảy, trong năm 2002, mười lần ông tâm sự với tôi.
Lần thứ bảy và lần thứ tám (năm 2002), mỗi ngày hai buổi, ông nói về lĩnh vực nghiên cứu – lý luận – phê bình trong văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1955 đến hết thế kỷ 20.
Khoảng 17 giờ, trong lần thứ tám, tâm sự xong về các vấn đề lớn nói trên, Nguyễn Đình Thi gọi một ly cà phê sữa đá, vừa uống vừa tiếp tục trò chuyện.
Lấy một cuốn sách dày từ trong cái túi vải mang theo, ông nói:
– Khoảng năm 1998, nhà văn Phạm Tường Hạnh, từ thành phố Hồ Chí Minh, qua đường bưu điện, gửi tặng tôi tập sách này. Tập sách mang tên “NGHIÊN CỨU VÀ TRANH LUẬN” (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996).
Tác giả của nó: TRẦN KHUÊ.
Cho đến nay, 2002, tôi vẫn chưa quen biết Trần Khuê.
Tất nhiên, tôi phải đọc.
Đọc khoảng hai chục trang, bị lôi cuốn, thế là tôi đọc liên tiếp trong mấy tối.
Công trình nghiên cứu này, nói chung, có giá trị cao về tư duy khoa học. Nổi bật là bốn bài về Tuệ Trung Thượng sĩ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà thờ Phát Diệm.
Ở những bài đó, tác giả lôi cuốn tôi vào những lập luận chặt chẽ, hùng hồn và có sức thuyết phục.
Ở những bài đó, tác giả còn lôi cuốn tôi vào những đoạn văn dạt dào tình cảm.
Văn phong trong “Nghiên cứu và tranh luận” vượt lên khá nhiều so với văn phong của không ít cây bút nghiên cứu – lý luận – phê bình khác.
Đặc biệt, tôi hứng thú với đầu đề “Nghiên cứu và tranh luận”.
“Nghiên cứu và tranh luận” . “Nghiên cứu và tranh luận”.
Cái mới, cái rất mới của đầu đề này là từ “TRANH LUẬN”.
Tác giả tranh luận, tranh luận thẳng thắn, tranh luận bình đẳng, không quy kết, không chụp mũ trong nhiều bài của cuốn sách.
Tranh luận về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tranh luận về nhà Mạc. Tranh luận về Nguyễn Trường Tộ.
Tranh luận! Tranh luận! Và tranh luận!
Cái mới, cái rất mới của đầu đề đó còn ở chỗ tác giả đặt từ “tranh luận” ngay sau từ “nghiên cứu”.
Lâu nay, người ta gần như “thản nhiên” loại bỏ, không thừa nhận sự có mặt của yếu tố tranh luận trong giới văn nghệ sĩ, giới nghiên cứu – lý luận – phê bình và nói chung, trong giới trí thức.
Nhiều cuốn nghiên cứu – lý luận – phê bình, tôi chỉ đọc dăm bảy trang là phải gấp lại.
“Nghiên cứu và tranh luận” chính là ngọn roi song quất thẳng vào thực trạng minh họa và tả khuynh, thậm chí cơ hội trên lĩnh vực nghiên cứu − lý luận – phê bình văn hóa, văn học và nghệ thuật nước ta lâu nay.
Suốt từ khoảng 1976, sau ngày thống nhất Bắc – Nam, tới thời điểm hiện tại, 2002, tôi mới được đọc một công trình khá lôi cuốn như “Nghiên cứu và tranh luận”.
Ngừng một lát, uống thêm một ly cà phê sữa đá, Nguyễn Đình Thi lấy ra, cũng từ cái túi vải mang theo, một tập sách mỏng. Ông nói:
– Đây là bản phô-tô-cóp-pi tập thơ “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1988). Tác giả “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” cũng là Trần Khuê.
Phạm Tường Hạnh gửi cho tôi tập thơ này cùng với “Nghiên cứu và tranh luận”.
Anh Hạnh cho biết: “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” do anh Hà Mậu Nhai (hồi đó là Giám đốc NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) quyết định cho in. In xong, Hà Mậu Nhai tặng ngay Phạm Tường Hạnh.
Nguyễn Đình Thi im lặng một lúc.
Ông đứng lên, nhìn xuống đường phố Tràng Tiền vài ba phút.
Từ từ ngồi xuống, tác giả “Diệt phát xít” tiếp tục dòng tâm sự:
– “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, cái đầu đề ấy, tự nó, đã có ý nghĩa nhắc nhở giới văn nghệ sĩ nói riêng và giới trí thức nói chung: phải nhớ sứ mệnh của mình.
“Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, cái đầu đề ấy, sang thế kỷ 21, tự nó, vẫn còn có ý nghĩa nhắc nhở văn nghệ sĩ và trí thức chúng ta càng phải thực hành sứ mệnh của mình thông qua tác phẩm hoặc công trình nghiên cứu khoa học.
Lâu nay, văn nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu – lý luận – phê bình chúng ta thường nặng về việc “minh họa” cho một cái gì đó, minh họa sao cho “phải đạo”.
Xin phép“anh linh” đồng nghiệp Nguyễn Minh Châu cho phép tôi được dùng lại từ “minh họa” rất đắt giá của anh. Cũng xin phép nhà lý luận Hoàng Ngọc Hiến cho tôi được dùng lại từ “phải đạo” chuẩn xác của anh.
Tôi, Nguyễn Đình Thi, với tư cách một bạn đọc, cám ơn tác giả “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”.
Trần Khuê, qua tập thơ ấy và qua “Nghiên cứu và tranh luận”, đã nhắc nhở tôi: phải thực hành mạnh hơn nữa sứ mệnh của một văn nghệ sĩ, thiên chức của một văn nghệ sĩ.
Nguyễn Đình Thi lại uống thêm một ly cà phê sữa đá. Uống xong, ông mỉm cười nhìn tôi:
− Anh nghe tôi kể như thế có mệt không? Hãy chịu khó nghe tôi tâm sự khoảng nửa giờ nữa.
Không đợi tôi trả lời, tác giả “Vỡ bờ” nói tiếp:
− Có một chuyện liên quan đến “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”.
Khi tôi đang cầm tập “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” trong tay, thì Phạm Tiến Duật đi qua. Lúc đó, một buổi sáng cuối năm 2001, tôi đang ngồi trong trụ sở Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam (51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội).
Lấy một cuốn sách dày từ trong cái túi vải mang theo, ông nói:
– Khoảng năm 1998, nhà văn Phạm Tường Hạnh, từ thành phố Hồ Chí Minh, qua đường bưu điện, gửi tặng tôi tập sách này. Tập sách mang tên “NGHIÊN CỨU VÀ TRANH LUẬN” (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996).
Tác giả của nó: TRẦN KHUÊ.
Cho đến nay, 2002, tôi vẫn chưa quen biết Trần Khuê.
Tất nhiên, tôi phải đọc.
Đọc khoảng hai chục trang, bị lôi cuốn, thế là tôi đọc liên tiếp trong mấy tối.
Công trình nghiên cứu này, nói chung, có giá trị cao về tư duy khoa học. Nổi bật là bốn bài về Tuệ Trung Thượng sĩ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà thờ Phát Diệm.
Ở những bài đó, tác giả lôi cuốn tôi vào những lập luận chặt chẽ, hùng hồn và có sức thuyết phục.
Ở những bài đó, tác giả còn lôi cuốn tôi vào những đoạn văn dạt dào tình cảm.
Văn phong trong “Nghiên cứu và tranh luận” vượt lên khá nhiều so với văn phong của không ít cây bút nghiên cứu – lý luận – phê bình khác.
Đặc biệt, tôi hứng thú với đầu đề “Nghiên cứu và tranh luận”.
“Nghiên cứu và tranh luận” . “Nghiên cứu và tranh luận”.
Cái mới, cái rất mới của đầu đề này là từ “TRANH LUẬN”.
Tác giả tranh luận, tranh luận thẳng thắn, tranh luận bình đẳng, không quy kết, không chụp mũ trong nhiều bài của cuốn sách.
Tranh luận về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tranh luận về nhà Mạc. Tranh luận về Nguyễn Trường Tộ.
Tranh luận! Tranh luận! Và tranh luận!
Cái mới, cái rất mới của đầu đề đó còn ở chỗ tác giả đặt từ “tranh luận” ngay sau từ “nghiên cứu”.
Lâu nay, người ta gần như “thản nhiên” loại bỏ, không thừa nhận sự có mặt của yếu tố tranh luận trong giới văn nghệ sĩ, giới nghiên cứu – lý luận – phê bình và nói chung, trong giới trí thức.
Nhiều cuốn nghiên cứu – lý luận – phê bình, tôi chỉ đọc dăm bảy trang là phải gấp lại.
“Nghiên cứu và tranh luận” chính là ngọn roi song quất thẳng vào thực trạng minh họa và tả khuynh, thậm chí cơ hội trên lĩnh vực nghiên cứu − lý luận – phê bình văn hóa, văn học và nghệ thuật nước ta lâu nay.
Suốt từ khoảng 1976, sau ngày thống nhất Bắc – Nam, tới thời điểm hiện tại, 2002, tôi mới được đọc một công trình khá lôi cuốn như “Nghiên cứu và tranh luận”.
Ngừng một lát, uống thêm một ly cà phê sữa đá, Nguyễn Đình Thi lấy ra, cũng từ cái túi vải mang theo, một tập sách mỏng. Ông nói:
– Đây là bản phô-tô-cóp-pi tập thơ “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1988). Tác giả “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” cũng là Trần Khuê.
Phạm Tường Hạnh gửi cho tôi tập thơ này cùng với “Nghiên cứu và tranh luận”.
Anh Hạnh cho biết: “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” do anh Hà Mậu Nhai (hồi đó là Giám đốc NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) quyết định cho in. In xong, Hà Mậu Nhai tặng ngay Phạm Tường Hạnh.
Nguyễn Đình Thi im lặng một lúc.
Ông đứng lên, nhìn xuống đường phố Tràng Tiền vài ba phút.
Từ từ ngồi xuống, tác giả “Diệt phát xít” tiếp tục dòng tâm sự:
– “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, cái đầu đề ấy, tự nó, đã có ý nghĩa nhắc nhở giới văn nghệ sĩ nói riêng và giới trí thức nói chung: phải nhớ sứ mệnh của mình.
“Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, cái đầu đề ấy, sang thế kỷ 21, tự nó, vẫn còn có ý nghĩa nhắc nhở văn nghệ sĩ và trí thức chúng ta càng phải thực hành sứ mệnh của mình thông qua tác phẩm hoặc công trình nghiên cứu khoa học.
Lâu nay, văn nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu – lý luận – phê bình chúng ta thường nặng về việc “minh họa” cho một cái gì đó, minh họa sao cho “phải đạo”.
Xin phép“anh linh” đồng nghiệp Nguyễn Minh Châu cho phép tôi được dùng lại từ “minh họa” rất đắt giá của anh. Cũng xin phép nhà lý luận Hoàng Ngọc Hiến cho tôi được dùng lại từ “phải đạo” chuẩn xác của anh.
Tôi, Nguyễn Đình Thi, với tư cách một bạn đọc, cám ơn tác giả “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”.
Trần Khuê, qua tập thơ ấy và qua “Nghiên cứu và tranh luận”, đã nhắc nhở tôi: phải thực hành mạnh hơn nữa sứ mệnh của một văn nghệ sĩ, thiên chức của một văn nghệ sĩ.
Nguyễn Đình Thi lại uống thêm một ly cà phê sữa đá. Uống xong, ông mỉm cười nhìn tôi:
− Anh nghe tôi kể như thế có mệt không? Hãy chịu khó nghe tôi tâm sự khoảng nửa giờ nữa.
Không đợi tôi trả lời, tác giả “Vỡ bờ” nói tiếp:
− Có một chuyện liên quan đến “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”.
Khi tôi đang cầm tập “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh” trong tay, thì Phạm Tiến Duật đi qua. Lúc đó, một buổi sáng cuối năm 2001, tôi đang ngồi trong trụ sở Hội Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam (51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội).
Tôi nhờ Duật phô-tô giúp mình tập thơ này thành hai bản.
Gần một giờ sau, Duật mới quay lại, bảo tôi: Em xin lỗi anh Thi vì đã làm cho anh phải chờ lâu. Em đọc qua, thấy tập này có một số bài, một số câu và một số đoạn độc đáo. Do đó, em phải phô-tô riêng cho mình một bộ. Lâu, làm anh phải chờ, là vì thế.
Duật thổ lộ thêm: em thích nhất cái đầu đề “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”. Ngoài ra, em còn thích “Thôi cứ gọi cà phê!”. “Thôi cứ gọi cà phê!” là một bài thơ thâm thúy. Theo em, đây là một trong những bài thơ có giá trị cao về tư tưởng.
Gần một giờ sau, Duật mới quay lại, bảo tôi: Em xin lỗi anh Thi vì đã làm cho anh phải chờ lâu. Em đọc qua, thấy tập này có một số bài, một số câu và một số đoạn độc đáo. Do đó, em phải phô-tô riêng cho mình một bộ. Lâu, làm anh phải chờ, là vì thế.
Duật thổ lộ thêm: em thích nhất cái đầu đề “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”. Ngoài ra, em còn thích “Thôi cứ gọi cà phê!”. “Thôi cứ gọi cà phê!” là một bài thơ thâm thúy. Theo em, đây là một trong những bài thơ có giá trị cao về tư tưởng.
Sau khi nhắc lại nhận xét của Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đình Thi tiếp tục uống một ly cà phê sữa đá. Tạm ngừng một lúc, ông nói rõ:
– Tôi tán thành ý kiến của Duật về “Thôi cứ gọi cà phê!”.
Bằng những câu thơ ngắn gọn, trong bài thơ ấy, Trần Khuê đã phản ánh đúng một phần hiện thực cay đắng trong xã hội chúng ta lâu nay. “Thôi cứ gọi cà phê!”, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, là một bài thơ vừa giàu tính hiện thực, vừa giàu tính chiến đấu.
Trong“Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, có mấy bài Trần Khuê trò chuyện với các con. Khuê yêu thương con. Các con, trong đó có cô con gái tên Hương Giang, đều yêu thương bố. Khuê dạy các con cách cư xử ở đời.
Đọc những bài đó, tôi gần như chảy nước mắt. Đọc những bài đó, tôi tự trách mình không viết được một bài nào tâm sự với các con mình!
Nhíu cặp lông mày rậm, nhìn tôi thân thiết, tác giả “Vỡ bờ” nói rõ từng lời:
– Trong “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, tôi thấy rõ tác giả thuộc vài ba nhà nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam có hiểu biết ít nhiều về văn học Pháp.
“Nghiên cứu và tranh luận” có nhiều đoạn dạt dào tình cảm, nhiều đoạn sôi nổi, nhiều đoạn hùng hồn.
Âm hưởng căn bản của “Nghiên cứu và tranh luận” là sự hùng biện, éloquence.
Trần Khuê, một cây bút có khả năng hùng biện!
Nguyễn Đình Thi nói tiếp bằng tiếng Pháp: “Éloquence! Éloquence! Orateur eloquent! Orateur eloquent! Tel est Trần Khuê!”. (Hùng biện! Hùng biện! Nhà hùng biện! Nhà hùng biện! Trần Khuê là như thế!).
Ngừng một lát, tác giả “Người Hà Nội” tâm sự tiếp:
− Ở một số bài trong “Nghiên cứu và tranh luận”, tiếng Việt đạt tới mức độ trong sáng và chuẩn xác.
Đọc “Nghiên cứu và tranh luận”, tôi còn thấy nhà nghiên cứu họ Trần biết tận dụng tính nhạc của tiếng Việt.
Trần Khuê nghiên cứu! Trần Khuê tranh luận!
“Nghiên cứu và tranh luận”, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, đó là một đầu đề độc đáo.
Nguyễn Đình Thi ngừng lại. Lúc này, khoảng mười tám giờ. Ông gọi hai suất bít-tết. Chúng tôi cùng ăn vui vẻ và cùng tráng miệng bằng bánh su kem (choux crème).
Ăn xong, Nguyễn Đình Thi, vẫn từ cái túi vải nhỏ cầm theo, lấy ra một gói trà Đài Loan và nhờ cửa hàng pha giúp.
Uống vài ngụm trà, ông tâm sự tiếp:
– Trong bưu kiện của anh Phạm Tường Hạnh, còn có ba tập kỷ yếu của ba cuộc hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Phải mất năm buổi tối, tôi mới đọc xong cả ba. Khá lắm! Khá lắm!
Đó là ba tập kỷ yếu có giá trị tranh luận và giá trị khoa học.
– Tôi tán thành ý kiến của Duật về “Thôi cứ gọi cà phê!”.
Bằng những câu thơ ngắn gọn, trong bài thơ ấy, Trần Khuê đã phản ánh đúng một phần hiện thực cay đắng trong xã hội chúng ta lâu nay. “Thôi cứ gọi cà phê!”, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, là một bài thơ vừa giàu tính hiện thực, vừa giàu tính chiến đấu.
Trong“Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, có mấy bài Trần Khuê trò chuyện với các con. Khuê yêu thương con. Các con, trong đó có cô con gái tên Hương Giang, đều yêu thương bố. Khuê dạy các con cách cư xử ở đời.
Đọc những bài đó, tôi gần như chảy nước mắt. Đọc những bài đó, tôi tự trách mình không viết được một bài nào tâm sự với các con mình!
Nhíu cặp lông mày rậm, nhìn tôi thân thiết, tác giả “Vỡ bờ” nói rõ từng lời:
– Trong “Gửi nhà thơ quên sứ mệnh”, tôi thấy rõ tác giả thuộc vài ba nhà nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam có hiểu biết ít nhiều về văn học Pháp.
“Nghiên cứu và tranh luận” có nhiều đoạn dạt dào tình cảm, nhiều đoạn sôi nổi, nhiều đoạn hùng hồn.
Âm hưởng căn bản của “Nghiên cứu và tranh luận” là sự hùng biện, éloquence.
Trần Khuê, một cây bút có khả năng hùng biện!
Nguyễn Đình Thi nói tiếp bằng tiếng Pháp: “Éloquence! Éloquence! Orateur eloquent! Orateur eloquent! Tel est Trần Khuê!”. (Hùng biện! Hùng biện! Nhà hùng biện! Nhà hùng biện! Trần Khuê là như thế!).
Ngừng một lát, tác giả “Người Hà Nội” tâm sự tiếp:
− Ở một số bài trong “Nghiên cứu và tranh luận”, tiếng Việt đạt tới mức độ trong sáng và chuẩn xác.
Đọc “Nghiên cứu và tranh luận”, tôi còn thấy nhà nghiên cứu họ Trần biết tận dụng tính nhạc của tiếng Việt.
Trần Khuê nghiên cứu! Trần Khuê tranh luận!
“Nghiên cứu và tranh luận”, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, đó là một đầu đề độc đáo.
Nguyễn Đình Thi ngừng lại. Lúc này, khoảng mười tám giờ. Ông gọi hai suất bít-tết. Chúng tôi cùng ăn vui vẻ và cùng tráng miệng bằng bánh su kem (choux crème).
Ăn xong, Nguyễn Đình Thi, vẫn từ cái túi vải nhỏ cầm theo, lấy ra một gói trà Đài Loan và nhờ cửa hàng pha giúp.
Uống vài ngụm trà, ông tâm sự tiếp:
– Trong bưu kiện của anh Phạm Tường Hạnh, còn có ba tập kỷ yếu của ba cuộc hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tuệ Trung Thượng sĩ.
Phải mất năm buổi tối, tôi mới đọc xong cả ba. Khá lắm! Khá lắm!
Đó là ba tập kỷ yếu có giá trị tranh luận và giá trị khoa học.
Trong thư gửi kèm mấy cuốn sách đó, anh Hạnh cho biết: những hội thảo nói trên đều do Trung tâm Nghiên cứu Hán − Nôm (thuộc Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh) tổ chức vào những năm 90 thế kỷ 20.
Thư anh Phạm Tường Hạnh còn cho biết: Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hán − Nôm là chị NGUYỄN THỊ THANH XUÂN.
Thư anh Phạm Tường Hạnh còn cho biết: Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hán − Nôm là chị NGUYỄN THỊ THANH XUÂN.
Chị Xuân, qua thư anh Hạnh, vốn là nữ sinh Trưng Vương Hà Nội, trường nữ trung học Việt Nam nổi tiếng cả nước những năm 50 thế kỷ 20. Thanh Xuân còn là sinh viên trường Đại học Nhân dân khóa đầu tiên, khai giảng đầu năm 1955 tại Hà Nội.
Cũng qua anh Hạnh, tôi được biết: Thanh Xuân cũng là một trong những sinh viên lớp đại học Hán – Nôm đầu tiên của Miền Bắc nước ta những năm cuối thập niên 60 thế kỷ 20.
Nguyễn Đình Thi nói rất chậm và rõ từng lời:
– Chị Thanh Xuân, vẫn qua thư của Phạm Tường Hạnh, là một người sâu sắc và trầm tĩnh.
Cũng qua anh Hạnh, tôi được biết: Thanh Xuân cũng là một trong những sinh viên lớp đại học Hán – Nôm đầu tiên của Miền Bắc nước ta những năm cuối thập niên 60 thế kỷ 20.
Nguyễn Đình Thi nói rất chậm và rõ từng lời:
– Chị Thanh Xuân, vẫn qua thư của Phạm Tường Hạnh, là một người sâu sắc và trầm tĩnh.
Trong thư nói trên, anh Hạnh còn cho tôi rõ: “trụ sở” của Trung tâm Nghiên cứu Hán – Nôm chỉ là một căn phòng nhỏ trong Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh.
Giữa bối cảnh đầy khó khăn ấy, qua thư anh Hạnh, Thanh Xuân (Giám đốc) và Trần Khuê (Trưởng Tiểu ban Hán –Nôm) đã phải “gồng mình” để thực hiện ba cuộc hội thảo nói trên và để giữ cho Trung tâm đứng vững.
Cuối thư, Phạm Tường Hạnh viết đại ý: Thanh Xuân đúng là một nữ lưu trí thức Hà Nội chân chính, vừa có năng lực nghiên cứu, vừa có năng lực tổ chức, vừa có năng lực lãnh đạo, vừa có phong thái lịch thiệp.
Đến đây, Nguyễn Đình Thi lại im lặng, im lặng hồi lâu. Sau đó, nhìn thẳng vào tôi, tác giả “Vỡ bờ” tâm sự tiếp:
– Năm nay, 2002, đã 78 tuổi, sức đã yếu, khó có thể vào TP Hồ Chí Minh để gặp Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân. Gặp để nói trực tiếp với hai con người đặc biệt đó những điều mà tôi nói với anh từ chiều đến bây giờ. Gặp còn để siết tay thật chặt, thật lâu Thanh Xuân và Trần Khuê, hai người trí thức luôn luôn thực hiện tốt sứ mệnh của mình.
Chị Thanh Xuân, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, mong chị thông cảm cho tôi, một người rất yêu di sản Hán – Nôm nhưng hiểu biết rất ít về di sản ấy.
Tôi biết về Trung tâm Nghiên cứu Hán – Nôm của chị quá chậm. Nếu biết sớm, chắc chắn tôi đã góp phần nhỏ bé của mình vào việc đề nghị Nhà nước giúp đỡ Trung tâm nhiều hơn nữa. Mong chị thật sự thông cảm với Nguyễn Đình Thi!
Lại tạm ngừng một lát, uống xong ly trà Đài Loan, người “nghệ sĩ toàn năng” 78 tuổi nói tiếp:
− Nhân đây, tôi muốn ghi nhận: tùy bút về nhà thờ Phát Diệm (trong “Nghiên cứu và tranh luận”) là một bài viết súc tích và giàu “chất thơ”.
Trần Khuê gọi nhà thờ Phát Diệm là “áng thơ liên hoàn đá”, là “thiên thai đá”.
“Thiên thai đá”, đó là danh hiệu độc đáo mà nhà nghiên cứu họ Trần tặng công trình kiến trúc xuất sắc nhà thờ Phát Diệm.
Bài viết về nhà thờ Phát Diệm trong “Nghiên cứu và tranh luận” là một trong những bài hay nhất về nhà thờ đạo Thiên chúa nổi tiếng này.*
Tôi tin rằng, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, khi viết mấy chữ “thiên thai đá”, chắc chắn tác giả Trần Khuê rất nhớ đến nhạc phẩm lừng lẫy Thiên thai (Nhạc: Văn Cao. Lời: Văn Cao và Hoàng Thoại).
Rất tiếc, tôi không được gặp Trần Khuê, Thanh Xuân để hát Thiên thai tặng hai người bạn quý!
Rất buồn, anh Phạm Tường Hạnh đã qua đời! Nhờ anh Hạnh, tôi mới hiểu được những đóng góp đáng kể của Trần Khuê và Thanh Xuân!
Nguyễn Đình Thi từ từ đứng lên.
Không nói gì nữa, người nghệ sĩ tài hoa nhìn tôi bằng đôi mắt đượm vẻ suy tư.
Mấy phút sau, ông gọi nhân viên nhà hàng lên thanh toán. Lúc đó, khoảng 19 giờ.
Ông cùng tôi bước xuống cầu thang, ra cửa chính.
Trên hè, sau khi gọi tắc-xi, Nguyễn Đình Thi bắt tay tôi thật chặt, hẹn gặp nhau tiếp tục vào ngày mai.
Vừa lúc đó, tắc-xi đỗ sát hè. Nguyễn Đình Thi ngồi vào hàng ghế sau, rồi đóng cửa. Giơ bàn tay phải lên cửa xe, ông căn dặn tôi một lần nữa:
– Nhớ nhé! Nhớ nhé! Nhớ kể lại những điều mà tôi vừa tâm sự với anh khi anh có dịp gặp Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân. Nhớ nhé!
TP Hồ Chí Minh, Xuân 2003
Giữa bối cảnh đầy khó khăn ấy, qua thư anh Hạnh, Thanh Xuân (Giám đốc) và Trần Khuê (Trưởng Tiểu ban Hán –Nôm) đã phải “gồng mình” để thực hiện ba cuộc hội thảo nói trên và để giữ cho Trung tâm đứng vững.
Cuối thư, Phạm Tường Hạnh viết đại ý: Thanh Xuân đúng là một nữ lưu trí thức Hà Nội chân chính, vừa có năng lực nghiên cứu, vừa có năng lực tổ chức, vừa có năng lực lãnh đạo, vừa có phong thái lịch thiệp.
Đến đây, Nguyễn Đình Thi lại im lặng, im lặng hồi lâu. Sau đó, nhìn thẳng vào tôi, tác giả “Vỡ bờ” tâm sự tiếp:
– Năm nay, 2002, đã 78 tuổi, sức đã yếu, khó có thể vào TP Hồ Chí Minh để gặp Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân. Gặp để nói trực tiếp với hai con người đặc biệt đó những điều mà tôi nói với anh từ chiều đến bây giờ. Gặp còn để siết tay thật chặt, thật lâu Thanh Xuân và Trần Khuê, hai người trí thức luôn luôn thực hiện tốt sứ mệnh của mình.
Chị Thanh Xuân, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, mong chị thông cảm cho tôi, một người rất yêu di sản Hán – Nôm nhưng hiểu biết rất ít về di sản ấy.
Tôi biết về Trung tâm Nghiên cứu Hán – Nôm của chị quá chậm. Nếu biết sớm, chắc chắn tôi đã góp phần nhỏ bé của mình vào việc đề nghị Nhà nước giúp đỡ Trung tâm nhiều hơn nữa. Mong chị thật sự thông cảm với Nguyễn Đình Thi!
Lại tạm ngừng một lát, uống xong ly trà Đài Loan, người “nghệ sĩ toàn năng” 78 tuổi nói tiếp:
− Nhân đây, tôi muốn ghi nhận: tùy bút về nhà thờ Phát Diệm (trong “Nghiên cứu và tranh luận”) là một bài viết súc tích và giàu “chất thơ”.
Trần Khuê gọi nhà thờ Phát Diệm là “áng thơ liên hoàn đá”, là “thiên thai đá”.
“Thiên thai đá”, đó là danh hiệu độc đáo mà nhà nghiên cứu họ Trần tặng công trình kiến trúc xuất sắc nhà thờ Phát Diệm.
Bài viết về nhà thờ Phát Diệm trong “Nghiên cứu và tranh luận” là một trong những bài hay nhất về nhà thờ đạo Thiên chúa nổi tiếng này.*
Tôi tin rằng, vẫn lời Nguyễn Đình Thi, khi viết mấy chữ “thiên thai đá”, chắc chắn tác giả Trần Khuê rất nhớ đến nhạc phẩm lừng lẫy Thiên thai (Nhạc: Văn Cao. Lời: Văn Cao và Hoàng Thoại).
Rất tiếc, tôi không được gặp Trần Khuê, Thanh Xuân để hát Thiên thai tặng hai người bạn quý!
Rất buồn, anh Phạm Tường Hạnh đã qua đời! Nhờ anh Hạnh, tôi mới hiểu được những đóng góp đáng kể của Trần Khuê và Thanh Xuân!
Nguyễn Đình Thi từ từ đứng lên.
Không nói gì nữa, người nghệ sĩ tài hoa nhìn tôi bằng đôi mắt đượm vẻ suy tư.
Mấy phút sau, ông gọi nhân viên nhà hàng lên thanh toán. Lúc đó, khoảng 19 giờ.
Ông cùng tôi bước xuống cầu thang, ra cửa chính.
Trên hè, sau khi gọi tắc-xi, Nguyễn Đình Thi bắt tay tôi thật chặt, hẹn gặp nhau tiếp tục vào ngày mai.
Vừa lúc đó, tắc-xi đỗ sát hè. Nguyễn Đình Thi ngồi vào hàng ghế sau, rồi đóng cửa. Giơ bàn tay phải lên cửa xe, ông căn dặn tôi một lần nữa:
– Nhớ nhé! Nhớ nhé! Nhớ kể lại những điều mà tôi vừa tâm sự với anh khi anh có dịp gặp Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân. Nhớ nhé!
TP Hồ Chí Minh, Xuân 2003
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét